BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
==========
PHẠM THỊ GIANG THANH
CẢM THỨC XA XỨ TRONG VĂN HỌC
VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
(Qua một số tác phẩm văn xuôi của Phạm Hải
Anh, Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phƣợng, Thuận) Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: T.S Lê Trà My
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ công trình nghiên cứu trong luận văn này
được thực hiện một cách trung thực. Kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
của riêng tôi và chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác.
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Giang Thanh
2.2.3 Cô độc với sự khác biệt của nền văn hóa mới 56
2.3 Hoài vọng 63
2.3.1 Hoài vọng cội rễ. 64
2.3.2 Hoài vọng huyết thống 69
2.3.3 Hoài vọng văn hóa. 75
Chƣơng 3: PHƢƠNG THỨC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CẢM
THỨC XA XỨ 86
3.1 Kết cấu dòng ý thức 86
3.2 Không gian tha hương 97
3.3 Xây dựng kiểu nhân vật di dân 105
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Từ lâu, để có thể tồn tại, con người đã chọn nhiều cách khác nhau.
Trong đó có việc di chuyển từ nơi cư trú này đến nơi cư trú khác. Sự lưu lạc,
càng sâu sắc.
1.3. Phạm Hải Anh, Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phượng, Thuận là những
nhà văn nữ đáng chú ý trong văn học Việt Nam đương đại. Họ đều là những
con người sinh ra trong cái nôi văn hóa của mảnh đất Việt, xa quê hương và
sống ở những miền đất khác nhau, xa quê hương nhưng họ vẫn đau đáu một
niềm hoài cảm nhớ thương và trân trọng đến nơi mình từng gắn bó. Nỗi nhớ
ấy luôn thường trực xuất hiện trong các sáng tác của họ khiến cho những tác
phẩm của những tác giả này tuy mang dấu ấn riêng mỗi người nhưng vẫn gặp
nhau ở cái cảm thức chung đó là
Để hiểu rõ hơn về cảm thức này, qua đề tài “Cảm thức xa xứ trong
văn học Việt Nam đƣơng đại (Qua một số tác phẩm văn xuôi của Phạm
Hải Anh, Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phƣợng, Thuận)” chúng tôi xin cắt
nghĩa và lý giải nó dưới ánh sáng của các lý thuyết về tâm lý học, lý thuyết về
văn học sử, lý thuyết về lí luận văn học, các lý thuyết về mối quan hệ giữa
văn học và văn hóa để từ đó thấy được thấy được cảm thức xa xứ trong văn
học đương đại. Đồng thời góp thêm một góc nhìn về sáng tác của những cây
bút nữ, khẳng định những đóng góp cũng như những giá trị của bộ phận văn
học này trong mối quan hệ với bộ phận văn học sáng tác trong nước.
2. Lịch sử vấn đề
Phạm Hải Anh, Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phượng, Thuận đều là những
cây viết khá sắc sảo trong bộ phận văn học này. Mỗi người lại có một phong
cách viết khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay chưa tài liệu nào nghiên cứu một
cách cụ thể về một cái nhìn khái quát những nhà văn này mà chỉ nghiên cứu
một cách riêng lẻ về một cá nhân. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều
nghiên cứu từng tác giả với các tác phẩm của họ ở phương diện hình thức tác
phẩm như: nhân vật, nghệ thuật trần thuật, kết cấu mà không nghiên cứu về
3
nội dung. Vì vậy cần có một cái nhìn khái quát và đa chiều cho những nhà
văn này.
đó có một số bài đề cập tới cảm thức xa xứ tha hương mà chúng tôi đã góp
nhặt được như sau: Nhật Anh khẳng định “
[68]; Thủy Lê đi vào thế giới nhân vật
[67], Ngọc Lương chỉ ra trong “ một thế giới
“
”[69]. Dương Tường trong bài giới thiệu in trên bìa tiểu thuyết
“Chinatowđã định nghĩa Chinatown “
” cuốn sách đậm đặc những hồi ức
miên man của một phụ nữ Việt Nam trên xứ người. Hoàng Nguyễn nhìn ra
trong kết cấu truyện lồng truyện của tiểu thuyết mặc cảm da vàng
Ch
Hay khi đánh giá về Vân Vy, Báo Tuổi trẻ nhận định đây là sự
trở lại của ám ảnh tha hương “Vân V
”.
Về sáng tác của Đoàn Minh Phượng
Với tiểu thuyết - sáng tác có thể xem là góp phần định
hình phong cách Đoàn Minh Phượng - cảm nhận chung của người đọc là nỗi
cô đơn thăm thẳm đầy bí ẩn trong tác phẩm: “
[72]. “
” Trần Nhã Thụy hướng tới nhân vật trung tâm với
chuyến đi vô định như một cuộc tìm kiếm chính mình đã bị mất “An M
5
6
”.
Cảm thức xa xứ có thể không hiện diện trong đời sống thường nhật của
chúng ta, nhưng luôn luôn ẩn náu đâu đó trong tâm thức và sẽ hiện hình lên
khi có dịp. Bởi vậy dù các công trình nghiên cứu về bộ phận văn học viết về
cảm thức xa xứ tuy chưa có tính hệ thống và liên tục thế nhưng với những tìm
tòi và nghiên cứu của các thế hệ đi trước đã cho chúng tôi những gợi ý để
thực hiện đề tài này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Để triển khai đề tài, chúng tôi tiến hành khảo sát các tác phẩm sau:
- Đoàn Minh Phượng:
+ Và khi tro bụi (tiểu thuyết) - Nxb Trẻ 2006;
+ Mưa ở kiếp sau (tiểu thuyết) - Nxb Văn học
2007
7
- Thuận:
- Lê Minh Hà: + Những giọt trầm (Tập Truyện ngắn) - Nxb
Quân đội nhân dân, 2002. - Phạm Hải Anh: + Sâm cầm (Tập truyện ngắn) – Phạm Hải
Anh, Lê Minh Hà (in chung) – Nxb Phụ
nữ, 2004. 3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tìm hiểu cảm thức xa xứ trong thể loại văn xuôi ở một số nhà
văn nữ đương đại bằng việc vận dụng lý thuyết về Tâm lý học nghệ thuật của
L.X.Vưgôtxki, lý thuyết về lí luận văn học, các kiến thức về văn hóa, văn học
sử để lí giải cũng như tìm hiểu biểu hiện của cảm thức xa xứ dưới góc nhìn đa
9
chiều. Từ đó làm rõ sự kế thừa, sáng tạo cũng như thông điệp nghệ thuật mà
các nhà văn nữ đương đại muốn gửi gắm trong tác phẩm của mình.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
Phƣơng pháp phân tích tổng hợp: Chúng tôi đi tìm hiểu sâu các tác
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về cảm thức xa xứ
Chƣơng 2: Các phương diện biểu hiện của cảm thức xa xứ.
Chƣơng 3: Phương thức nghệ thuật biểu hiện cảm thức xa xứ. 11
NỘI DUNG
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢM THỨC XA XỨ
Cảm thức xa xứ xuất phát từ chính hoàn cảnh sống xa quê hương – một
tâm tư phổ biến của mọi người khi đặt chân tới một miền đất xa lạ. Dù cho họ
nguyện ra đi hay muốn ra đi thì trong suy nghĩ sâu thẳm vẫn là “bị ra đi”, bắt
buộc phải ra đi. Trong Chương 1, chúng tôi xin dùng những lý thuyết về văn
hóa, ngôn ngữ, lý thuyết tâm lý học, văn học sử để có cái nhìn chung nhất
về cảm thức này.
1.1. Cảm thức xa xứ
Theo từ điển Tiếng Việt: xa là cách biệt, chốn, miền, nước
có nghĩa là: cách biệt, rời xa quê hương, tách khỏi thiên nhiên, đồng
loại. Xa xứ là một trong những cách thức tồn tại của con người, vì nhiều lý do
mà người ta sẽ di chuyển tới những miền đất khác nhau. Hoàn cảnh phát sinh
xa xứ xuất phát từ cuộc lưu đày của người Do Thái bắt đầu từ Trước Công
nguyên ở vùng Địa Trung Hải, từ đó khiến con người tin rằng xa xứ là định
mệnh với bất cứ một bộ tộc nào trên trái đất trong con đường tìm cho mình
một cuộc sống đích thực.
Trong tiếng Anh, lại được viết bằng một cụm từ và chứa đựng
nhiều ý nghĩa khác nhau: - expatriate - nghĩa là: biệt xứ, đi ra nước
ngoài, bỏ xứ mà đi hoặc biệt xứ. Hiểu theo khái niệm này vừa có ý
nghĩa tích cực vừa có ý nghĩa tiêu cực, con người xa xứ có thể vì hai lý do: tự
rời xa quê hương của mình tới một xứ sở khác (nước ngoài) hoặc bị buộc phải
chính là hiện sinh của mỗi con người mang một bộ mặt riêng, đặc thù xa lạ
với mọi tính cách phổ quát, nhân vị phải bứt rễ ra khỏi mọi thứ quen thuộc,
mọi thứ phổ biến. Heideger gọi thân phận làm người là một sự ruồng bỏ;
Marcel xem con người như một lữ hành đã hình thành ngay trên quãng đường
phải đi. Trong cuộc sống, con người bị đặt dưới cái nhìn của tha nhân và dưới
cái nhìn ấy con người cũng bị tha hóa Tha hóa cũng là một hệ quả của xa
13
xứ, xa xứ khiến con người rơi vào trạng thái lạc loài, lạc loài với chính mình
khi phải liên tục rời khỏi không gian quen thuộc của cái này để đến một
không gian xa lạ của cái khác.
Tóm lại, xa xứ là chỉ sự cô đơn, lạc lõng từ bản thể, vừa là một trạng
thái tâm lý vừa là một dạng tâm tư của con người khi phải rời xa xứ sở quen
thuộc, gắn bó để đi đến một đất nước xa lạ với sự khác biệt về văn hóa, ngôn
ngữ, với mặc cảm tha hương, mặc cảm thân phận
1.2. Cảm thức xa xứ dƣới nhãn quan tâm lý học
Về phương diện tâm lý học, cảm thức xa xứ chính là loại trạng thái
được xuất hiện bởi chính hoàn cảnh xa xứ của con người - rời bỏ những gì
quen thuộc đi tới một vùng đất xa lạ với những rào cản về ngôn ngữ, văn hóa,
phong tục tập quán. Chính những điều này khiến cho họ rơi vào trạng thái
hoài vọng, những hình ảnh quen thuộc, những kỉ niệm tươi đẹp trong quá khứ
trở đi trở lại ăn sâu vào trong tiềm thức.
Con người phải rời xa quê hương có thể vì hai nguyên nhân: tự nguyện
rời đi hoặc buộc phải rời đi. Vì vậy, có thể quy về hai cơ chế điển hình của
cảm thức xa xứ:
- Tự xa xứ: tức là con người ngay từ xuất phát điểm từ khởi đầu cảm
thấy xa xứ như một định mệnh, không lý giải được.
- Bị xa xứ: là tình trạng được xem xét trong mối quan hệ, tương quan
với hoàn cảnh sống, không gian sống xung quanh. Nó không phụ thuộc vào ý
muốn của con người. Xa xứ do bị cắt rời khỏi không gian thân thuộc cũ đến
. [82]
Tới một vùng đất mới, những người xa xứ sẽ gặp phải những rào cản về
văn hóa, ngôn ngữ, Để có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường
mới, từ đó hòa nhập, gắn bó và đồng điệu với môi trường mới đó, con người
phải có những thay đổi. Với mỗi người lại có một thái độ khác nhau, có người
15
chối bỏ, có người chấp nhận thực tại, có người đôi khi tồn tại cả hai thái độ
trên. Để từ đó, những thân phận người xa xứ lại có những cuộc vượt biên
bằng tinh thần luôn luôn tồn tại nhiều cảm xúc, trong đó có sự nhớ nhung cố
hương, sự nhớ nhung này khiến họ nối được sợi dây liên kết với quê hương,
cộng đồng, gốc rễ. Sự kết nối này đã kết tinh thành thứ cảm xúc của hoài
niệm. Vì vậy, có thể nói cảm xúc và tưởng tượng là ngọn nguồn của nỗi nhớ,
của cảm thức xa xứ.
1.3. Cảm thức xa xứ trong văn học Việt Nam
Cảm thức xa xứ đã có từ rất lâu đời. Đây là loại cảm thức nảy sinh từ
chính hoàn cảnh rời xa quê hương, rời xa mảnh đất mà mình gắn bó. Lịch sử
Việt Nam mang trong lòng nó nhiều biến động. Bởi đất nước chúng ta đã trải
qua rất nhiều cuộc chiến tranh và từng bị đô hộ của đế quốc đã làm đảo lộn
nhiều giá trị, gây ra những cuộc chia lìa, và cảm giác đau đớn chia lìa luôn
luôn thường trực trong lòng người Việt Nam. Tuy nhiên do điều kiện từng
giai đoạn lịch sử khác nhau nên văn học cũng khác nhau và cảm thức xa xứ cũng
biểu hiện ở mức độ đậm nhạt khác nhau. Dưới đây, chúng tôi sẽ chỉ ra những
biểu hiện của cảm thức xa xứ trong văn học Việt Nam qua từng giai đoạn.
1.3.1. Cảm thức xa xứ trong văn học dân gian
Cảm thức xa xứ đã có từ rất lâu đời. Nó là cảm giác xa quê hương,
sống lưu lạc ở xứ người – Trung Hoa. Tác phẩm là nỗi thổn thức tự đáy lòng
của một người con xa xứ, là tiếng vọng về Tổ quốc của một trái tim không lúc
nào nguôi nỗi nhớ quê hương. Ông đã gửi gắm hồn mình vào giấc mộng Nam
ông, nỗi khắc khoải bơ vơ nơi đất khách quê người thấp thoáng sau những câu
chuyện về cố hương, ngợi ca những .
Còn Nguyễn Du, không lưu lạc xứ người nhưng ông lại có những lần đi
sứ Trung Quốc. Đứng trên quê người, dường như mọi mối liên hệ đều đứt rời,
không có gì an ủi. Trong ông viết:
17
bình an hay không)
Hay trong “Quá Thiên Bình”:
quê nhà
Đây chính là mặc cảm của một khách tha hương, nó còn lớn hơn cả
niềm tự hào của một con người đại diện cho đất nước. Và chỉ những âm thanh
nhỏ bé của cuộc sống hiện thực cũng đủ nhắc ông nhớ đến cảnh ngộ của
mình. Hơn nữa, trong cuộc đời của Nguyễn Du, ông đã phải trải qua rất nhiều
đau khổ, lăn lộn với cuộc đời, lúc nào cũng ám ảnh và sống trong tâm thế của
một kẻ lữ hành trên đường đời vô định. Ông đã bày tỏ trực tiếp về thân phận
lưu lạc của mình. 10 năm gió bụi thi nhân luôn dằn vặt bản thân:
Tây D
19
).
Bài thơ ành được sáng tác trong lần Cao Bá Quát phạm
tội. Sau khi được định tội, triều đình tạm tha cho ông và cho đi xuất dương
lấy công chuộc tội, đi sứ sang Tây Phương, chứng kiến sự khác biệt văn hóa
đặc biệt là tình cảm vợ chồng ân ái, nồng đậm ông thấy mình cô độc, phải
sống trong cảnh biệt li. Và ông luôn luôn hoài vọng về những phong tục tập
quán của quê mình và nó càng tha thiết hơn khi ông chứng kiến sự trái ngược
về văn hóa và các mối quan hệ xã hội.
Tiếp theo là giai đoạn văn học hiện đại. Giai đoạn văn học hiện đại
được đánh dấu bằng chặng đường từ những năm đầu thế kỉ XX đến nay.
Trong giai đoạn này xã hội Việt Nam trải qua rất nhiều biến cố lịch sử: bị
Thực dân Pháp đô hộ, Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến chống
Pháp, Mĩ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Văn học cũng theo đó chia thành
nhiều giai đoạn khác nhau có thể kể ra ở đây: văn học Việt Nam đầu thế kỉ
XX đến 1945, văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975, văn học Việt Nam từ
1975 đến nay. Mỗi giai đoạn với những đội ngũ sáng tác văn học khác nhau,
xứ. Nhà thơ tự họa mình trong cảnh lưu đày, tha hương như một định mệnh:
. Cung bậc cảm xúc, tâm trạng xa xứ được
nối tiếp không ngừng, nó hình thành, diễn ra trong một quá trình. Khi chia li,
lên đường thì lẻ loi, đơn chiếc: Chân
(Những bóng người trên sân ga). Khi hành trình kết thúc
đến quê người thì xuất hiện cảm giác bơ vơ
(Lá thư về
Bắc). Lưu lại quê người khi thời gian đã đủ trải nghiệm lòng mình thì nhận ra
toàn vênh lệch, không thể hòa hợp, không có gì để gắn bó, chỉ thấy vô tình,
tạm bợ nơi đất khách. Xứ mình – xứ người đã trở thành một khoảng cách rất
xa đo bằng nỗi cô đơn không gì bù đắp nổi: