Lấy ví dụ thực tế về hoạt động chuyển giao công nghệ của một công ty trong nước hoặc ngoài nước, liên hệ với TOYOTA Việt Nam - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển và đang mang trên mình nhiều
mục tiêu nhằm tăng trưởng nền kinh tế, phát triển bền vững đất nước . Để làm
được điều đó đòi hỏi có rất nhiều yếu tố cấu thành một trong những yếu tố then
chốt là vấn đề công nghệ và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, với điều kiện và
trình độ của nước nhà không cho phép, vấn đề phát triển công nghệ của nước ta
còn nhiều mặt hạn hẹp, trong khi với công nghệ nước ngoài có thể sử dụng với
nhiều mục tiêu khác nhau cho nên hoạt động chuyển giao công nghệ được chú
trọng đầu tư hơn cả. Hoạt động chuyển giao công nghệ mang lại nhiều lợi ích, giúp
tăng năng suất lao động, đảm bảo phát triển kinh tế, đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước, thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển đi
trước.
Theo điều tra, Việt Nam là một nước sử dụng phương tiện cá nhân để thực
hiện hành vi di chuyển của mình là rất cao, trong đó , nhu cầu sử dụng ô tô là rất
lớn, (cho tới năm 2012 là khoảng 1.5 triệu ô tô ) các nhà sản xuất chế tạo ô tô của
Việt Nam luôn tìm tòi và phát triển nên những sản phẩm chất lượng cho người tiêu
dùng. Tuy nhiên, với công nghệ hiện có, nền công nghiệp sản xuất ô tô của Việt
Nam rất khó để tiếp cận với những dây chuyền mới, chi tiết chính xác để tạo ra sản
phẩm, vì vậy, việc tìm hiểu và đầu tư cho hoạt động chuyển giao công nghệ là rất
cần thiết. Công ty TOYOTA Việt Nam là một trong số những công ty hàng đầu tại
Việt Nam thể hiện được vai trò xuất sắc trong ngành công nghiệp chế tạo ô tô với
những thành tựu và những bước phát triển của mình. Để tìm hiểu và tìm ra những
giải pháp cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam với những vấn đề về chuyển giao
công nghệ ô tô, nhóm đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “ Lấy ví dụ thực tế về hoạt
động chuyển giao công nghệ của một công ty trong nước hoặc ngoài nước.”
Với những tìm hiểu và đánh giá của mình, nhóm mong muốn sẽ đem lại cho bạn
cái nhìn sâu sắc về hoạt động chuyển giao công nghệ của Viêt Nam trong ngành
công nghiệp ô tô đặc biệt là của công ty TOYOTA.PHẦN I: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

- Bí quyết kỹ thuật
- Kiến thức kỹ thuật về công nghệ được chuyển giao dưới dạng phương án
công nghệ, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật,
bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu;
- Giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ.
2. Đối tượng công nghệ được chuyển giao có thể gắn hoặc không gắn với đối
tượng sở hữu công nghiệp.
Cần lưu ý rằng: các hoạt động xuất nhập khẩu máy móc thiết bị thuần tuý
không được coi là chuyển giao công nghệ.
1.3 Hợp đồng chuyển giao công nghệ
Một chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản hoặc
hình thức khác có giá trị tương đương văn bản, bao gồm điện báo, telex, fax, thông
điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Theo Luật chuyển giao công nghệ, một hợp đồng chuyển giao công nghệ có thể
thỏa thuận về những nội dung sau đây:
1. Tên hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong đó ghi rõ tên công nghệ được
chuyển giao;
2. Đối tượng công nghệ được chuyển giao, sản phẩm do công nghệ tạo ra;
3. Chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ;
4. Phương thức chuyển giao công nghệ;
5. Quyền và nghĩa vụ của các bên;
6. Giá, phương thức thanh toán;
7. Thời điểm, thời hạn hiệu lực của hợp đồng;
8. Khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong hợp đồng (nếu có);
9. Kế hoạch, tiến độ chuyển giao công nghệ, địa điểm thực hiện chuyển giao công
nghệ;
10. Trách nhiệm bảo hành công nghệ được chuyển giao;
11. Phạt vi phạm hợp đồng;
12. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
13. Pháp luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp;

lắp đặt sản phẩm. Đôi khi, nó cũng có thể bao gồm các thông tin cho việc đào tạo
dựa vào máy tính. Công cụ máy tính có thể thường xuyên được làm theo đơn đặt
hàng cho phù hợp với những nhu cầu của khách hàng.
+ Thông tin bảo trì sản phẩm: Các thông tin cần thiết để bảo trì, sửa chữa, phục vụ
sản phẩm và phần mềm có liên quan. Nó có thể bao gồm cả các sách hướng dẫn
duy trì (dành cho cả phần cứng và phần mềm), các danh mục kiểm tra sửa chữa và
danh mục các linh kiện máy móc.
+ Thông tin tăng cường vận hành sản phẩm: Tri thức luôn mang bản chất khám
phá, bao hàm những thông tin cần thiết cho quá trình vận hành tối ưu hoá và nâng
cấp về hiệu quả sản phẩm.
*Chuyển giao công nghệ quá trình (công nghệ để chế tạo sản phẩm đã được thiết
kế)
Công nghệ quá trình gồm có 4 thành phần tương tác với nhau để thực hiện thiết kế,
đó là phần kỹ thuật, phần con người, phần thông tin và phần tổ chức.
Việc chuyển giao tổng thể công nghệ sản xuất có thể được xem là thực hiện khi cả
2 công nghệ quá trình và công nghệ sản phẩm được chuyển giao.
Ngoài ra, cũng có thể phân loại: công nghệ sản xuất và công nghệ dịch vụ.
2.3 Theo hình thái công nghệ được chuyển giao
Căn cứ vào hình thái công nghệ được chuyển giao trong chu trình sống của công
nghệ: Nghiên cứu ® Triển khai ® Truyền bá trên thị trường, người ta chia thành:
- Chuyển giao theo chiều dọc:
Có hai quan niệm chuyển giao theo chiều dọc.
+ Công nghệ chưa có trên thị trường: Chuyển giao công nghệ chưa được triển khai
(công nghệ vẫn trong sự quản lý của pha nghiên cứu). Bên nhận có được công
nghệ hoàn toàn mới nếu triển khai thành công.
+ Công nghệ đã có trên thị trường:
Chuyển giao từ NC ® TK ® SX ® Thị trường
Bên nhận dễ dàng làm chủ công nghệ được chuyển giao.
Trong thực tế các CGCN theo chiều dọc chỉ chiếm khoảng 5% tổng số CGCN trên
thế giới do bên nhận công nghệ cần có năng lực triển khai công nghệ ở trình độ cao

+ Nếu trình độ NC & TK không cao công nghệ tạo ra có giá trị thấp, không thể tạo
ra sản phẩm chất lượng cao để giúp nền kinh tế nước ta hội nhập thành công trong
giai đoạn hiện nay.
3.2 Công nghệ ngoại sinh
- Sự hình thành một công nghệ ngoại sinh: Công nghệ ngoại sinh là công nghệ có
được thông qua mua công nghệ do nước ngoài sản xuất. Quá trình có được công
nghệ ngoại sinh bao gồm.
Nhập ® Thích nghi ® Làm chủ
- Các hình thức nhập công nghệ: Để nhập một công nghệ có thể thông qua các hình
thức sau:
+ Mua thiết bị, nhà máy chìa khoá trao tay (bên bán bàn giao nhà máy hoàn chỉnh),
hay sản phẩm trao tay (bên bán bàn giao nhà máy đã sản xuất ra được sản phẩm);
+ Liên doanh hợp tác kinh doanh với các công ty xuyên quốc gia, trong đó nước
ngoài chịu trách nhiệm cung cấp phần chủ yếu của công nghệ;
+ Mua giấy phép bản quyền công nghệ (mua licence công nghệ - mua quyền sử
dụng công nghệ, chứ không phải mua quyền sở hữu công nghệ).
- Sự hình thành các công nghệ ngoại sinh tự phát đã có từ lâu thông qua việc di
dân, qua các thương gia, người đi sứ Việc nhập công nghệ ngày nay thường có
sự kiểm soát của nhà nước.
Trong số các công nghệ ngoại sinh, một số được coi là CGCN.
- Chuyển giao công nghệ ngày nay là mua bán công nghệ có tổ chức. Các động cơ
của bên giao và bên nhận có ảnh hưởng lớn đến kết quả của một CGCN.
Có thể chia các nguyên nhân xuất hiện CGCN thành ba loại: những nguyên nhân
khách quan; những lý do xuất phát từ bên giao; và những lý do xuất phát từ bên
nhận.
3.3 Những nguyên nhân khách quan dẫn đến CGCN
- Không có quốc gia nào trên thế giới có đủ mọi nguồn lực để làm ra tất cả các
công nghệ cần thiết một cách kinh tế, do đó nhiều nước muốn có một công nghệ
thường cân nhắc về phương diện kinh tế giữa mua và làm;
- Sự phát triển không đồng đều của các quốc gia trên thế giới về công nghệ (85%

hiện đại hoá nền kinh tế quốc gia.
4.Các yêu cầu đối với công nghệ trong CGCN
Để quá trình CGCN đạt hiệu quả một cách toàn diện cho mỗi cơ sở, tổ chức cũng
như phạm vi quốc gia thì các công nghệ được chuyển giao phải thoả mãn một số
tiêu chuẩn nhất định. Cụ thể ở Việt Nam quy định những công nghệ sau cấm không
được chuyển giao:
1. Công nghệ không đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ
sinh lao động, bảo đảm sức khỏe con người, bảo vệ tài nguyên và môi trường.
2. Công nghệ tạo ra sản phẩm gây hậu quả xấu đến phát triển kinh tế - xã hội và
ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Công nghệ không được chuyển giao theo quy định của điều ước quốc tế mà
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
4. Công nghệ thuộc danh mục bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác.
II. QUÁ TRÌNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
1. Các mối liên kết trong CGCN
Để có một công nghệ (đặc biệt công nghệ tư nước ngoài), Bên nhận công nghệ
thường phải thông qua các môi giới trung gian để tìm kiếm công nghệ. Kinh
nghiệm cho thấy các mối liên kết này có ảnh hưởng đến kết quả của chuyển giao
công nghệ.
1.1 Các mối liên kết trực tiếp
- Thông qua các công ty xuyên quốc gia;
- Thông qua mua licence công nghệ;
- Thông qua các công ty tư vấn về công nghệ và CGCN;
- Thông qua các chuyên gia nước ngoài đang hoạt động tại địa phương, hay các cán
bộ kỹ thuật thực tập, các lưu học sinh du học ở các nước phát triển trở về.
Những mối liên kết này tạo cơ hội cho Bên mua có thể tiếp cận với những người
chủ thực sự của công nghệ, do đó có cơ hội thành công cao hơn.
1.2 Các mối liên hệ gián tiếp
- Thông qua đại lý bán máy móc, thiết bị ở địa phương;

Luật chuyển giao công nghệ.
+ Nghị định số 49/2009/NĐ-CP Quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động
chuyển giao công nghệ.
+ Thông tư số 04/2010/TT-BKHCN của Bộ KH-CN hướng dẫn một số điều của
NĐ số 49/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động chuyển
giao công nghệ.
+ Nghị định số 103/2011/NĐ-CP Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ số
133/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật chuyển giao công nghệ.
+ Thông tư về Quy trình hình thành, sàng lọc, thẩm định, giám sát quá trình
CGCN,
Bên cạnh các văn bản pháp lý liên quan đến CGCN, các cơ quan, tổ chức hỗ trợ
cho CGCN cũng đã được thành lập và đi vào hoạt động.
+ Các tổ chức tư vấn về công nghệ và CGCN như Công ty nghiên cứu tư vấn
CGCN và đầu tư (CONCETTI); Công ty sở hữu công nghiệp; Công ty tư vấn đầu
tư nước ngoài về công nghiệp (FORINCONS) ; ngoài ra còn có nhiều công ty, chi
nhánh, văn phòng của nước ngoài về tư vấn công nghệ và chuyển giao công nghệ.
3. Trình tự tiến hành nhập công nghệ
Quá trình thực hiện nhập công nghệ có thể chia làm 3 giai đoạn: chuẩn bị, thực
hiện và sử dụng (hình 6.1).
3.1.Giai đoạn chuẩn bị
Hai công việc chính của giai đoạn chuẩn bị là lập dự án nhập công nghệ và báo cáo
tính khả thi của dự án.
*Nội dung của lập dự án nhập công nghệ có thể gồm các bước sau:
- Xác định mục tiêu:
+ Tính tất yếu của việc nhập công nghệ (nhu cầu cấp thiết; tạo sản phẩm thiết yếu;
đáp ứng cạnh tranh; rút ngắn khoảng cách công nghệ với khu vực );
+ Các căn cứ (đường lối, quy hoạch, mục tiêu chiến lược của quốc gia).
- Nghiên cứu và xác định các nguồn lực:
+ Nguồn nguyên vật liệu, lao động sẵn có;

phẩm của nó có sức cạnh tranh trên thị trường không?
+ Các biện pháp tiếp thu, đồng hoá, nâng cao (nếu có) có tính khả thi hay không?
3.2 Giai đoạn thực hiện
Giai đoạn này có hai việc chính: Đàm phán và ký kết hợp đồng; tổ chức thực hiện.
*Đàm phấn và ký kết hợp đồng
Đàm phán làm cơ sở cho việc ký kết. Ký kết là kết quả của đàm phán. Hợp đồng
nhập công nghệ là căn cứ để tổ chức thực hiện, nghiệm thu, giám định cũng như là
cơ sở để xem xét các mục tiêu của dự án đã đạt được hay chưa. Một hợp đồng nhập
công nghệ có CGCN phải tuân thủ các quy định trong luật chuyển giao công nghệ.
Để đàm phán có kết quả, cần tổ chức tốt đoàn đàm phán, các thành viên trong đoàn
phải am hiểu sâu sắc về các lĩnh vực: công nghệ, thương mại và pháp luật. Ngoài
ra cần phải chọn được bên cung cấp công nghệ phù hợp; xác định rõ ràng mục tiêu,
nguyên tắc, phương thức của việc nhập công nghệ.
Đối với CGCN thì phương châm đàm phán là phải chân thành, thiện chí, hợp tác
lâu dài vì lợi ích của hai bên. Do đó đàm phán theo lợi ích là thích hợp với CGCN,
một yếu tố không thể thiếu là thái độ trong đàm phán phải kiên trì, bình tĩnh, tỉnh
táo và mềm mỏng là những đức tính rất quan trọng để đàm phán có kết quả.
Hiện nay, việc nâng cao năng lực đàm phán là vấn đề được bên nhận ở các nước
đang phát triển quan tâm v́ì thường có những điểm yếu sau:
+ Các chuyên gia thiếu kinh nghiệm trong đàm phán các hợp đồng và thoả thuận
phức tạp.
+ Các cấp quản lý không đưa ra những định hướng thích hợp cho người đàm phán.
+ Thiếu kiến thức về công nghệ và các kiến thức về những vấn đề phức tạp liên
quan đến đàm phán các loại hợp đồng.
+ Không chuẩn bị kỹ cho đàm phán và thiếu chiến lược rõ ràng để đạt được mục
tiêu.
Hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được phê chuẩn mới có hiệu lực. Những
trường hợp sau đây thường không được chấp nhận:
+ Công nghệ định nhập trong nước đã nắm được, sản phẩm sản xuất được trong
nước đã thoả mãn nhu cầu về cơ bản;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status