1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ THU HIỀN
NHÂN VẬT LÝ TƢỞNG TRONG VĂN HỌC LÃNG MẠN
(KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA V.HUGO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Lý luận Văn học
Hà nội – 2014 3 LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng
như các thầy cô trong khoa văn học đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt luận
văn này!
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS. Nguyễn Văn Nam, thầy đã
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình làm luận văn để tôi có được
kết quả như ngày hôm nay!
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn động viên, ủng hộ tôi trong quá
trình học tập cũng như làm luận văn!
5
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
1. Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined.
2. Lịch sử vấn đề Error! Bookmark not defined.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
4. Mục đích nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
5. Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
6. Cấu trúc luận văn Error! Bookmark not defined.
Chương 1: Chủ nghĩa lãng mạn và quan niệm về nhân vật lý tưởng Error!
Bookmark not defined.
1.1. Về chủ nghĩa lãng mạn Error! Bookmark not defined.
1.1.1 Nguồn gốc hình thành và phát triển của chủ nghĩa lãng mạn Error!
Bookmark not defined.
1.1.2. Nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa lãng mạn Error! Bookmark not
defined.
1.1.3. Đặc trưng thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn Error! Bookmark not
defined.
1.2. Nhân vật lý tưởng trong văn học và trong nghệ thuật lãng mạn. Error!
Bookmark not defined.
1.2.1. Nhân vật lý tưởng trong văn học Error! Bookmark not defined.
1.2.2. Nhân vật lý tưởng – khát vọng về những nhân cách đẹp hoàn thiện
trong nghệ thuật lãng mạn. Error! Bookmark not defined.
1.3. Sáng tác của V.Hugo – một đại diện tiêu biểu của văn chương lãng mạn
Error! Bookmark not defined.
1.3.1. V.Hugo – hiện thân của chủ nghĩa lãng mạn Error! Bookmark not
defined.
1.3.2. Quan niệm của V.Hugo về nhân vật lý tưởng Error! Bookmark not
defined.
Tiểu kết Error! Bookmark not defined.
defined.
Tiểu kết Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu văn học ra đời ở Phương Tây thế kỉ
XIX, cho đến nay đã gần hai thế kỉ trôi qua song những tác giả, tác phẩm của
đóng góp có ý nghĩa lớn lao của trào lưu văn học lãng mạn cũng như cây đại thụ
của nó – đại thi hào Victor Hugo trong dòng văn học chung của nhân loại.
2. Lịch sử vấn đề
Chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu và là một phương pháp sáng tác có vị
trí quan trọng trong tiến trình văn học. V.Hugo xuất hiện giữa trào lưu văn học
này như một ngôi sao mọc sớm và lặn rất muộn. Chủ nghĩa lãng mạn ra đời với
đỉnh cao là V.Hugo đã tạo nên một luồng sinh khí mới, thổi một cơn gió mới đến
9
nền văn học của nhân loại. Chính vì thế, nghiên cứu về chủ nghĩa lãng mạn và
văn hào V.Hugo đã có nhiều, đó là một đề tài lớn trong văn học. Có thể kể tên
một số công trình nổi tiếng như:
“Văn học lãng mạn và văn học hiện thực phương Tây” của tác giả Lê
Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp,1985.
Victor Hugo – Một tâm hồn cao cả” của tác giả Nguyễn Hạnh, Trần Thị
Thanh Nguyên,NXB Tuổi trẻ, 1990.
“Victo Hugo” của tác giả Phùng Văn Tửu, NXB Giáo dục, 1997.
Đây là những công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về chủ
nghĩa lãng mạn cũng như toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Victor Hugo. Về
V.Hugo số lượng các công trình nghiên cứu khá lớn. Riêng về vấn đề nhân vật,
cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu đi vào tìm hiểu cụ thể những loại hình
nhân vật khác nhau trong tiểu thuyết lãng mạn của V.Hugo. Trước hết phải nhắc
đến Đặng Thị Hạnh, người đã từ rất sớm nghiên cứu và hướng dẫn sinh viên
nghiên cứu về nhân vật trong tác phẩm của V.Hugo tại trường Đại học Tổng
hợp, nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đó là khóa luận tốt nghiệp
năm 1977 của Nguyễn Đình Hợi với đề tài “Hình tượng người chiến sĩ cộng hòa
trong sáng tác của V.Hugo” và khóa luận tốt nghiệp đại học năm 1978 của Trần
Thị Minh Châu với đề tài “Nhân vật nổi loạn trong các tác phẩm của Bairơn và
V.Hugo”.
Có thể nói rằng, vấn đề nhân vật luôn là mối quan tâm hàng đầu của người
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
11
3.1. Đối tượng nghiên cứu: “Nhân vật lý tưởng trong văn học lãng mạn
(Khảo sát qua các tác phẩm của Victor Hugo)”.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Văn học lãng mạn phát triển rất rực rỡ, để lại
nhiều tác phẩm có giá trị. Song do hạn chế về thời gian và khả năng cá nhân,
luận văn này chúng tôi chỉ đi vào khảo sát hình tượng nhân vật lý tưởng trong
văn học lãng mạn chủ yếu qua ba tiểu thuyết lớn đã được dịch của Victor Hugo,
đó là: Nhà thờ đức bà Paris, Những người khốn khổ và Chín mươi ba.
4. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi mong muốn hoàn thành một số mục
tiêu sau:
- Luận văn cung cấp những kiến thức về chủ nghĩa lãng mạn, mang đến
một cái nhìn toàn diện về trào lưu văn học này.
- Mặt khác, luận văn mong muốn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về vẻ
đẹp của hình tượng nhân vật lý tưởng trong văn học lãng mạn cũng như những
thông điệp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà hình tượng nhân vật này gửi gắm.
- Thông qua luận văn này, chúng tôi muốn một lần nữa khẳng định những
giá trị to lớn mà trào lưu văn học lãng mạn cùng với đại diện tiêu biểu của nó là
Victor Hugo đạt được. Đồng thời, hiểu được vì sao văn học lãng mạn và V.Hugo
luôn được giới nghiên cứu, phê bình cũng như bạn đọc đón nhận.
- Luận văn cũng làm sáng tỏ những giá trị nghệ thuật của văn học lãng
mạn trong việc xây dựng thành công nhân vật lý tưởng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
12
tượng tạo ra. Cũng chính vì thế mà văn chương lãng mạn, một nền văn chương
khác với tất cả những gì đã có trước đó trong nghệ thuật, ở đó trí tưởng tượng
bay bổng chiếm vị trí lớn chưa từng có, được gọi là Romantisme.
Có cách định nghĩa chủ nghĩa lãng mạn theo kiểu phủ định: chủ nghĩa lãng
mạn là sự loại trừ luật tam duy nhất trong kịch và nói chung là sự xuất hiện của
một hệ thống những nguyên tắc thẩm mỹ đối lập với chủ nghĩa cổ điển.
Có cách định nghĩa chủ nghĩa lãng mạn theo kiểu tổng hợp: chủ nghĩa
lãng mạn là sự phá bỏ hàng rào ngăn cách, là sự trộn lẫn các phạm trù mỹ học
với nhau, các thể loại với nhau.
Có cách định nghĩa chủ nghĩa lãng mạn theo thể loại: chủ nghĩa lãng mạn
là sự thống trị của thể loại tâm tình.
Cũng giống như V.Hugo, Vêxêlốpxki, một nhà nghiên cứu văn học nổi
tiếng ở Nga thế kỷ XIX cho rằng nghệ thuật lãng mạn chính là chủ nghĩa tự do
trong văn học. Bằng cách nói này, ông muốn nhấn mạnh đến khát vọng của cá
nhân con người thời đại lãng mạn muốn vượt thoát khỏi những ràng buộc của
các giáo điều, công thức văn học đã lỗi thời và hướng đến những gì là tự do,
phóng khoáng hơn. Nhiều nhà nghiên cứu trong các thời đại khác nhau có nói
đến chủ nghĩa lãng mạn với các dấu hiệu nổi bật như sự đề cao chủ nghĩa cá
nhân, sự khước từ lệ thuộc vào thực tại, sự ưu tiên cho ước mơ, mộng tưởng, sự
ca tụng đời sống tình cảm và xưng tụng con người cá thể Những người khác lại
gắn nghệ thuật lãng mạn với thời đại quá độ trong tất cả những tác động và hệ
14
lụy đặc biệt của nó; hay với một tâm thế điển hình của người nghệ sỹ lãng mạn
là nhiệt tình đề cao tuyệt đối cái lý tưởng đi kèm với ý thức sáng rõ về tình trạng
không có khả năng hiện thực hóa cái lý tưởng trong thực tế và từ đó xuất hiện
tâm trạng nhức nhối, căng thẳng cực độ về cái bản chất lưỡng kép đó của thực
tại Chính V.Hugo cũng có những thay đổi trong cách nhấn mạnh đến trọng tâm
của quan niệm về chủ nghĩa lãng mạn. Lúc đầu, ông cho bản chất của chủ nghĩa
lãng mạn là ở sự pha trộn giữa các phạm trù thẩm mỹ với nhau ( đẹp – xấu, bi –
sắc đến tư tưởng tình cảm của mọi tầng lớp trong xã hội.
Sự hình thành của chủ nghĩa lãng mạn có quan hệ mật thiết với tư tưởng
triết học ở châu Âu đương thời. Triết học duy tâm cổ điển Đức bản thân nó chính
là phong trào lãng mạn trong lĩnh vực triết học. Đại biểu của chủ nghĩa duy tâm
chủ quan Kant, Johann Fichte đưa tâm hồn con người lên địa vị chủ đạo trong
sáng tạo thế giới khách quan, nhấn mạnh thiên tài, tình cảm, tính năng động chủ
quan; đại biểu của chủ nghĩa duy tâm khách quan Schelling, Hegel đề cao vị trí
của tinh thần khách quan trong việc phái sinh thế giới vật chất, đưa con người
đến đỉnh cao của sự phát triển tinh thần, cho rằng con người không chỉ cho mình
mà còn vì mình, trên ý nghĩa cho mình, vì mình, nhân tài mới là tuyệt đối, tự do,
vô hạn. Những điều này đề cao sự tôn nghiêm của con người, thức tỉnh dân tộc,
thúc đẩy ước muốn, khao khát độc lập tự do, cung cấp cơ sở lí luận cho chủ
nghĩa lãng mạn trong văn học.
Mặt khác, sự hình thành của chủ nghĩa lãng mạn cũng có cội nguồn từ
kinh nghiệm lịch sử và đấu tranh trong bản thân văn học. Văn học cảm thương
16
chủ nghĩa Anh thế kỉ 18, yêu cầu giải phóng cá tính, chủ trương tự do tình cảm,
quay trở lại tự nhiên thuần phác của Rousseau, nhấn mạnh cá tính, sắc thái tình
cảm mãnh liệt trong phong trào cách tân với đại biểu là Goethe, nghiên cứu về
tính bi kịch, ngợi ca, vẻ đẹp đăng đối của Kant, Schiele; sự thưởng thức nghệ
thuật bắt đầu bằng việc đặt nghệ thuật trong dòng phát triển lịch sử của Herder,
Hegel… tất cả đã kích hoạt tư tưởng của con người, làm cho cảm nhận, lí giải
của con người đối với nghệ thuật trở nên sâu sắc hơn, từ đó yêu cầu nghệ thuật
biểu hiện tinh thần vĩ đại và tư tưởng tình cảm một cách sâu sắc…Tất cả những
điều này đều có vai trò quan trọng đối với sự hình thành chủ nghĩa lãng mạn.
Chủ nghĩa lãng mạn chia làm hai khuynh hướng: chủ nghĩa lãng mạn tiêu
cực và chủ nghĩa lãng mạn tích cực.
Trước hết, chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực là sự phản ánh ý thức hệ của giai
cấp bị Cách mạng tư sản tước đoạt quyền lợi và đẩy ra khỏi đời sống chính trị.
víu vào đâu. Thành công của cuộc cách mạng tư sản mang lại ánh sáng mới cho
con người, nhưng kéo theo đó là cuộc sống thực dụng, đồng tiền là trên hết, tình
người nhạt nhòa. Nghệ sĩ là những người có trái tim nhạy cảm, họ không thể
chấp nhận được cuộc sống ấy, vì vậy họ quay lưng lại với thực tại. Và mỗi nghệ
sĩ lãng mạn có cách chối bỏ, phản kháng thực tại theo cách riêng của mình.
Người thì tìm về với quá khứ, nâng niu trân trọng những giá trị của một thời, kẻ
thì đắm chìm trong cuộc sống tiên cảnh, người lại mải miết đi tìm những điều
18
phi thường, khác lạ ngay trong chính thực tại để mong muốn cải tạo xã hội. Đó
chính là những khát vọng của chủ nghĩa lãng mạn, hướng đến cái đẹp, cái cao cả,
là sự phản ứng lại trước chiến thắng của lối sống thực dụng trong cuộc sống lúc
bấy giờ sau cách mạng tư sản. Chính bởi thế mà hình tượng nhân vật lý tưởng
xuất hiện chói lọi, là nơi nghệ thuật lãng mạn kí thác ký thác nhiều nhất những
khát khao hướng thiện, nơi kết tinh, hội tụ đầy đủ những hình dung tốt đẹp nhất
dù có phần không tưởng của nghệ sĩ lãng mạn về nhân loại.
Tự do bay lượn trong nghệ thuật là một trong những nguyên tắc quan
trọng của chủ nghĩa lãng mạn. Tách mình ra khỏi cảnh đời thực, chủ trương nghệ
thuật chỉ vị nghệ thuật, nên nghệ thuật lãng mạn chọn hình thức làm cứu cánh
của mình. Vấn đề tự do cá nhân, tự do sáng tác là vấn đề bậc nhất của họ. Họ từ
chối đơn đặt hàng của xã hội, chỉ nhận đơn đặt hàng của trái tim. Đồng thời,
chủ nghĩa lãng mạn thể hiện tâm thế của con người được giải phóng ra khỏi chế
độ phong kiến, trở thành một chủ thể của xã hội mới, trở thành con người cá
nhân tồn tại với biên độ tự do rộng rãi hơn hẳn so với quá khứ phong kiến. Chủ
nghĩa lãng mạn tự khẳng định với những chủ đề mới lạ mà chủ nghĩa cổ điển,
vốn thường đặt mình trong khuôn khổ lý trí, không đề cập đến. Đó là sự nổi trội
vượt bậc của tình cảm, cảm tính và sự tưởng tượng. Chủ nghĩa lãng mạn đề cao
thế giới nội tâm của con người, thể hiện những khuynh hướng tự do cá nhân. Họ
đã miêu tả những yếu tố khác thường của thế giới tình cảm và yếu tố trữ tình
trong nghệ thuật. Các chủ đề về tình yêu, nỗi cô đơn, nỗi buồn, những lý tưởng
trữ tình yêu thiên nhiên như một phương thức giải thoát, thư giãn, phản ứng với
20
hiện thực xã hội ngột ngạt bon chen. Văn học lãng mạn vẫn có chú ý ít nhiều đến
hiện thực đau khổ của người lao động. Nghệ thuật xây dựng nhân vật chưa chú ý
xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, nó là cá nhân dị biệt,
ngẫu nhiên, bất chấp sự vận động của hoàn cảnh khách quan. Đặc biệt, chủ nghĩa
lãng mạn chú trọng xây dựng hình tượng nhân vật lý tưởng đầy cao cả và đầy
tính phi thường cũng như có phần không tưởng của người nghệ sĩ lãng mạn
mong muốn về nhân loại. Do đó, tính nhân đạo tràn ngập các tác phẩm lãng mạn.
Nhìn một cách tổng quát, đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn được thể
hiện rõ nét qua một số phương diện chủ yếu. Trước hết, về đề tài, chủ nghĩa lãng
mạn tích cực với chủ tướng là Victor Hugo đã chủ trương mở rộng đề tài. Không
phân biệt đề tài cao cả hay thấp hèn. Nếu trong chủ nghĩa cổ điển đề tài là cảnh
sống giàu có, hành động đấu tranh cho lý tưởng cao cả của những ông hoàng bà
chúa, hầu như không đề cập đế những khía cạnh đời sống của những tầng lớp
dưới những người bình dân thì ở chủ nghĩa lãng mạn mọi vấn đề của cuộc sống,
mọi tầng lớp trong xã hội đều ngang nhau trở thành đề tài cho văn học nghệ
thuật. Các chủ đề về tình yêu, nỗi cô đơn, nỗi buồn, những lý tưởng không đạt
được…được sử dụng rộng rãi trong nghệ thuật lãng mạn. Những đề tài quan
trọng và quen thuộc của văn học lãng mạn bắt nguồn từ cảm thức về thời đại, về
lịch sử, về thân phận con người. Trong đó, con người thất vọng, bàng hoàng
trước những cơn lốc lịch sử, trước sự trôi chảy của dòng đời, về định mệnh, về
tôn giáo… Vậy nên các nhà văn lãng mạn thường hoài niệm quá khứ. Điều này
gợi nhớ, đúng như bản chất của chủ nghĩa lãng mạn, là cần tôn vinh những gì
không thể trở lại, cần ưu ái những gì không thể thấu hiểu Do đó, sự cô đơn của
những tâm hồn lãng mạn thất vọng trước thời cuộc là một đề tài được nhiều nhà
văn nói đến. Cũng vì thế mà chủ nghĩa lãng mạn luôn đề cao cái tôi tràn đầy tình
21
Bên cạnh đó, kịch cũng là thể loại được sử dụng trong văn học lãng mạn.
Đó là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp bao gồm các yếu tố văn học, âm nhạc, vũ
đạo… hội hoạ và điêu khắc. Kịch thường được chia chia ra hai loại chính: Bi
kịch (tragedy) và hài kịch (comedy).
Thể loại được sử dụng nhiều nhất trong chủ nghĩa lãng mạn là thiểu
thuyết. Tiểu thuyết là một loại hình tự sự, tiểu thuyết lãng mạn cũng tuân thủ
những đặc thù của tiểu thuyết nói chung, nhưng do văn chương lãng mạn có
khuynh hướng nghiêng về diễn tả thế giới của khát vọng chủ quan, nên về thi
pháp, chủ nghĩa lãng mạn cũng có những nét đặc thù riêng: đó là chất trữ tình tha
thiết, là thế giới nội tâm được khai thác một cách tinh vi, là thế giới thiên nhiên
thơ mộng, là tình yêu lứa đôi muôn màu, muôn vẻ. Tiểu thuyết lãng mạn do đó
giàu chất thơ, đầy hấp dẫn, làm say đắm lòng người. Đồng thời, nó kết hợp nhiều
hình thức thể hiện đa dạng khác nhau: kể và tả, triết lí và bình luận, đối thoại và
độc thoại nội tâm. Đặc biệt, hình thức độc thoại nội tâm được sử dụng rộng rãi
và đạt hiệu quả cao trong khả năng diễn tả thế giới tâm hồn. Nó có khả năng đi
sâu kích thích những rung động thẩm mỹ sâu xa trong lòng người đọc. Với tiểu
thuyết lãng mạn, yếu tố truyện đã không còn giữ vai trò trung tâm như tiểu
thuyết cổ điển truyền thống, thay vào đó là yếu tố xây dựng nhân vật, nhất là xây
dựng tâm lý nhân vật. Tuy nhiên, tiểu thuyết lãng mạn chưa quan tâm đến những
chi tiết chân thật của đời sống, những cảnh ngộ đời thường. Các tiểu thuyết lãng
mạn có khuynh hướng xây dựng những nhân vật ở trong những cảnh ngộ phi
23
thường, siêu phàm, để trên đó, nhân vật bộc lộ những tính cách phi thường, trác
tuyệt.
Về nhân vật có thể thấy rõ nhân vật lãng mạn chính là cái tôi cá nhân tràn
đầy tình cảm, cảm xúc. Chủ nghĩa lãng mạn đề cao cái tôi cá nhân trong phương
thức nhận thức và thể hiện cuộc sống bằng hình tượng; lấy cái chủ quan để thay
thế hoặc lấn át cái khách quan, lấy mộng tưởng thay thế cho thực tế, lấy cái ngẫu
nhiên, cá biệt thay cho qui luật. Cái tôi được các nhà lãng mạn phân tích ở khía
phàm, trác tuyệt trở thành một hệ thống thi pháp được chủ nghĩa lãng mạn xem
như nguyên tắc trong sáng tạo nghệ thuật. Chủ nghĩa lãng mạn quan niệm: Cái
bình thường là cái chết của nghệ thuật.
Bên cạnh đó, độc thoại nội tâm cũng là thủ pháp nghệ thuật đặc trưng mà
Chủ nghĩa lãng mạn sử dụng để xây dựng nên những nhân vật lý tưởng. Nhân
vật trong văn chương lãng mạn được mô tả nội tâm dày dặn, đa dạng với cường
độ cảm xúc mãnh liệt. Mặt khác, ngôn từ của nghệ thuật lãng mạn là những từ
ngữ giàu tính biểu cảm, tràn đầy cảm xúc, đó là những ngôn từ mỹ lệ với một
giọng điệu trang trọng, hùng biện.
Có thể nói, chủ nghĩa lãng mạn ra đời là cuộc cách tân không chỉ về nội
dung mà cả nghệ thuật. Qua nghệ thuật lãng mạn này, nhà văn muốn nói lên khát
vọng hướng đến cái cao cả, cái đẹp, chống đối lại cuộc sống tư sản tầm thường
như là giấc mơ đầy kiêu hãnh nhưng cũng là ảo tưởng của người nghệ sĩ về con
người, cuộc sống đương thời.
1.2. Nhân vật lý tƣởng trong văn học và trong nghệ thuật lãng mạn.
25
1.2.1. Nhân vật lý tưởng trong văn học
Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi đó chính là phương tiện, là công cụ
để nhà văn phản ánh cuộc sống và gửi gắm tư tưởng, quan niệm của mình.
Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên, thì “nhân vật
có nghĩa là vai trong tác phẩm văn học” [11, 914].
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học, nhân vật là “đối
tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học,
nghệ thuật.” [6, 916]
Henri Bénac trong cuốn “Dẫn giải ý tưởng cho văn chương” cho rằng
khái niệm nhân vật được hiểu là một người được hư cấu tưởng tượng trong một
tác phẩm văn học, một tác phẩm điện ảnh hay sân khấu. Nhân vật là tấm gương
cho phép người ta hiểu rõ hơn những quy luật của tâm hồn con người. Đôi khi
nhân vật giúp cho người đọc hiểu được những quy ước của một thời đại, thậm