ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ VŨ LOAN KHẢO SÁT PHƯƠNG THỨC NGÔN NGỮ BIỂU HIỆN
HÀNH VI TỪ CHỐI LỜI CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG HÁN
HIỆN ĐẠI
(LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Mã số : 5 04 08 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học :
GS.TS. NGUYỄN VĂN KHANG
HÀ NỘI – 2008
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
0.1. Tính cấp thiết của đề tài 4
0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
0.3. Phương pháp nghiên cứu 5
0.4. Tư liệu nghiên cứu 6
0.5. Bố cục luận văn 6
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
1.1.Đặt vấn đề 8
1.2. Hội thoại và các khái niệm liên quan 8
1.2.1. Khái niệm hội thoại 8
1.2.2. Các nguyên tắc hội thoại 9
1.2.3. Các quy tắc hội thoại 13
1.2.4. Cấu trúc hội thoại 15
2
3.1. Đặc điểm chung của hành vi từ chối gián tiếp 68
3.1.1. Khái niệm 68
3.1.2. Đặc điểm về phương thức thể hiện 69
3.1.3. Phân loại hành vi từ chối gián tiếp 69
3.2. Các phương tiện biểu hiện hành vi từ chối gián tiếp 73
3.2.1. Hành vi từ chối biểu hiện bằng lợi dụng từ vựng 73
3.3. Hành vi từ chối gián tiếp biểu hiện bằng thủ pháp cú pháp 79
3.3.1. Hành vi từ chối biểu hiện bằng cấu trúc nghi vấn 79
3.3.2. Hành vi từ chối biểu hiện bằng cấu trúc trần thuật 81
3.2.3. Hành vi từ chối biểu hiện bằng cấu trúc cầu khiến 91
3.4 Tiểu kết
CHƯƠNG IV. KHẢO SÁT CÁCH LỰA CHỌN HÌNH THỨC BIỂU HIỆN HÀNH VI TỪ
CHỐI CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC VÀ NGƯỜI VIỆT NÓI TIẾNG HÁN (TRÊN CỨ
LIỆU TRẮC NGHIỆM) 99
4.1 Đặt vấn đề 99
4.2 Khảo nghiệm cách lựa chọn hình thức biểu hiện hành vi từ chối trên cứ
liệu phiếu điều tra 99
4.3. Phân tích tỉ lệ sử dụng các phương thức biểu hiện hành vi từ chối 102
4.3.1 Về nhóm từ vựng 102
4.3.2 Phân tích tỉ lệ sử dụng hình thức từ chối trực tiếp và gián tiếp 103
4.4 Nhận xét 108
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
3
MỞ ĐẦU
0.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cùng với sự phát triển và hội nhập toàn cầu nhu cầu giao tiếp giữa các
cộng đồng về ngôn ngữ - văn hóa càng được chú trọng và phát triển. Chính
sách của Nhà nước Việt Nam là “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các
nước”, muốn làm bạn thì trước hết phải hiểu được ngôn ngữ của bạn và sau
đó là văn hóa của bạn. Chính vì vậy việc phát triển và giảng dạy ngoại ngữ
được nhà nước ta đặc biệt ưu tiên và phát triển. Bên cạnh tiếng Anh là ngôn
ngữ chính còn có các ngôn ngữ khác, trong đó có tiếng Hán được tham gia
giảng dạy tại các trường học. Trung Quốc là một quốc gia lớn nằm tiếp giáp
với phía bắc Việt Nam. Nhu cầu thông thương và hội nhập giữa hai quốc gia
là rất lớn. Chính vì vậy việc học tiếng Hán hiện nay đang là nhu cầu lớn ở
các thành phố chứ không chỉ ở các tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc.
Tiếng Hán là kết tinh của tư duy trí tuệ của dân tộc Hán – một dân tộc
có hơn 5000 năm phát triển và xây dựng qua từng thời kì. Tiếng Hán còn là
sự kết tinh của một trong ba nền văn minh lớn nhất thế giới. Tiếng Hán là
ngôn ngữ của dân tộc Hán thuộc hệ ngôn ngữ Hán Tạng, nó hình thành và
phát triển cùng với nền văn hóa Trung Hoa trải qua các thời kì cổ đại đến cận
đại và ngày nay nó trở thành tiếng Hán hiện đại.
Nhu cầu học và giao tiếp bằng tiếng Hán phát triển nhanh trong những
năm gần đây đã thúc đẩy quá trình nghiên cứu các hoạt động giao tiếp liên
văn hóa. Đồng thời nó cũng hướng các nhà nghiên cứu đi vào tìm hiểu việc
sử dụng ngôn ngữ theo hướng giao tiếp liên ngôn ngữ - văn hóa. Vì vậy, việc
nghiên cứu và tìm hiểu mối quan hệ cũng như sự tương ứng hay không
tương ứng ở phương thức biểu hiện hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp liên
ngữ nói chung và trong giao tiếp Hán – Việt nói riêng là hết sức cần thiết.
Trong giao tiếp liên ngữ, để đạt được mục đích giao tiếp cũng như để
tránh xảy ra những sai lầm đáng tiếc người tham gia giao tiếp cần phải có
từ chối lời cầu khiến trong tiếng Hán và tiếng Việt, trong đó lấy tiếng Hán
làm ngôn ngữ gốc, tiếng Việt làm ngôn ngữ đích. Chúng tôi sử dụng
phương pháp miêu tả định tính, phương pháp quy nạp và phương pháp
thống kê. Qua đó dựa vào kết quả đã phân tích, sử dụng phương pháp của
ngôn ngữ học đối chiếu để tiến hành đối chiếu, so sánh nhằm tìm ra những
tương đồng và khác biệt, tương ứng và phi tương ứng của hành vi từ chối
lời cầu khiến giữa hai ngôn ngữ Việt – Hán trên bình diện cấu trúc ngữ
nghĩa và các nghĩa chuyển dịch.
0.4. Tư liệu nghiên cứu
Tư liệu nghiên cứu được chúng tôi khai thác từ các nguồn:
- Các tác phẩm văn học có chứa các đoạn thoại cầu khiến.
- Các tác phẩm song ngữ là các giáo trình dạy tiếng Hán cho người
nước ngoài.
- Các đoạn thoại tự nhiên trong giao tiếp hàng ngày chứa các phát ngôn
cầu khiến và từ chối theo quan sát cá nhân.
Ngoài ra, để có những ví dụ và số liệu cho việc nghiên cứu, chúng tôi
tiến hành làm phiếu điều tra về : “Phương tiện biểu hiện hành vi từ chối” đối
với 50 sinh viên Trung Quốc hiện đang theo học tiếng Việt tại khoa Ngôn
ngữ Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia và 50 phiếu
đối với sinh viên Việt Nam học tiếng Hán hiện đại tại Học viện Khoa học
quân sự và trường Đại học Hà Nội. Chúng tôi đưa ra 10 câu cầu khiến theo
10 tình huống cố định, sau đó cho các sinh viên trả lời một cách tự nhiên
nhất.
Các ví dụ được trích trong luận văn sẽ kí hiệu theo mẫu sau: Nếu là
tình huống của sinh viên người Trung Quốc chúng tôi kí hiệu là C
(Chinese), là của sinh viên Việt Nam chúng tôi kí hiệu là V (Vietnammese).
Ví dụ nếu là tình huống thứ nhất của sinh viên Trung Quốc thì kí hiệu là
[S1-C].
6
0.5. Bố cục luận văn
7
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Đặt vấn đề
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Nằm
trong hoạt động giao tiếp của loài người, HVNN là một vấn đề được khá nhiều
các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm. Việc nghiên cứu HVNN không chỉ
giới hạn trong phạm vi một ngôn ngữ mà việc nghiên cứu đối chiếu HVNN ở
hai hoặc hơn hai ngôn ngữ khác nhau, giữa các nền văn hoá, giữa các cộng
đồng người khác nhau ngày càng được mở rộng và quan tâm hơn nữa.
Nghiên cứu khoa học về HVNN ngày càng được nhằm giải quyết
những vấn đề sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ ngay trong một ngôn ngữ cũng có các phương
thức biểu hiện HVNN khác nhau được con người vận dụng. Đặc điểm giao
tiếp ngôn từ khác nhau từ những phạm trù khác nhau như: lịch sự, giới tính,
quyền lực, các quan hệ xã hội cũng như mối quan hệ giữa các tầng nghĩa của
cấu trúc để từ đó có những mẫu phân tích giao tiếp hội thoại cho ngôn ngữ
giao tiếp nói chung.
- Nghiên cứu nhằm tìm ra dưới sự tác động của các yếu tố dân tộc, văn
hoá thì các ngôn ngữ có sự thể hiện khác nhau như thế nào.
- Nghiên cứu nhằm tìm ra các cách diễn đạt khác nhau về hình thức
1.2.2. Các nguyên tắc hội thoại
1.2.2.1. Nguyên tắc cộng tác
Theo G.Price (1975), nguyên tắc cộng tác trong hội thoại là: hãy làm
cho phần đóng góp của bạn đúng như nó được đòi hỏi, đúng vào các giai
đoạn mà nó xuất hiện bởi các mục đích hoặc các phương hướng đã được
chấp nhận của lần trao đổi bằng lời mà bạn được tham dự.
9
Như vậy, khi tham gia hội thoại người tham thoại phải có thái độ tích
cực trong quan sát và thực hiện nguyên tắc cộng tác theo những phương
châm nhất định.
Cũng theo P.Grice, hai bên tham gia hội thoại phải cùng cố gắng để
đối tác của mình hưởng ứng và phát triển cuộc hội thoại. Nguyên tắc cộng
tác có vai trò trung tâm trong lí thuyết hội thoại. Nguyên tác này gồm 4
phương châm:
Lượng:
1. Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có chứa tin như nó được đòi
hỏi (đối với những mục đích hiện hữu của lần trao đổi đó).
2. Không làm cho phần đóng góp của bạn chứa nhiều tin hơn đang được
đòi hỏi.
Chất:
1. Không nói điều mà bạn tin là không chân thực.
2. Không nói điều mà bạn không chứng minh được thoả đáng.
Quan hệ:
Phải thích dụng .
Cách thức:
Phải rõ ràng.
1. Tránh diễn đạt tối nghĩa.
2. Tránh mơ hồ.
3. Phải ngắn gọn (tránh dài dòng không cần thiết).
4. Phải có thứ tự.
hài lòng về nhau. Chính vì vậy cần có cách biểu đạt tế nhị, nhẹ nhàng khôn
khéo để đạt được mục đích trong hội thoại. Hội thoại là một hoạt động giao
tiếp xã hội và nó luôn được điều chỉnh trong quá trình thực hiện. Sự mong
muốn hội thoại thành công không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được
dù người tham thoại có mong muốn nó thành công và hoàn hảo.
11
1.2.2.2. Nguyên tắc lịch sự
a. Quan điểm của George Yule:
“Có thể xem lịch sự như là một khái niệm cố định như trong khái niệm
hành vi xã hội lịch sự hay nghi thức xã giao, bên trong một nền văn hoá”
[37.tr118]. Trong mỗi một nền văn hóa khác nhau sẽ có những nguyên tắc
chung khác nhau cho lịch sự trong tương tác hội thoại. Tác giả đưa ra khái
niệm “thể diện” (face) chỉ “hình ảnh của ta trước công chúng”. Lịch sự trong
một cuộc giao tiếp hội thoại có thể được hiểu là phương tiện để chứng tỏ việc
nhận thức được thể diện của người khác. Sự nhận ra thể diện của người khác
được tác giả đưa ra như là mô tả sự kính trọng hay tôn trọng của người cộng
tác hội thoại hay khoảng cách xã hội của người tham thoại. Ví dụ, khoảng
cách xã hội gần thường được mô tả là quan hệ anh và em, tình hữu nghị, tình
bằng hữu, khoảng cách xã hội xa như quan hệ lãnh đạo và cấp dưới, quan hệ
đối tác làm ăn v.v Như vậy người tham gia cộng tác sẽ phải nắm được nhu
cầu thể diện của họ để đưa ra quyết định khoảng cách xã hội tương đối cho
cuộc hội thoại.
b. Quan điểm của R. Lakoff:
Tác giả đã đưa ra quy tắc:
Quy tắc 1: Không áp đặt.
Là quy tắc mà người nói không đưa ra những quy định cá nhân, tránh
động chạm đến cá nhân khác ở nhiều phương diện. Nói cách khác, người
tham thoại sẽ tránh hoặc tìm cách giảm nhẹ tính áp đặt trong phát ngôn của
mình khi mong muốn từ chối thực hiện một nhiệm vụ gì đó.
Quy tắc 2: Để ngỏ sự lựa chọn.
anh ta sẽ bị mất thể diện (losing face). Vì vậy, trong giao tiếp nói chung,
người nói bắt buộc phải nghĩ tới mức độ quan hệ thân thiết giữa hai bên
hoặc quan hệ về quyền lực giữa hai bên mà đưa ra những yêu cầu đối với
đối phương.
13
1.2.3. Các qui tắc hội thoại
Hội thoại diễn ra và bị chi phối theo những qui tắc nhất định. Theo
Crechioni qui tắc hội thoại chia thành 3 nhánh như sau:
- Các quy tắc về điều hành sự luân phiên lượt lời.
- Những quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại.
- Những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại.
[Dẫn theo Đỗ Hữu Châu 6-tr225]
a. Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời tức là trong cuộc hội thoại
người nói theo trật tự lần lượt mà diễn ra đồng thời. Theo George Yule, cấu
trúc hội thoại được ví như “các hoạt động của một nền kinh tế thị trường”.
Trong đó thứ hàng hóa quý hiếm được gọi là “quyền được nói” (floor turn).
Tác giả cho rằng, hội thoại là một hình thức hoạt động xã hội, các lượt lời
hoạt động theo một “hệ thống điều hành cục bộ” (local management system)
được hiểu theo lối quy ước giữa các thành viên trong một nhóm xã hội. Các
quy ước này điều chỉnh sao cho việc nắm lấy lượt lời, giữ hoặc trao lượt lời
cho người đối thoại một cách uyển chuyển.
b. Quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại. Theo Nguyễn Đức Dân [16] thì
những phát ngôn trong một lượt lời là những hành vi hội thoại. Chính hành
vi hội thoại này gây ra những dạng hành vi ngôn ngữ nhất định. Ví dụ như
một HVNN chào hỏi, yêu cầu có trả lời, đề nghị phản hồi chấp nhận hay từ
chối, hành vi cám ơn yêu cầu một sự đáp lời. Như vậy người tham thoại phải
có phương tiện biểu đạt trong hành vi hồi đáp của mình. Trong giao tiếp thực
tế có những khuôn mẫu về hình thức biểu hiện hành vi này. Song, việc lựa
chọn hình thức nào để biểu hiện một HVNN để có được hiệu lực tại lời nói là
rất quan trọng. Điều này quyết định hiệu quả trong giao tiếp.
hình thức trang phục để nắm bắt quan hệ vị thế và có những điều chỉnh
kịp thời phù hợp với mục đích cuộc thoại và mang lại hiệu quả cho cuộc
thoại.
15
1.2.4. Cấu trúc hội thoại
Cấu trúc hội thoại bao gồm một số thành tố và dưới những cách nhìn
khác nhau thì các thành tố tạo nên cấu trúc hội thoại có phần khác nhau.
Theo tác giả Diệp Quang Ban, cấu trúc hội thoại nhìn trong “phân tích
hội thoại” là “cấu trúc của ngữ cảnh chuỗi” hay là tổ chức chuỗi, tức là trong
quan hệ của một lượt lời nói với các lượt lời là ngữ cảnh của nó (một lượt lời
nằm trong một chuỗi nối tiếp của các lượt lời), và cấu trúc của các cặp kế cận
với phần thứ hai được ưa chuộng/ không được ưa chuộng, tức là tổ chức ưa
chuộng của cặp kế cận
Nhìn trong phân tích diễn ngôn thì cấu trúc của hội thoại được xem xét
như một chỉnh thể của nó. “Một cuộc thoại được coi như một diễn ngôn tổng
thể. Trên điểm nhìn đó, cấu trúc hội thoại là cấu trúc của một cuộc thoại tổng
thể bao gồm các bộ phận bên trong nó” [Dẫn theo Diệp Quang Ban - Tài liệu
chuyên đề Cao Học- Phân tích diễn ngôn – trang 11]
Một số tác giả Pháp, Thụy Sỹ đã đưa ra các đơn vị của cấu trúc hội
thoại gần:
- Cuộc thoại (cuộc tương tác :/ conversation).
- Chùm lời thoại (sequence).
- Loạt trao đáp (exchange).
- Tham thoại (intervention).
- Hành động nói (speech act).
(Dẫn theo Diệp Quang Ban – Tài liệu chuyên đề Cao Học- Phân tích
diễn ngôn).
1.3. Hành vi ngôn ngữ và các khái niệm liên quan
1.3.1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ.
Người đầu tiên đưa ra lý thuyết HVNN là Austin (1962) trong công
17
được xây dựng theo hai chiều: từ ngôn ngữ tới hiện thực và từ hiện thực tới
ngôn ngữ.
- Trạng thái ngôn ngữ được biểu hiện.
Khi thực hiện một HVNN người tham gia giao tiếp qua đó bày tỏ lòng
tin, sự mong muốn hoặc ăn năn vì vậy khi nhìn nhận nhiều hành vi khác
nhau về bề ngoài ta có thể thấy dưới cùng một góc độ.
Hành vi ở lời mang lại những hiệu quả nhất định trong giao tiếp. Đây
là loại HVNN mang tính xã hội do phụ thuộc vào ngữ cảnh. Các phát ngôn
nhất định xuất hiện trong tình huống nhất định phù hợp với ngữ cảnh, có tính
quy ước và xác định theo những quy ước đó.
1.3.2. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp là một sự nói thẳng công khai, không ẩn
chứa dụng ý về một điều gì đó.
Hành vi ngôn ngữ gián tiếp là điều không được nói ra lớn hơn hoặc
khác hơn điều được nói ra.
Phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm này Searle (1975) cho rằng:
“một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua sự thực hiện một hành
vi ở lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp”[tr72].
1.3.3. Các loại hành vi ngôn ngữ
Việc phân loại HVNN căn cứ vào phản ứng qua lại của những người
tham gia hội thoại. Đây là căn cứ để nhận ra hành vi ở lời.
a. Phân loại của Austin(1962).
Austin chia các loại HVNN thành năm phạm trù : Phán xử, hành xử,
cam kết, trình bày, ứng xử. Trong đó thì HVTC thuộc phạm trù trình bày.
b. Phân loại của Searle(1975).
Searle dùng 12 tiêu chí để phân loại HVNN, HVNN được phân lập
thành năm loại hành vi ở lời là: tái hiện, điều khiển, cam kết, biểu cảm, tuyên
bố. Trong đó HVTC thuộc nhóm điều khiển.
18
là có lợi cho mình. Với quan niệm này thì cầu khiến là nhờ vả, xin phép, sai
bảo, ra lệnh. Cầu khiến cũng đồng thời là việc cấm đoán, ngăn cản, khuyên
can, mời mọc, thúc giục. Các hành vi như cổ vũ, thách thức, cảnh báo là
những hành vi người nói đưa ra hướng người nghe đến việc thực hiện hoặc
không thực hiện những yêu cầu mà không quan tâm tới việc người nghe có
thực hiện hay không thực hiện.Vì vậy mà các hành vi này không được xếp
vào nhóm cầu khiến.
Tác giả 丁凤 (Định Phong)[56] có sử dụng công trình nghiên cứu của
张绍杰 (Trương Thiệu Kiệt) và 李军(Lí Quân) về cầu khiến để phân loại
cầu khiến trong tiếng Hán thành ba loại chính gồm: ngữ tỉnh thị, ngữ hành vi
hạt nhân (trung tâm) và ngữ phụ trợ (醒示语,核心行为语,辅助语).
Ngữ tỉnh thị bao gồm từ hô, gọi và từ nhắc nhở. Lời gọi chỉ rõ đối tượng
chấp hành cầu khiến, kêu gọi sự chú ý tập trung của người nghe đối với người
đưa ra lời cầu khiến. Trong tiếng Hán, từ hô, gọi có thể bao gồm cả họ, tên. Từ
nhắc nhở là những từ gợi nhắc cho người nghe chú ý đến một vài từ ngữ có tính
quen thuộc như : 喂,呀,哎… Từ nhắc nhở thực ra không hoàn toàn là để
dẫn dắt sự chú ý của người nghe mà nó là một trong những cách thức thể hiện
sự lịch sự. Người nói căc cứ vào mục đích giao tiếp của mình để chọn lựa từ
nhắc nhở cho phù hợp về khoảng cách xã hội giữa mình và người nghe.
Ngữ hành vi hạt nhân phân thành ba loại cơ bản là cách thức biểu
hiện trực tiếp, gián tiếp và dùng ám hiệu. Cách thức biểu hiện trực tiếp
thường gặp nhất trong câu thỉnh cầu như:
(I.1)“这本书借我看看“
(Cho tôi mượn cuốn sách này).
Cách thức biểu hiện gián tiếp thường gặp nhất là câu nghi vấn, trong đó một
nửa là câu hỏi và câu hỏi phụ như:
(I.2)“能帮我一把吗?“
20
(Có thể giúp tôi một chút không?)
(I.3)“帮我买汉越词典,好不好?”
拒绝: Cự tuyệt, từ chối thẳng thừng.
把受: Từ chối, cự tuyệt không nhận.
谢 : Chối từ, cự tuyệt.
Trong đó nhóm từ ghép với từ 谢 như:
谢病 : Từ chối, lấy cớ ốm thoái thác.
谢绝 : Xin miễn.
谢客 : Từ chối tiếp khách.
谢却 : Từ chối, cự tuyệt.
Trong tiếng Việt theo từ điển tiếng Việt [36] khái niệm từ chối bao gồm:
Chối : - Không nhận đã làm đã gây ra việc gì tuy điều đó có thật
- Từ chối, nói tắt
Từ chối : Không chịu nhận cái được dành cho hoặc được yêu cầu
Chối từ : Tương đương như từ chối
Khước từ : Từ chối không nhận (dùng trong ngữ cảnh trang trọng)
Cự tuyệt : Từ chối dứt khoát. (dùng trong trường hợp mô tả một ý thức
quyết liệt) trong tiếng Việt hành vi này mô ta khi người nói đưa ra với thái
độ và trạng thái tình cảm không tốt với người nghe.
Từ : - Bỏ không nhận không có quan hệ hay trách nhiệm với một ai đó nữa.
- Thôi không nhận làm một chức vụ nào đó (Dùng kết hợp hạn chế).
- Không chịu nhận lấy về mình (Dùng trong câu có ý phủ định, kết
hợp hạn chế).
- Chừa ra tránh trọng dụng đến hoặc không dùng đến (Dùng trong
câu có ý phủ định, kết hợp hạn chế).
22
Chúng tôi cho rằng các nét nghĩa của “từ” không liên quan đến ý nghĩa
của từ chối hay chối từ.
“Hiệu quả của từ chối một cách chung nhất luôn là một sự giữ nguyên
hiện trạng của thế giới” [Nguyễn Phương Chi, 8]. Như vậy từ chối có nghĩa
là biểu thị sự không chấp nhận một thay đổi nào đó theo hướng đã được đề
xuất trong quan hệ hội thoại. Khi một hành vi cầu khiến xuất hiện, người