Khảo sát chính sách ngôn ngữ của nhà nước
phong kiến độc lập Việt Nam Nguyễn Thị Thanh Tâm Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Văn Khang
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Tìm hiểu một số vấn đề lí luận về chính sách ngôn ngữ; nội dung cơ bản
của chính sách ngôn ngữ; chính sách ngôn ngữ với kế hoạch hóa ngôn ngữ, lập pháp
ngôn ngữ. Khảo sát chính sách ngôn ngữ của Nhà nước phong kiến ở giai đoạn độc
lập. Rút ra một số nhận xét và liên hệ với chính sách ngôn ngữ của Việt Nam hiện
nay.
Keywords. Ngôn ngữ học; Chính sách ngôn ngữ; Nhà nước phong kiến; Việt Nam
Content
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Vấn đề chính sách ngôn ngữ đã trở nên vô cũng cấp bách đối với nhiều quốc gia trên
thế giới, đặc biệt đối với những quốc gia sau khi giành được độc lập cần phải lựa chọn một
ngôn ngữ giao tiếp chung cho toàn xã hội. Vấn đề ngôn ngữ quốc gia, chuẩn hóa ngôn ngữ,
chính sách ngôn ngữ với các dân tộc ít người, giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ ngoại
bang và ngôn ngữ bản địa là thực tế cần giải quyết.
Việt Nam do điều kiện lịch sử, điều kiện quốc gia, dân tộc mình, cho nên đây có thể
coi là một trong những trường hợp điển hình về chính sách ngôn ngữ. Việc tìm hiểu chính
huống ngôn ngữ, tác động trước hết đến mặt chức năng của ngôn ngữ và trong một chừng
mực nào đó tác động đến mặt kết cấu của ngôn ngữ.
Chính sách ngôn ngữ là một bộ phận hay nội dung trong hệ thống chính sách chính trị
- xã hội của một quốc gia. Cũng như mọi chính sách, chính sách ngôn ngữ bao gồm hai mặt:
- Mặt lý thuyết là những cơ chế của sự giao tiếp ngôn ngữ, về chức năng, bản chất và
quy luật phát triển của ngôn ngữ.
- Mặt hành động thực tiễn là những chủ trương của nhà nước và đồng thời là những
chương trình, kế hoạch thực hiện những chủ trương ấy nhằm tác động vào sự phát triển của
ngôn ngữ.
Luận văn này đưa ra một số định nghĩa của các nhà nghiên cứu về chính sách ngôn
ngữ . Theo cách hiểu của chúng tôi thì chính sách ngôn ngữ là chủ trương chính trị của nhà
nước và các biện pháp, kế hoạch thực hiện các chủ trương đó nhằm hướng sự hoạt động của
ngôn ngữ và các hình thức tồn tại của ngôn ngữ theo những mục đích nhất định. Kế hoạch
phát triển ngôn ngữ thường được thực hiện bằng một số biện pháp: xác định và xây dựng
ngôn ngữ chuẩn về từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp và chính tả, xây dựng chữ viết cho các dân
tộc chưa có chữ viết, giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia với ngôn ngữ nước
ngoài…
1.2. Những nội dung cơ bản của chính sách ngôn ngữ
Chính sách ngôn ngữ gồm những nội dung sau:
Thứ nhất: chính sách ngôn ngữ là một trong những nhân tố của quá trình phát triển
ngôn ngữ. Nó tác động đến sự phân bố chức năng bao gồm mối quan hệ giữa các ngôn ngữ,
giữa các phương ngữ, giữa các hình thức ngôn ngữ nói, viết…
Thứ hai: chính sách ngôn ngữ được xây dựng để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ này
sinh trong xã hội. Cụ thể là có hai dạng: dạng vĩ mô là những vấn đề liên quan đến sự phân
bố các thực thể ngôn ngữ theo phạm vi giao tiếp. Dạng vi mô là những vấn đề nảy sinh trong
quá trình giao tiếp của các thực thể ngôn ngữ riêng lẻ.
Thứ ba: từ góc độ xã hội học, chính sách ngôn ngữ là một phần chính sách đối nội của
một quốc gia nào đó. Chính sách ngôn ngữ phải phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ tức là làm
cho ngôn ngữ trở thành một biểu tượng của sự thống nhất công đồng về mặt chính trị, văn
hóa xã hội và dân tộc.
ngôi. Nhưng vì lợi ích dân tộc, Thái hậu Dương Vân Nga đã quyết định truyền ngôi vua cho
Lê Hoàn (980-1005).
Năm 1005 Lê Hoàn mất, Lý Công Uẩn được triều thần tôn lên giữ ngôi Hoàng đế. Từ
đây nước Đại Việt bước vào kỷ nguyên độc lập thực sự và xây dựng một Nhà nước phong
kiến Trung ương tập quyền.
2.1.2. Đôi nét về đặc điểm của nhà nƣớc phong kiến Nhà Lý (1010-1225)
Nhà Lý rời Hoa Lư về Thăng Long năm 1010. Năm 1054 đổi tiên nước là Đại Việt.
Nhà Lý xây dựng một Nhà nước tập quyền, thống nhất từ trung ương đến địa phương, chia
đất nước thành 24 lộ, thực hiện chính sách “Ngụ binh ư nông”.Thời kỳ này đề cao Nho giáo,
xây dựng Văn Miếu (1070) và Quốc Tử Giám (1076).
Năm 1224 Lý Huệ Tông bị ép đi tu và phải nhường ngôi cho con gái là công chúa
Chiêu Thánh, lúc đó mới 7 tuổi, lấy hiệu là Lý Chiêu Hoàng.
Thái sư Trần Thủ Độ đã bày kế cho cháu mình là Trần Cảnh, lúc đó mới 8 tuổi, kết
nghĩa vợ chồng với Lý Chiêu Hoàng. Ngày 21, tháng Mười Một, năm ĐInh Dậu (tức ngày
11, tháng Mười Hai, năm 1225) Lý Chiêu Hoàng đã cởi áo Hoàng bào trao cho Trần Cảnh.
ngày 11, tháng Mười Hai, năm 1225 triều Lý chuyển quyền cho triều Trần.
2.1.3. Đôi nét về đặc điểm của nhà nƣớc phong kiến Nhà Trần (1225-1440)
Nhà Trần vẫn duy trì nhà nước Trung ương tập quyền thống nhất, phát triển kinh tế,
văn hóa, giáo dục, lấy đạo Phật làm quốc giáo, coi trọng việc giữ gìn toàn vẹn giang sơn.
Công lao lớn nhất là ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông: lần thứ nhất
vào năm 1258 của Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn; lần thứ 2 vào năm
1285 dưới sự chỉ huy của Trần Thánh Tông và Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn; lần thứ
3 vào năm 1288 cũng dưới sự chỉ huy của Quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần
Quốc Tuấn.
Ngày 15, tháng Mười Hai, năm 1394, Thái Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông mất, Hồ
Quý Lý làm Phụ chính Thái sư, thâu tóm toàn bộ quyền bính để dần dần cướp ngôi vua.
Năm 1400 Hồ Quý Lý lên ngôi, rời đô về Thanh Hóa, xây dựng Tây Đô, đặt tên nước
là Đại Ngu.
2.1.4. Đôi nét về đặc điểm của nhà nƣớc phong kiến Nhà Hồ (1400-1407)
Mặc dù thời gian cầm quyền ngắn nhưng Hồ Quý Lý đã có những cải cách táo bạo:
Chúa Nguyễn trị vì từ 1558 đến 1777, có 9 đời Chúa.
2.1.7. Đôi nét về đặc điểm của nhà nƣớc phong kiến Nhà Tây Sơn (1778-1802)
Anh em nhà Tây Sơn gồm có Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Trước tình
hình đất nước bị chia cắt, loạn lạc, anh em Tây Sơn đã tập hợp, tổ chức lực lượng, lãnh đạo
nông dân trong vùng khởi nghĩa năm 1771.
Năm 1778 diệt xong chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, lập nên triều đại
Tây Sơn, đóng đô ở Quy Nhơn (Bình Định).
Năm 1786 Nguyễn Huệ đem quân ra đánh quân Trịnh ở Thuận Hóa. Ngày 25 tháng
Sáu, năm 1786 tiến quân vào cố đô Thăng Long với khẩu hiệu “phò Lê diệt Trịnh”.
Vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Sauk hi vua mất,
Nguyễn Huệ đưa Ngọc Hân về Nam, giao quyền cho con cháu Nhà Lê. Nhưng rồi nội bộ Nhà
Lê lục đục, Nguyễn Huệ đem quân ra dẹp loạn., ông tổ chức lại bộ máy cai trị ở Bắc Hà. Đất
nước chấm dứt cảnh Trịnh-Nguyễn phân tranh.
Năm 1787, từ Bắc Hà trở về, Nguyễn Nhạc chia vùng đất phía Nam làm 3: từ đèo HảI
Vân trở ra thuộc Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, Đất Gia Định thuộc Đông Định Vương
Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc chiếm giữ miền Trung. Năm 1793 Nguyễn Nhạc qua đời.
Phía Bắc, năm 1788 Lê Chiêu Thống bỏ chạy ra nước ngoài, cuối năm đưa đường cho
quân xâm lược Mãn Thanh vào chiếm Thăng Long.
Ngày 25, tháng Giêng, năm Mậu Thân( ngày 22, tháng Mười Hai, năm 1788) Nguyễn
Huệ đưa quân ra Bắc Hà và lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung.
Năm 1789 đại quân Quang Trung đã đánh tan 29 vạn quân Thanh với trận Ngọc Hồi -
Đống Đa lừng danh.
Tháng Bảy, năm 1792 vua Quang Trung băng hà, con là Quang Toản lên ngôi, còn ít
tuổi, nội bộ lục đục, không chống lại được sức tấn công của Nguyễn ánh. Sự nghiệp Nhà Tây
Sơn tồn tại được 24 năm.
2.1.8. Đôi nét về đặc điểm của nhà nƣớc phong kiến Nhà Nguyễn (1802-1945)
Năm 1802, Nguyễn ánh diệt xong nhà Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Gia
Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế). Năm đó Gia Long đổi tên nước là Việt Nam.
Năm 1804 Nhà Thanh phái Tề Bồ Sâm sang phong vương cho Gia Long và ưng thuận
đặt tên nước là Việt Nam
Hồ Xuân Hương… Cũng giống như Hồ Quý Ly, Vua Quang Trung cũng có những bước cải
tiến trong việc phát triển văn hóa dân tộc: đưa chữ Nôm vào trường học, dịch truyện từ chữ
Hán ra chữ Nôm, sử dụng chữ Nôm trong các văn bản hành chính.
-Chữ Hán: Từ TK VIII, việc đọc chữ Hán bắt đầu theo cách đọc âm Hán đời Đường,
đến TK XI khi nhà Lý dời đô về Thăng Long, dựng Văn Miếu, lập Quốc Tử Giám và bắt đầu
mở khoa thi đầu tiên để tuyển người tài thì việc học sách thánh hiền bằng chữ Hán trở thành
công việc thường xuyên của các sĩ tử.
Hệ thống âm Hán Việt được hoàn thiện về cơ bản vào nửa cuối thế kỷ XI , nhưng khi
Nhà Minh xâm lược nước ta nhận thấy cách đọc chữ Hán của người Việt khác xa với họ, họ
đã bắt hàng trăm sĩ tử về Trường An học lại chữ Hán theo cách nhà Minh, nhưng khi nhà
Minh bị quét sạch thì chủ trương này cũng bị phá sản.
Và từ đó trở đi việc dùng âm Hán Việt giúp chúng ta dễ dàng khai thông sức mạnh
văn hóa, văn học truyền thống ở Việt Nam.
2.3 Một số nội dung về chính sách ngôn ngữ của Nhà nƣớc phong kiến độc lập
2.3.1 Đặt vấn đề
Trong một đất nước, một quốc gia có ba chỉ số quan trọng đó là: Quốc ca, quốc kì và
ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một trong những biểu tượng của sự thống nhất độc lập của một đất
nước, là phương tiện để gắn kết tình cảm, tinh thần giữa các thành viên và cả quốc gia.
Do tài liệu hạn chế nên luận văn này tập trung vào chính sách đối với chữ Hán, chữ
Nôm, chữ quốc ngữ.
2.3.2 Chính sách đối với chữ Hán
Một nhà nước với các thiết chế làm việc của nó cần phải có những phương tiện phục
vụ cho việc thông tin hành chính, mà trước hết là ngôn ngữ và chữ viết. Một cách tự nhiên,
chữ Hán và ngôn ngữ viết vẫn được sử dụng. “Ngay cả việc vay mượn chữ Hán rồi đây sẽ là
một yếu tố mới để xây dựng học thuật nước nhà. Chữ Hán sẽ là thứ chuyển ngữ cần thiết để
người Việt Nam, sau khi giành lại được quyền tự chủ, có thể học và hiểu sâu hơn đạo Phật,
đạo Khổng, đạo Lão và để xây dựng nền văn hóa mới” [18. tr 33].
Năm thế kỷ, từ thời tự chủ, chữ Hán đóng vai trò văn tự chính thức, văn tự nhà nước
và có ưu thế trong sáng tác. Độc lập, chủ quyền sẽ là tiền đề, là cái mở đầu cho rất nhiều vấn
đề xã hội, trong đó có các vấn đề về ngôn ngữ, văn tự.
tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ
Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng
hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ XI đến thời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới
thực sự hoàn chỉnh. Đến thế kỷ XVIII-XIX chữ Nôm đã có những bước phát triển mới. Các
tác phẩm như hịch Tây Sơn, khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm
bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du là những minh chứng cho sự phát triển của chữ
Nôm.
Như vậy có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra
đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc văn hóa riêng
Chữ Nôm ra đời đánh dấu bước phát triển của nền văn hóa dân tộc, ý thức tự cường
và khẳng định vai trò địa vị tiếng Việt. Với dân tộc Việt, chữ Nôm ra đời không phải để phủ
định chữ Hán mà để bổ khuyết vào những mảng còn thiếu của ngôn ngữ đời sống.
Khi hệ thống văn tự Nôm được hình thành và việc sáng tác thơ bằng chữ Nôm trở
thành phong trào thì đã có sự phân công giữa chữ Hán và chữ Nôm về mặt chức năng: chữ
Hán được dùng trong hành chính, giáo dục, trong giao tiếp triều chính còn chữ Nôm thì được
dùng trong giao tiếp, văn chương bình dân.
Chữ Nôm qua các thế kỷ là một điều đáng tự hòa về sức sống mạnh mẽ của dân tộc,
một biểu hiện cụ thể và phong phú về sự diễn tiến nhịp nhàng, vững chắc của Việt Nam ta từ
ngàn xưa cho đến ngày nay, mở ra một triển vọng mới cho sự phát triển ngôn ngữ và tiếng
nói dân tộc.
Nếu nhìn lịch sử thành những giai đoạn lớn thì có thể khẳng định rằng chữ Nôm là
thành tựu văn hóa của nhà nước phong kiến đang khẳng định độc lập, là sản phẩm tất yếu của
sự tiếp xúc với nền văn hóa Hán.
Đến thế kỷ XVII với việc truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam, các giáo sĩ
Phương Tây đã chế tạo ra hệ thống ký tự ghi tiếng Việt dựa trên chữ cái La tinh. Như vậy,
thời gian này tồn tại ba loại chữ: chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Trong đó chữ Hán
vẫn chiếm ưu thế nhưng bên cạnh đó có khá nhiều tài liệu văn học, triết học, lịch sử, luật học,
y khoa, tôn giáo được viết bằng chữ Nôm.
2.4. Tiểu kết
Trong chiều dài của lịch sử, chữ Hán đã thâm nhập vào hoạt động, văn hóa tinh thần
nhưng họ luôn có những việc làm, những hành động bổ sung cho nhau đẻ làm giàu cho ngôn
ngữ của mình. Chính sách ngôn ngữ của nhà nước phong kiến là không có thái độ ỷ lại mà
luôn tạo ra từ mới bằng cách dịch từ Hán, mượn nội dung ý nghĩa, không mượn vỏ âm thanh.
Có thể dùng từ Hán nhập tịch từ lâu và đã quen thuộc với người Việt. Bên cạnh đó mạnh dạn
dùng tiếng Việt, bám sát ngôn ngữ nói kể cả những từ cửa miệng, không phân biệt từ thanh,
từ thô, từ nào nói đúng ý mình là từ hay.
Có thể thấy chính sách ngôn ngữ của nhà nước phong kiến độc lập luôn luôn trong thế
vận động, nỗ lực và khát khao đến đích của sự ổn định và hoàn thiện.
3.2 Liên hệ với chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nƣớc ta hiện nay
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ quốc gia, ngôn
ngữ chính thức của Việt Nam, được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực: từ công văn hành chính
đến giáo dục, văn hóa, khoa học…
Ngôn ngữ quốc gia được hiểu là ngôn ngữ được chính thức thừa nhận trong đời sống
quốc gia. Nó có tính hiến định và pháp lệnh, được xác định là một trong 3 chỉ tố: quốc kỳ,
quốc ca.
Xác lập vị thế ngôn ngữ quốc gia của tiếng Việt, Đảng và Nhà nước ta đồng thời chỉ
ra phương hướng phát triển của tiếng Việt, đó là dân chủ hóa và quần chúng hóa.
Tiếng Việt được sử dụng trong mọi lĩnh vực và được pháp luật bảo vệ (được quy
định trong Hiến pháp năm 1946, điều 18; Sắc lệnh 19; sắc lệnh 20 của Chính phủ lâm thời
Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 08/9/1945). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tiếng nói là
thứ của cảo vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc.Chúng ta phải giữ gìn nó, quý
trọng nó làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp…” Trước lời căn dặn đó, đã có nhiều
cuộc vận động nhằm phát triển tiếng Việt. Đầu tiên là cuộc vận động cải tiến chữ quốc ngữ,
tiếp theo là cuộc vận động giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Thứ ba là cuộc vận động
chuẩn hóa tiếng Việt. Tất cả đều được thông qua các Quy định. Nghị định, Quyết nghị của
Đảng và Nhà nước mà cơ quan đại diện là Bộ giáo dục và Đào tạo.
Trong việc bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, Đảng và Nhà nước cũng có những
văn bản uốn nắn trong việc sử dụng tiếng Việt như Nghị định số 194-CP ngày 31/12/1994 về
hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, Nghị định số 87-CP ngày 12/12/1995 về quy
định lưu hành, kinh doanh phim, băng đĩa hình, hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa nơi
giảm là một nhu cầu bức bách. Muốn cho tộc người Arem chẳng hạn không suy giảm dân số
với tỷ lệ 1% năm, đó là vấn đề sản xuất, đó là vấn đề y tế mà cả cộng đồng phải giải quyết.
Cũng vậy, muốn những người Ơ đu có điều kiện duy trì tiếng mẹ đẻ của mình, cộng đồng nhỏ
bé của họ hiện nay phải được phát triển, phát triển tới mức họ có nhu cầu dùng tiếng mẹ đẻ
trong giao tiếp hàng ngày. Phải nâng cao chất lượng tiếng mẹ đẻ của họ trong giao tiếp cộng
đồng. Cách tốt nhất để làm được điều này là duy trì tiếng mẹ đẻ trong hoạt động văn hóa của
cả dân tộc. Chính văn hóa truyền thống hay bản sắc văn hóa của các dân tộc là cái nền tốt
nhất để lưu giữ ngôn ngữ của họ. Vì thể để đảm bảo ngôn ngữ của các dân tộc có nguy cơ bị
suy thoái không bị mai một, một công việc tốt nhất là khơi dậy và làm sống lại hoạt động văn
hóa tuyền thống của chính họ”.
Chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với ngôn ngữ dân tộc là
đúng đắn., đáp ứng được vấn đề dân tộc và ngôn ngữ ở Việt Nam trong công cuộ giảI phóng
dân tộc và xây dựng Tổ Quốc.
3.3. Tiểu kết.
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước thì chính sách ngôn ngữ là một bộ phận trong
tổng thể chính sách về vấn đề dân tộc. Đây là sự vận động có tính kế thừa và sáng tạo những
tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin. Theo đó chính sách ngôn ngữ được xây dựng trên
nguyên tắc cơ bản là tôn trọng và đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
Lấy tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam
cho hành động, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những đường lối chính sách phù hợp với điều
kiện và tình hình thực tế đất nước, trong từng thời kỳ cách mạng cụ thể. Trong điều kiện là
Đảng cầm quyền, Đảng đã cụ thể hóa chính sách ngôn ngữ trong các nghị quyết, chỉ thị của
Chính phủ, trong các quyết định, thông tư hướng dẫn thực hiện của Bộ giáo dục và đào tạo.
Tất cả các điều đó đều được luật pháp hóa trong Hiến pháp nhà nước cũng như trong các luật
cơ bản khác như Luật giáo dục, luật phổ cập giáo dục tiểu học.
Cùng với việc xác định vai trò của tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ phổ thông dùng
chung cho các dân tộc, trong tất cả các lĩnh vực, Đảng và Nhà nước ta còn coi việc đảm bảo
quyền sử dụng và duy trì tiếng mẹ đẻ của các dân tộc là bất khả xâm phạm. Với chủ trương
vừa dạy tiếng Việt vừa dạy tiếng mẹ đẻ đối với các dân tộc thiểu số đã thể hiện được tư tưởng
mang tính toàn dân, hiện đại và phù hợp với sự phát triển của đất nước. Việc dạy tiếng mẹ đẻ
Quá khứ luôn theo đuổi và ăn sâu vào tâm tư chúng ta, luôn can dự vào sự nghiệp của
chúng ta hôm nay, và sẽ còn hiện diện trong xã hội ngày mai. Tìm hiểu quá khứ không chỉ vì
quá khứ mà còn vì hiện tại và tương lai.
3. Lịch sử phát triển của dân tộc ta là lịch sử của mối quan hệ biện chứng giữa tính
liên tục và tính đứt đoạn. Tính liên tục thể hiện ở chỗ các giai đoạn đều nối tiếp nhau, cái sau
vừa phủ định vừa kế thừa cái trước. Tính đứt đoạn thể hiện ở chỗ sự phát triển được phân
chia thành những giai đoạn lịch sử khác nhau. Truyền thống được gắn liền với hiện đại, nghĩa
là truyền thống phải chứng minh lý do tồn tại ở chỗ nó thích hợp với hiện đại, góp phần thúc
đẩy sự phát triển của hiện đại. Ngược lại hiện đại không bao giờ cắt đứt với truyền thống.
Hiện đại là sự nói tiếp của truyền thống trong thời kỳ mới, là điều kiện và cơ sở để bảo tồn và
đổi mới truyền thống.
Trong tiến trình phát triển của dân tộc, cha ông ta luôn luôn đề cao việc bảo vệ ngôn
ngữ dân tộc đó là tiếng Việt đồng thời tiếp thu tiếng Hán để làm cho ngôn ngữ dân tộc ngày
càng phong phú. Đây là một cuộc đấu tranh lâu dài diễn biến qua nhiều thế hệ, trong đó
không chỉ có tinh thần dân tộc mà còn có tính giai cấp. Giai đoạn nhà nước phong kiến độc
lập là giai đoạn mà cùng với dân tộc, nền văn hóa trong đó có chính sách ngôn ngữ phải vận
động và có ý thức đối chọi với nhiều thách thức gay gắt từ môi trường chính trị và văn hóa
khu vực. Do sự vận động nội tại cùng với những tác động ngoại sinh mà chính sách ngôn ngữ
luôn luôn có sự chuyển hóa mạnh mẽ.
Sự ra đời của chữ Nôm đã đáp ứng được nhu cầu của dân tộc trong sự phát triển văn
hóa, góp phần nâng cao địa vị tiếng Việt. Chữ Nôm mãi mãi là đứa con tinh thần của người
Việt, gắn liền với truyền thống nghìn năm đã qua và về sau.
4. Nghiên cứu chính sách ngôn ngữ của cha ông ta chúng ta thấy rõ ràng về cơ bản là
phù hợp với tình hình phát triển cụ thể của thực tế đời sống, trình độ phát triển, nhu cầu bức
thiết của dân tộc. Tìm hiểu chính sách ngôn ngữ của cha ông ta để từ đó hoạch định những
bước đi trong việc xây dựng chính sách ngôn ngữ cho mình:
Đảng và Nhà nước ta đã có những đường lối, chủ trương đúng đắn trong việc phổ
biến, phát triển, hiện đại hóa Tiếng Việt. Song việc thực hiện còn một số hạn chế như:
+ Chúng ta chưa có luật Ngôn ngữ và cũng chưa có một cơ quan chuyên trách có
thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ.
Thông tin, Hà Nội.
2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
3. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
4. Trần Trí Dõi (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội.
5. Trần Trí Dõi (2003), Chính sách ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc ở Việt Nam, Nxb
Đại học Quốc gia, Hà Nội.
6. Trần Trí Dõi và Nguyễn Văn Thiện (2001), Tính thực tiễn trong chính sách giáo
dục ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta đối với vùng dân tộc thiểu số, Tạp chí Ngôn ngữ &
đời sống, Số 10.
7. Nguyễn Thiện Giáp, Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử,
Trang wed: .
8. Hoàng Văn Hành (2008), “Mấy vấn đề về cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở
Việt Nam - thực trạng và triển vọng”, Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
9. Hoàng Văn Hành (2008), “Những định hướng và bình diện của công cuộc giữ gìn
sự trong sáng và chuẩn hóa tiếng Việt”, Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
10. Nguyễn Văn Khang (2003), Kế hoạch hóa ngôn ngữ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội.
11. Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
12. Nguyễn Văn Khang (2008), “Chuẩn hóa thuật ngữ, nhìn lại từ góc độ bối cảnh xã
hội”, Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
13. Nguyễn Văn Khang (2008), “Những vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ và chuẩn hóa
tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, Số 12.
14. Nguyễn Văn Lợi (2000), “Một số vấn đề về chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia
đa dân tộc”, Tạp chí Ngôn ngữ, Số 1.
Hà Nội.
33. Tổng tập nghìn năm văn hiến Thăng Long (2008), tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin,
Hà Nội.
34. Tổng tập nghìn năm văn hiến Thăng Long (2009), tập 3, Nxb Văn hóa Thông tin,
Hà Nội.
35. Tổng tập nghìn năm văn hiến Thăng Long (2009), tập 4, Nxb Văn hóa Thông tin,
Hà Nội.
36. Viện Ngôn ngữ học, Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân
tộc (1997), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
37. Viện Ngôn ngữ học, Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam (2002),
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
38. Viện Ngôn ngữ học, Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam (1993), Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội.