Khảo sát phương thức trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán) qua một số tác phẩm văn học - Pdf 26



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Lý Doanh Doanh Khảo sát phương thức trực tiếp biểu hiện hành động cầu
khiến trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Hán) qua một số tác
phẩm văn học

Luận văn thạc sĩ: Ngôn ngữ học

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201
Luận văn thạc sĩ: Ngôn ngữ học Người hướng dẫn: PGS.TS Đào Thanh Lan
Hà Nội - 2009
1
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài………………………………………….………… 5
2. Ý nghĩa của đề tài……………………………………………….…… 5
3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………… 6
4. Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu………………… 6
5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………… 6

PHẦN NỘI DUNG

2.3 Tiểu kết…………………………………………………………. 42
Chương 3. Phương tiện nguyên cấp trực tiếp biểu hiện hành động
cầu khiến trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán)
3.1 Phương tiện nguyên cấp………………………………… ……44
3.1.1 Nhóm vị từ tình thái cầu khiến “hãy, đừng/chớ”………… …44
3.1.2 Nhóm tiểu từ tình thái cầu khiến cuối câu………………… 50
3.1.2.1 Nhóm 1: đi, với, xem…………………………………… …51
3.1.2.2 Nhóm 2: đã, thôi…………………………………………. .56
3.1.2.3 Nhóm 3: nào, nhé………………………………………… .59
3.1.2.4 Tiểu từ ngữ khí cuối câu cầu khiến trong tiếng Hán…… …62
3.2 Phương tiện bán nguyên cấp…………………………………. 63
3.2.1 Nhóm động từ tình thái cầu khiến: nên, cần, phải…………. .64
3.2.2 Động từ để………………………………………………… 71
3.2.3 Động từ giúp, hộ, cho……………………………………… .73
3.2 Tiểu kết……………………………………………………… …76

3
PHẦN KẾT LUẬN………………………………………………… …78
Danh mục tài liệu tham khảo
Danh mục sách làm tư liệu
Phụ lục

4
QUY ƯỚC GHI TẮT - D1, D2, D3: Danh từ hoặc đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai,

Về mặt thực tiễn, việc dạy tiếng Việt hoặc tiếng Hán như một ngoại ngữ
ở các trường đại học chỉ ở bình diện giao tiếp, chứ đi vào lý luận rất ít. Sinh
viên trong khi học và sử dụng câu cầu khiến tiếng Việt và tiếng Hán, vì chưa
có kiến thức vững chắc về lý thuyết nên thường bị sai và không hiểu rõ được
chỗ sai, nên khó sửa. Việc nghiên cứu phương thức trực tiếp biểu hiện hành
động cầu khiến tiếng Việt (liên hệ với tiếng Hán) này có thể đóng góp cho
lĩnh vực dạy và học hai ngôn ngữ này, để học sinh có thể nắm được sự khác
biệt và những đặc điểm của câu cầu khiến ở hai ngôn ngữ, giúp cho việc sự
dụng tốt hai ngôn ngữ này.

6
3. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn này chủ yếu nghiên cứu về câu cầu khiến tiếng Việt, nhất là
phương thức trực tiếp biểu hiện hành động cầu khiến, và liên hệ với câu cầu
khiến tiếng Hán, để khảo sát sự giống nhau và khác nhau của nó ở hai ngôn ngữ.
4. Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Câu cầu khiến là một kiểu câu được phân loại dựa vào mục đích phát
ngôn (mục đích nói) chứ không thuần túy chỉ dựa vào cấu trúc như hướng
phân loại câu theo cấu trúc. Nói chính xác hơn thì tên gọi câu cầu khiến là kết
quả phân loại theo hướng cấu trúc – chức năng. Do vậy nó phải được nghiên
cứu theo quan điểm và phương pháp của ngữ pháp chức năng. Tức là xuất
phát từ mục đích giao tiếp để tìm ra phương tiện hình thức thể hiện các chức
năng nghĩa học và dụng học của câu cầu khiến. Qúa trình nghiên cứu phải đi
từ mục đích đến phương tiện, từ trong ra ngoài, từ nội dung ý nghĩa được thể
hiện đến phương tiện ngôn ngữ thể hiện nó. Nói cách khác là phải nghiên cứu
câu cầu khiến trong mối quan hệ gắn bó với ngữ cảnh.
Nhiệm vụ của luận văn này là trên cơ sở kế thừa những kết quả đã có
được của những nhà nghiên cứu và công trình nghiên cứu trước, chúng tôi sẽ
bước đầu miêu tả đặc điểm của câu cầu khiến trong tiếng Việt và liên hệ với
tiếng Hán trên tư liệu một số tác phẩm văn học nhằm làm rõ đặc điểm của

hành động “khuyên”. Nội dung những phát ngôn trên không thể nói rằng nó
đúng hay sai sự thật như khi nói về một câu trần thuật bình thường, đó là những
phát ngôn chứa động từ ngôn hành, khi nói ra cũng là thực hiện hành động.
Austin cho rằng, mọi phát ngôn đều là phát ngôn ngôn hành, nhờ hiệu
lực ngôn trung của chúng để thực hiện hành động nào đó. Dù là những phát
ngôn thể hiện phán đoán, miêu tả như câu trần thuật thì về bản chất chúng
cũng là một loại phát ngôn ngôn hành không có động từ ngôn hành.
Austin còn phân chia phát ngôn ngôn hành thành 2 loại: phát ngôn ngôn

8
hành tường minh (câu ngôn hành tường minh) và phát ngôn ngôn hành
nguyên cấp (câu ngôn hành nguyên cấp).
Phát ngôn ngôn hành tường minh là phát ngôn chứa động từ ngôn hành
dùng để thực hiện hành động khi nói ra nó.
Ngoài phát ngôn chứa động từ ngôn hành ra còn có những phát ngôn
ngôn hành nguyên cấp. Phát ngôn ngôn hành nguyên cấp được thể hiện thông
qua những dấu hiệu hình thức đặc trưng mang tính chuyên dụng. Một phát
ngôn ngôn hành nguyên cấp trong các tình huống giao tiếp khác nhau có thể
được hiểu theo ý nghĩa khác nhau.
Khi chúng ta phát ngôn ra một câu nói cũng là khi chúng ta thực hiện
hành động tạo lời, hành động tại lời và hành động mượn lời, ba hành động
cùng một lúc.
Hành động tạo lời là các chất liệu ngôn ngữ như đơn vị từ ngữ, cấu trúc
ngữ pháp, cách phát âm được người nói lựa chọn sử dụng trong câu nói. Đó là
phần nghĩa biểu thị thực tại khách quan trong câu.
Hành động tại lời là hành động được thực hiện ngay trong khi nói, là
hành động ngôn từ thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của câu. Hành động
tại lời cũng gọi là hành động ngôn trung của câu, nó tạo nên giá trị ngôn trung
của câu.
Hành động mượn lời là hành động thông qua phương tiện ngôn ngữ tác

vắng mặt.
b. Vị từ phải được dùng ở thời hiện tại và được chỉ định trong mệnh đề
chính của câu.
c. Có bổ ngữ chỉ đối tượng tiếp nhận hành động ngôn hành và đối tượng
đó thường là ngôi thứ hai.

10
1.2 Hành động cầu khiến
1.2.1 Định nghĩa hành động cầu khiến
Hành động cầu khiến là hành động mà người nói bay tỏ để yêu cầu người
nghe thực hiện một hành động nào đó trong tương lai. Hành động cầu khiến là
khái niệm tổng quát bao gồm các hành động có ý nghĩa “cầu” và các hành
động có ý nghĩa “khiến” nói chung. Hành động cầu khiến là hành động tại lời
có giá trị ngôn trung biểu thị mục đích giao tiếp làm nên ý nghĩa cầu khiến
của phát ngôn, có thể chia thành các tiểu loại theo lực ngôn trung tức là mức
độ cầu khiến như: mệnh lệnh, cho phép, đề nghị, yêu cầu, thỉnh cầu, cầu xin
v.v…, trong khi đó, cũng có hành động cầu khiến thực hiện dưới hình thức
nghi vấn gọi là cầu khiến gián tiếp.
Về khái niệm hành động cầu khiến, luận văn này quan niệm hành động
cầu khiến là hành động ngôn từ mà người nói yêu cầu người nghe thực hiện
một hành động nào đó. Năm 1979, Searle đã nêu ra 4 điều kiện của hành động
cầu khiến:
Điều kiện
Hành động cầu khiến
Nội dung mệnh đề
Người đề xuất (tức người nói) dự kiến người tiếp nhận
sẽ thực hiện hành động A
Điều kiện thiết yếu
Người tiếp nhận có khả năng thực hiện hành động A
Điều kiện chủ yếu

phân chia của các nhà nghiên cứu thì chủ yếu có hai quan điểm chính: căn cứ
vào ý nghĩa cầu khiến và căn cứ vào hình thức cầu khiến để phân loại.
1) Căn cứ vào ý nghĩa cầu khiến phân loại hành động cầu khiến.
Căn cứ vào ý nghĩa cầu khiến để phân loại hành động cầu khiến, thường
xem xét đến 3 nhân tố sau đây:
1. Sự chênh lệnh về vị thế xã hội của người đề xuất với người tiếp nhận.
2. Sự khác biệt về lợi ích của người tiếp nhận thực hiện hành động A.
3. Sự khác biệt về cường độ yêu cầu của người đề xuất.

12
Trước hết, nhân tố 1 là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất trong 3 nhân tố
này, nó không chỉ ảnh hưởng đến việc phân chia hành động cầu khiến, nó còn
ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp bình thường. Ví dụ
như “yêu cầu người tiếp nhận giao bai cho mình”, hai người giáo viên và học
sinh có sự khác nhau lớn về địa vị xã hội thì sẽ nói bằng câu nói khác nhau.
Giáo viên có thể sử dụng câu cầu khiến mệnh lệnh đơn giản như “Nộp bai cho
tôi”. Mà người học sinh sẽ dùng những câu cầu khiến phức tạp, mang tính
lịch sự hoặc câu cầu khiến với hình thức nghi vấn để thực hiện hành động cầu
khiến một cách gián tiếp, như “Xin hãy trả lại bai cho tôi” hoặc “Trả lại bai
cho tôi có được không?” Như vậy, hành đọng cầu khiến mệnh lệnh thường
được phát ra từ người đề xuất với địa vị xã hội cao đến người tiếp nhận với
địa vị xã hội thấp.
Ở đây, cần phải làm rõ hai khái niệm nữa là vị thế xã hội và vị thế giao
tiếp. Khi phân tích các sắc thái nghĩa cầu khiến cần phải chú ý đến vị thế giao
tiếp của người đề xuất và người tiếp nhận. Đại đa số trường hợp là vị thế giao
tiếp trùng với vị thế xã hội, nhưng cũng có một số trường hợp hai khái niệm
không trùng nhau. Chúng tôi có thể hiểu như sau:
Vị thế xã hội là địa vị, tư thế của người này so với người khác trong xã
hội. Vị thế xã hội được tạo thành bởi các nhân tố: nghề nghiệp, chức vụ, tuổi
tác … do vậy, vị thế xã hội có tính ổn định tương đối, vì nó không thay đổi

thể hiện bằng “=”.
Ít khi xảy ra trường hợp vị thế xã hội thấp mà vị thế giao tiếp lại cao vì
đặc điểm ứng xử của người Việt cũng như người Trung Quốc thể hiện qua
ngôn ngữ thường là xưng khiêm, hô – tôn (tự xưng thì khiêm tốn, hô gọi thì
tôn trọng). Do vậy, khi gặp trường hợp người đề xuất sử dụng ngôn từ không
phù hợp với vị thế xã hội và vị thế giao tiếp của mình, người tiếp nhận sẽ
phản bác ngay.
Nhân tố 2 thường dùng để phân biệt các hành động cầu khiến nguyền rủa.
Câu “Chết đi” không khác gì câu “Đóng cửa lại” về mặt cấu trúc, nhưng về
ngữ nghĩa ngữ dụng thì chúng tôi có thể nhận ra “Chết di” là câu mang tính
nguyền rủa, “Đóng cửa lại” chỉ là câu cầu khiến bình thường với ý muốn
người tiếp nhận thực hiện hành động đóng cửa. Tại sao có sự khác nhau giữa
hai câu này, nhân tố 2 có tác động lớn đến việc tạo thành sự khác nhau này,
hành động cầu khiến bình thường không thể phán đoán hành động ấy có hại
cho lợi ích của người tiếp nhận hay không ở chính câu nói đó, chỉ có thể dựa
vào những kiến thức liên quan và ngữ cảnh cụ thể mới có thể nhận ra được.
Hành động cầu khiến mang tính nguyền rủa thì có thể nhận ra ngay trên bản
thân câu nói ấy, chỉ cần người tiếp nhận có kiến thức ngôn ngữ cơ bản.
Nhân tố chủ yếu dùng để phân chia các hành động cầu khiến mang tính
cho phép, đề nghị. Các hành động cầu khiến mang tính mệnh lệnh, cầu xin v.v
đều là yêu cầu trực tiếp cho người tiếp nhận thực hiện hành động nào đó,

14
nhưng hành động cầu khiến mang tính cho phép, kiến nghị thì người đề xuất
chỉ nêu ý kiến hoặc cho một sự lựa chọn cho người tiếp nhận, chứ không phải
ra lệnh cho người tiếp nhận nhất định phải thực hiện hành động nào đó. Cho
phép và kiến nghị thường khó mà phân biệt ra nếu chỉ nhìn vào bản thân phát
ngôn, trong thực tế, người ta dựa vào ngữ cảnh thì có thể dễ dàng phân biệt
được hai hành động này.
2) Căn cứ vào hình thức cầu khiến phân loại hành động cầu khiến.

bằng lời nói nhằm cầu khiến người tiếp nhận (tiếp ngôn) thực hiện hành động
mà người đề xuất (chủ ngôn) mong muốn. Hành động cầu khiến được thể hiện
một cách trực tiếp bằng câu cầu khiến với hai mô hình K1= D1-Vnhck-D2-
V(p), K2= D2-Vttck-V(p) chứa các phương tiện đánh dấu lực ngôn trung cầu
khiến trực tiếp như:
Động từ ngôn hành cầu khiến mời, xin, van, lạy, nhờ, cầu, chúc, đề nghị,
yêu cầu, ra lệnh, cho phép, khuyên, cấm…
Các vị từ tình thái cầu khiến: hãy, đừng, chớ;
Động từ tình thái cầu khiến: nên, cần, phải;
Tiểu từ cầu khiến: đi, với, xem, đã, thôi, nào ,nhé;
Kết cấu V+giúp/hộ/cho.
Trong đó, K1 chủ yếu là mô hình biểu hiện hành động cầu khiến trực tiếp
bằng phương tiện từ vựng, cũng gọi là phương tiện tường minh, vì nó chủ yếu
nhờ các động từ ngôn hành cầu khiến làm phương tiện trực tiếp chỉ dẫn lực
ngôn trung. Ý nghĩa cầu khiến trong mô hình K1 là ý nghĩa hiển ngôn, không
cần người tiếp nhận tìm hiểu nó qua một quá trình suy ý, nó được thể hiện qua
phương tiện tường minh.
Mô hình K2 chủ yếu là mô hình biểu hiện hành động cầu khiến trực tiếp
bằng phương tiện ngữ pháp, vì nó chủ yếu nhờ các từ tình thái cầu khiến như

16
vị từ tình thái cầu khiến, động từ tình thái cầu khiến và tiểu từ tình thái cầu
khiến để làm phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến. Ý nghĩa cầu
khiến ở trong mô hình cấu trúc câu cầu khiến K2 là ý nghĩa cầu khiến nói
chung, trong từng ngữ cảnh cụ thể mà nó được hiểu tương ứng với một ý
nghĩa cụ thể. Phương tiện biểu hiện lực ngôn trung cầu khiến này là phương
tiện cầu khiến nguyên cấp.
Phương tiện cầu khiến nguyên cấp đối lập với phương tiện cầu khiến
tường minh (tức là phương tiện từ vựng). Hai phương tiện này giống như hai
cực, là hai phương tiện hoàn toàn đối lập với nhau, giữa đới trung gian của hai

Hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức trần thuật như:
- Anh mua hoa, em mua hoa quả, nửa tiếng sau anh em mình sẽ gặp lại ở
đây. (hai anh em định đi bệnh viện thăm người bạn đang ốm).
Hành động cầu khiến được thể hiện gián tiếp qua hình thức cảm thán như:
- Ôi, áo này đẹp quá! (hai vợ chồng đi dạo phố, người vợ muốn người
chồng mua cho chiếc áo).
Tóm lại, hành động cầu khiến được thể hiện một cách gián tiếp có nhiều
hình thức khác nhau, tùy theo yêu cầu lựa chọn sử dụng của người đề xuất, vì
cách bay tỏ gián tiếp không áp đặt cho người tiếp nhận, tăng quyền chủ động
cho tiếp ngôn, do đó có tính lịch sự cao hơn cách cầu khiến trực tiếp.
1.4 Câu cầu khiến
1.4.1 Khái niệm câu cầu khiến
Câu cầu khiến thuộc kiểu loại câu phân chia theo mục đích nói, có dấu
hiệu hình thức riêng nhằm yêu cầu, nhắc nhở, khuyên nhủ người tiếp nhận
nên hay phải thực hiện một việc gì đó.
Về phạm vi của câu cầu khiến, các nhà nghiên cứu vẫn chưa được nhất
trí, dưới đây, chúng tôi nêu ra mấy điểm liên quan đến phạm vi nghiên cứu để
tham khảo:

18
Điều một, khái niệm câu cầu khiến không chỉ là một khái niệm cú pháp
học, ngữ nghĩa học hoặc ngữ dụng học đơn thuần, mà là một khái niệm phức
hợp. Về mặt cú pháp, câu cầu khiến có đặc trưng cú pháp riêng; về mặt ngữ
nghĩa, nó biểu hiện thái độ của người đề xuất kiến nghị, mệnh lệnh, cấm
chỉ… đối với hành động của người tiếp nhận; về mặt ngữ dụng, nó là hành
động cầu khiến có mục đích của người đề xuất đối với người tiếp nhận. Khi
khảo sát không thể không để ý đến sự hạn chế về cú pháp và ngữ nghĩa, tuy
về căn bản nó cũng chỉ là phân loại câu theo ngữ dụng, nếu không sẽ làm cho
phạm vi câu cầu khiến mở rộng hơn nhiều và không rõ ranh giới.
Điều hai, không thể chỉ dựa vào tiêu chuẩn duy nhất nào đó để phân chia

mà câu cầu khiến diễn đạt là kiến nghị, yêu cầu, mệnh lệnh, cấm chỉ hành
động liên quan.
4) Chức năng ngữ dụng của câu cầu khiến là thực hiện sự kiến nghị, yêu cầu,
mệnh lệnh, cấm chỉ hành động liên quan.
Nội dung ý nghĩa cầu khiến “cầu khiến người tiếp nhận thực hiện hành
động mà người đề xuất cho là cần thiết” có giả định trước “sự đánh giá của
người đề xuất đối với sự tình được truyền đạt trong câu là nên hay không nên
xảy ra”. Do đó, nội dung tình thái cầu khiến bao gồm cả ý nghĩa hiển ngôn và
ý nghĩa hàm ngôn của hành động cầu khiền.
Tóm lại, trong một chuỗi phát ngôn, câu cầu khiến được nhận diện bằng
hai tiêu chí:
- Câu có ý nghĩa cầu khiến
- Câu có hình thức cầu khiến
1.4.2 Câu cầu khiến tường minh và câu cầu khiến nguyên cấp
Ở phần trên đã nói, phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến trực
tiếp có hai loại chính: phương tiện cầu khiến tường minh và phương tiện cầu
khiến nguyên cấp.

20
Xét về các thành phần tạo nên câu, có thể chia câu cầu khiến thành 2 loại:
câu cầu khiến tường minh và câu cầu khiến nguyên cấp.
Câu cầu khiến tường minh là câu cầu khiến có sử dụng phương tiện
tường minh để tường minh hóa hành động cầu khiến. Phương tiện tường minh
cũng gọi là phương tiện từ vựng, phương tiện từ vựng là chỉ các phương tiện
do thực từ đảm nhiệm, phương tiện từ vựng cầu khiến là phương tiện sử dụng
động từ ngôn hành cầu khiến.
Câu cầu khiến nguyên cấp là khái niệm đối lập với câu cầu khiến tường
minh. Đó là câu cầu khiến có sử dụng phương tiện nguyên cấp, tức là phương
tiện ngữ pháp, phương tiện ngữ pháp bao gồm các phương tiện không phải do
thực từ đảm nhiệm, đó là hư từ, trật tự từ và ngữ điệu, do vậy, phương tiện

muốn của chủ thể phát ngôn và yêu cầu người tiếp nhận đáp lại bằng hành
động. Về dạng thức câu cầu khiến cũng có khẳng định và phủ định (hãy,
đừng/chớ). Phương tiện cầu khiến có ba loại: hư từ (hãy, đừng, chớ, chứ,
nào…), thực từ có nghĩa cầu khiến (cấm, không được, mời, cho phép, chúc…)
và ngữ điệu dùng như nhau cho mọi ngôi của chủ ngữ. Tất cả những câu có
chứa các từ như: cấm, mời, xin, đề nghị… đều không phải là câu mệnh lệnh
đích thực. đó là câu trần thuật có ý nghĩa từ vựng mời mọc, cầu xin… nếu như
trong trường hợp chúng được dùng như câu mệnh lệnh thì đó là kiểu câu
mệnh lệnh lâm thời. (dẫn theo[11], tr4-6)
Tóm lại, trước đây câu cầu khiến chưa được quan tâm nhiều và chưa
được nghiên cứu một cách có hệ thống.
1.4.3.2 Nhận diện câu cầu khiến trong tiếng Việt
Hai tiêu chí nhận diện cụ thể trong câu cầu khiến tiếng Việt là tiêu chí ý
nghĩ và hình thức, tiêu chí ý nghĩa cầu khiến là cái chung của tất cả câu cầu
khiến, nhưng về tiêu chí hình thức cầu khiến thì câu cầu khiến tiếng Việt có

22
những đặc điểm riêng.
Hình thức cầu khiến là ý nghĩa cầu khiến được thể hiện bằng phương
tiện hình thức cụ thể.
Các phương tiện thể hiện ý nghĩa cầu khiến trong tiếng Việt gồm có:
+ Phương tiện từ vựng
- Động từ tình thái cầu khiến: nên, cần, phải.
- Động từ ngôn hành cầu khiến: ra lệnh, cho phép, đề nghị,
khuyên, xin, nhờ v.v…
- Động từ để, giúp, hộ, cho.
- Kết cấu: lấy A mà B.
+ Phương tiện ngữ pháp
- Hai mô hình trực tiếp thể hiện hành động cầu khiến: K1=(D1)-
Vnhck-D2-V(p); K2=D2-Vtck-V(p)

“thuyết chức năng” cũng có nhiều nhà nghiên cứu đi theo. Người đề ra
“thuyết chức năng” đầu tiên là ông Chu Đức Hy. Trong chương một “Bai
giảng ngữ pháp” [20, tr48], ông nói rằng “xét về chức năng câu, có thể chia
câu thành năm loại là câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm
thán và câu xưng hô”, “tác dụng của câu cầu khiến là yêu cầu người tiếp nhận
làm việc gì đó”. Ông còn nhận ra rằng, “quan hệ giữa hình thức câu và chức
năng câu rất phức tạp, tức là, có trường hợp trùng nhau”, ông nêu ví dụ một
số câu trần thuật mà thể hiện bằng hình thức nghi vấn, câu nghi vấn lại thể
hiện bằng hình thức cầu khiến.
Từ những năm tám mươi thế kỷ trước, việc nghiên cứu câu cầu khiến đã
đi vào một thời kỳ mới, phát triển mạnh mẽ, chủ yếu thể hiện ở số lượng các

Trích đoạn Điểm qua lịch sử nghiên cứu câu cầu khiến trong tiếng Hán Động từ ngôn hành Phương tiện bán tường minh Động từ giúp, hộ, cho
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status