ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA-NGỮ PHÁP CỦA PHÁT
NGÔN HỎI-CẦU KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đào Thanh Lan HÀ NỘI - 2005 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
3. Khả năng kết hợp của cấu trúc “P + hay không/Hay + P?” với tiểu từ cầu khiến “đi”, “nào” 46 4
4. Mô hình 47
4.1. Kiểu 1: P + hay không? 47
4.2. Kiểu 2: Hay + P? 47
A2. P + chứ? 48
1. Nhận xét chung 48
2. Nội dung ngữ nghĩa (chia theo hành vi) 50
2.1. Hành vi rủ rê 50
2.2. Hành vi mời mọc 51
2.3. Hành vi thúc giục 52
2.4. Hành vi xin phép 53
2.5. Hành vi đề nghị 54
2.6. Hành vi yêu cầu 55
3. Đặc điểm cấu trúc 55
3.1. Khả năng kết hợp của vị từ, bổ ngữ với D
2
(người nghe) 55
3.2. Khả năng kết hợp của vị từ, bổ ngữ với D
1
(người nói) 56
3.3. Khả năng kết hợp của chủ ngữ ngữ pháp, bổ ngữ với vị từ 57
3.4. Nhận xét về các phát ngôn cầu khiến có tiểu từ “thôi, đi, với, đã” trong kết hợp với “chứ”
57
4. Mô hình cấu trúc 62
5. Nhận xét 63
B. NHÓM 2: PHÁT NGÔN HỎI - CẦU KHIẾN KHUYÊN KHÔNG NÊN HÀNH ĐỘNG 63
1. Nhận xét chung 63
HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ 83
1. Nhận xét chung 83
2. Nội dung ngữ nghĩa 86
2.1. Hành vi đề nghị 86
2.2. Hành vi thỉnh cầu 86
2.3. Hành vi rủ rê 87
2.4. Hành vi mời mọc 87
3. Các sắc thái nghĩa phụ 87
3.1. Hướng ngoại: người nói ra lệnh cho người nghe phải làm gì. Đó là các hành vi đề nghị,
mời, rủ rê 87
3.2. Hướng nội: người nói xin phép người nghe làm gì. Đó là hành vi thỉnh cầu. 88
4. Đặc điểm cấu trúc 88
4.1. Vị trí của vị từ 88
4.2. Khả năng kết hợp của tổ hợp “có thể … không/được không?” với vị từ 89
5. Nhận xét 91
E. NHÓM 5: PHÁT NGÔN HỎI - CẦU KHIẾN MANG Ý NGHĨA PHỦ ĐỊNH 91
1. Nội dung ngữ nghĩa của các từ “sao” và “ai” 91
2. Các sắc thái nghĩa phụ của các phát ngôn chứa “sao” và “ai” 94
2.1. Các phát ngôn chứa “sao” 94
3. Cấu trúc “sao + P?” có thể tham gia biểu đạt một số hành vi 95
3.1. Hành vi khuyên nhủ 95
3.2. Hành vi yêu cầu 95
3.3. Hành vi ra lệnh 95 6
3.4. Hành vi đề nghị 96
4. Cấu trúc “ai + P?” có thể tham gia biểu đạt các hành vi: 96
4.1. Hành vi ra lệnh 96
4.2. Hành vi đề nghị 97
1. Ngữ cảnh của phát ngôn hỏi - cầu khiến 120
2. Ngôn cảnh của phát ngôn hỏi - cầu khiến 123
III. PHÁT NGÔN HỎI - CẦU KHIẾN NHÌN TỪ HÀNH VI NGÔN NGỮ 124
1. Lượng hành vi trong một phát ngôn hỏi - cầu khiến 124 7
2. Lực tại lời cầu và khiến ở phát ngôn hỏi - cầu khiến 126
3. Phát ngôn hỏi - cầu khiến và lịch sự 127
KẾT LUẬN 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
Luận văn này có nhiệm vụ khái quát là nghiên cứu các phát ngôn không
có hình thức câu cầu khiến đặc hữu nhưng lại hàm ý cầu khiến do điều kiện
riêng của các ngữ cảnh cụ thể. Cụ thể là các phát ngôn có đặc trưng hình thức 4
câu hỏi theo phép phân loại truyền thống nhưng lại mang ý nghĩa ra lệnh hoặc
sai khiến. Một cách giản dị hơn, có thể gọi đó là các phát ngôn cầu khiến gián
tiếp.
Những mô hình dạng này khi đã được khái quát hóa sẽ được chứng tỏ
thông qua các nét nghĩa cú pháp cụ thể mà chúng bao hàm. Đó chính là cách
nhìn nhận một cách đa chiều cho loại phát ngôn hỏi - cầu khiến. Do cách tiếp
cận mới, luận văn chắc sẽ có những đóng góp cụ thể hơn đối với khảo sát bản
chất hình thức cũng như chức năng của loại phát ngôn hỏi - cầu khiến. Qua đó
người viết muốn góp thêm những cứ liệu thực tế cho việc biên soạn những cuốn
ngữ pháp mới từ cách nhìn nhận theo chức năng luận. Những mô hình đã được
khái quát này, do vậy, cũng sẽ làm phong phú thêm danh sách các biểu hiện lời
của người Việt trong các tài liệu và sách giáo khoa dạy tiếng Việt với tư cách
ngôn ngữ mẹ đẻ hoặc với tư cách là ngôn ngữ thứ hai.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu dựa trên quan điểm ngữ pháp chức năng, tức là
nghiên cứu phát ngôn trong hoạt động hành chức, gắn trong mối quan hệ với
người nói, người nghe, thời gian, không gian, hay nói một cách khác là nghiên
cứu phát ngôn trong một ngữ cảnh (context) cụ thể; đồng thời nghiên cứu chúng
trong mối quan hệ với các hình thức ngôn ngữ cùng xuất hiện trên văn bản có
hiện tượng ngôn ngữ được khảo sát, gọi là ngôn cảnh (co-text)
1
. Từ đó, chúng
Luận văn ngoài Mở đầu và Kết luận, gồm ba chương chính:
Chương I: Những cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
I. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (speech acts)
II. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp - Phát ngôn hỏi và phát ngôn cầu khiến
1. Phát ngôn hỏi.
2. Phát ngôn cầu khiến.
III. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp: Phát ngôn hỏi - cầu khiến
1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp.
2. Hành vi cầu khiến gián tiếp.
3. Phát ngôn hỏi - cầu khiến.
IV. Hàm ngôn và ý nghĩa cầu khiến
V. Phát ngôn hỏi - cầu khiến và tính lịch sự
Chương II: Mô tả các dạng phát ngôn hỏi mang ý nghĩa cầu khiến
trong tiếng Việt. là phát ngôn hỏi. Môi trường ngôn ngữ ở đây là “Tất nhiên, Bel có nhỉnh hơn cô vì cô ấy tốt bụng và
đôn hậu hơn” và “Chàng đủng đỉnh đi ra cửa, một bên lông mày nhướn lên giễu cợt”.
6
A. Nhóm 1: Phát ngôn hỏi - cầu khiến có định hướng trả lời.
B. Nhóm 2: Phát ngôn hỏi - cầu khiến khuyên không nên hành động.
C. Nhóm 3: Phát ngôn hỏi - cầu khiến dạng thức có từ hỏi “có …
không?”.
D. Nhóm 4: Phát ngôn liên quan đến khả năng kêu gọi người tiếp nhận có
thể có một hành động cụ thể.
E. Nhóm 5: Phát ngôn hỏi - cầu khiến mang ý nghĩa phủ định.
F. Nhóm 6: Phát ngôn hỏi - cầu khiến chứa tiểu từ cầu khiến.
đúng - sai theo tiêu chuẩn của lôgíc học. Austin, một nhà triết học người Anh, là
người đầu tiên đã đưa ra lý thuyết hành vi ngôn ngữ. Theo ông, một phát ngôn
không chỉ nhằm miêu tả về các sự vật hiện tượng, không chỉ được đánh giá theo
tiêu chuẩn đúng - sai của lôgíc. Ngược lại, có những phát ngôn mà khi nói ra thì
đồng thời cũng là thực hiện ngay cái hành động đó trong phát ngôn. Đó chính là
các phát ngôn ngôn hành (phát ngôn ngữ vi). “Phát ngôn ngữ vi là những phát
ngôn mà khi người ta nói chúng ra thì đồng thời người ta thực hiện ngay cái
việc được biểu thị trong phát ngôn”.
Ví dụ:
a. Tôi mời ông đến nhà tôi chơi.
(Biệt thự xanh, Hoàng Dân)
b. Chúng tôi hứa sẽ đảm bảo an toàn cho mẹ con chị.
(Biệt thự xanh, Hoàng Dân)
Khi nói “tôi mời”, “chúng tôi hứa” tức là người ta đã thực hiện ngay hành
động “mời”, “hứa” thông qua các động từ ngữ vi “mời”, “hứa”. Nội dung những
phát ngôn trên không thể nói rằng nó đúng sự thật hay sai sự thật, như khi nói về
một câu trần thuật bình thường. Những phát ngôn ngữ vi không thể sai được mà
chỉ có thể bất ổn do vị thế người nói theo quy ước xã hội là không có quyền nói 8
như vậy. Con không thể nói với mẹ: Tôi cấm bà đi ra ngoài đường, mà chỉ
người mẹ mới có quyền nói với người con như phát ngôn trên. Tuy nhiên, một
phát ngôn sẽ không thể là phát ngôn ngữ vi nếu chủ thể không phải là ngôi thứ
nhất, thời không phải là hiện tại và thức không phải là thức thực hiện.
c. Nó tuyên bố ngày mai sẽ lấy vợ.
d. Tôi đã hứa là sẽ đến nhà nó chơi.
Hai phát ngôn trên sử dụng các yếu tố: chủ thể là ngôi thứ 3 (nó), thời là
quá khứ (đã) nên chúng không phải là các phát ngôn ngữ vi.
Theo Austin, có 3 loại hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn: tạo lời, tại
khách quan).
Như vậy, để thực hiện một hành vi hỏi, cầu khiến, cảm thán, trần thuật, có
thể dùng những cấu trúc điển hình của từng loại hành vi. Đó gọi là hành vi trực
tiếp. Hành vi trực tiếp là hành vi tại lời được thực hiện một cách trực tiếp bằng
hình thức ngôn từ đặc trưng tương ứng, không cần thực hiện gián tiếp thông qua
một hành vi tại lời khác.
Trong bản luận văn này, mục đích mà chúng tôi muốn hướng tới là
nghiên cứu các phát ngôn hỏi - cầu khiến nên hành vi ngôn ngữ trực tiếp hỏi và
cầu khiến sẽ được xem xét trong phần II dưới đây.
II. HÀNH VI NGÔN NGỮ TRỰC TIẾP - PHÁT NGÔN HỎI VÀ PHÁT
NGÔN CẦU KHIẾN
1. Phát ngôn hỏi
1.1. Nội dung ngữ nghĩa - mục đích phát ngôn
Câu hỏi yêu cầu một câu trả lời thông báo về một sự tình hay về một tham
tố nào đó của một sự tình được tiền giả định là hiện thực
2
. Hoàng Trọng Phiến
thì nói câu hỏi hỏi về “cái không rõ” mà câu trả lời cần có nhiệm vụ trả lời “cái
không rõ” đó. Vì vậy, nội dung ngữ nghĩa của câu hỏi được tạo thành nhờ hai
nhân tố sau đây: 2
Tác giả Hoàng Trọng Phiến dùng khái niệm “câu hỏi” nhưng thực ra khái niệm này vẫn tương đương
với cách quan niệm của chúng tôi là “phát ngôn hỏi”. Trong bản luận văn này, hai khái niệm này
không khác nhau. 10
11
- Mợ đã xơi cơm chưa để bảo nó dọn lên?
Rồi bà lên tiếng gọi con gái:
- Bích ơi, con dọn cơm lên để chị xơi.
(Đoạn tuyệt, Nhất Linh)
d. Các tiểu từ chuyên dụng: à, ư, nhỉ, nhé, hả, hở, chứ, chớ. Ví dụ:
Anh chưa xứng đáng được biết đời em à?
(Đống rác cũ, Nguyễn Công Hoan)
Ông Quán! Thế nào? Ông biết chứ?
(Đám cưới không có giấy giá thú, Ma Văn Kháng)
e. Chỉ dùng ngữ điệu đơn thuần (không có các phương tiện đã nói ở
trên đi kèm). Ví dụ:
Cẩm đã vậy, còn Dương?
(Đám cưới không có giấy giá thú, Ma Văn Kháng)
2. Phát ngôn cầu khiến
2.1. Nội dung ngữ nghĩa - mục đích phát ngôn
Theo Hoàng Trọng Phiến, “Câu cầu khiến có nhu cầu của ý chí làm thành
yếu tố thường trực của câu. Nó nêu lên ý muốn của chủ thể phát ngôn và yêu
cầu người nghe đáp lại bằng hành động. Do đó, câu cầu khiến gắn liền với ý
nghĩa hành động”.
Như vậy, nội dung ngữ nghĩa của câu cầu khiến được tạo thành nhờ hai
nhân tố sau:
a. Sự có mặt ý muốn của chủ thể phát ngôn để hiện thực hóa cái biểu vật
của câu.
b. Sự có mặt của nhu cầu ý chí, đó chính là nguyện vọng, ý định của chủ
thể phát ngôn. Chủ thể phát ngôn tác động đến người nghe để họ thực hiện một
hành động phản hồi lại ý chí, nguyện vọng của mình.
2.2. Mô hình cấu trúc
K + Y’ !
13
Thừa chỉ dẽ dàng bảo con:
- Bận sau, con nên cẩn thận. Bán vé dễ lầm lẫn lắm.
(Đống rác cũ, Nguyễn Công Hoan)
Anh phải dừng lại.
(Truyện ngắn, Ma Văn Kháng)
b. Động từ ngôn hành cầu khiến: yêu cầu, ra lệnh, đề nghị…
Đề nghị đồng chí giao việc.
(Mẫn và tôi, Phan Tứ)
c. Các động từ cầu khiến khác: hộ, giúp, để,
Anh cứ để tôi nói.
(Truyện ngắn, Ma Văn Kháng)
III. HÀNH VI NGÔN NGỮ GIÁN TIẾP: PHÁT NGÔN HỎI - CẦU
KHIẾN
Như trên chúng tôi đã đề cập đến hành vi ngôn ngữ trực tiếp, bao gồm hỏi
và cầu khiến. Tuy nhiên trong thực tế, ngoài các phát ngôn đơn thuần là hỏi hay
cầu khiến, còn có những loại nằm trung gian giữa hai loại này. Đó là các phát
ngôn có hình thức hỏi nhưng mang hành vi gián tiếp cầu khiến bao gồm những
đặc điểm về mặt hình thức là của câu hỏi, nhưng về nội dung là cầu khiến. Hay
nói cách khác, đó là các phát ngôn có hành vi tại lời là hỏi nhưng hướng tới
hành vi tại lời khác là cầu khiến. Dùng một hành vi tại lời này cho một hành vi
tại lời khác, gọi là hành vi ngôn ngữ gián tiếp.
1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ gián tiếp (Indirect speech acts)
Khái niệm này lần đầu tiên được Searle đưa ra vào năm 1969 và được
phát triển trong công trình “Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp” (Searle, 1975).
Searle đã nhận thấy một hành vi tại lời được nói ra nhưng lại nhằm hướng tới
một hành vi tại lời khác theo ý đồ của người nói. Chẳng hạn:
Bà Thuận Thành hậm hực, giận cá chém thớt, quay sang chị Mười:
15
1. Cấu trúc mệnh lệnh (Imperatives)
2. Cấu trúc nghi vấn (Interrogatives)
3. Cấu trúc trình bày (Declaratives)
4. Cấu trúc khuyết thiếu (Elliptical constructions)
(Dẫn theo Nguyễn Văn Độ)
Sự phân biệt giữa hành vi cầu khiến trực tiếp và hành vi cầu khiến gián
tiếp chủ yếu dựa trên khái niệm “hàm ý hội thoại” của Grice (1975). Một phát
ngôn được nói ra nếu đối ngôn hiểu được ngay ý định cầu khiến của chủ ngôn
và không trải qua một quá trình suy ý nào thì đó là hành vi cầu khiến trực tiếp.
Ngược lại, một hành vi cầu khiến được coi là gián tiếp nếu người nói che giấu ý
định cầu khiến dưới hình thức một hành vi tại lời khác và đối ngôn phải trải qua
một quá trình suy ý.
Trong tiếng Việt, ý nghĩa cầu khiến có thể được thể hiện dưới hình thức
trần thuật, hỏi, cảm thán.
Trên thực tế có phát ngôn nếu đặt ra ngoài ngữ cảnh cụ thể thì chúng
không nhằm một thông báo nào cả. Cái đích ngôn ngữ cuối cùng mà người nói
muốn biểu đạt chỉ có thể xác định được trong một ngữ cảnh. Một kết cấu trần
thuật, hỏi hay cảm thán đều có thể chứa hành vi cầu khiến.
a. Hình thức trần thuật
Kinh chợt nhận ra có tiếng réo của những trái bom đang xé không khí
trên khoảng trời xám mù mịt …
- Tất cả nằm xuống! Trên đầu hàng quân, tiểu đoàn trưởng Xướng đã hạ
lệnh.
Kinh nhắc lại mệnh lệnh của Xướng.
(Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu)
Trong trích đoạn trên, “Tất cả nằm xuống” có hình thức trần thuật, kể lại
một sự tình. Nhưng người nghe, tuy nhiên hiểu ngay hàm ý đề nghị của người
LOẠI PHÁT NGÔN
HỎI
CẦU KHIẾN
HỎI - CẦU KHIẾN
MÔ HÌNH
X + Y ?
K + Y' !
X + Y K + Y' ? 17
Ý NGHĨA CỦA MÔ
HÌNH
X: "cái chưa rõ".
K: Ý muốn của chủ
thể phát ngôn.
K: Ý muốn của chủ
thể phát ngôn.
Y: Nhu cầu, ý chí
của người hỏi để
người nghe trả lời
"cái chưa rõ".
Y': Nhu cầu, ý chí
của người nói để
người nghe đáp lại
bằng hành động.
Y': Nhu cầu, ý chí
của người nói để
người nghe đáp lại
c. Quan điểm của Nguyễn Chí Hòa
“Ngữ cảnh với tư cách là một mảng của hiện thực khách quan ngoài
ngôn ngữ nhưng tạo điều kiện cho việc xuất hiện phát ngôn và xác định ý nghĩa
của chúng”.
d. Quan điểm của Cao Xuân Hạo
“Một phát ngôn bao giờ cũng được thực hiện trong một tình huống nhất
định kể cả tình huống bên ngoài lẫn tình huống của quá trình hội thoại (thường
được gọi là văn cảnh hay ngôn cảnh)”.
e. Quan điểm của Chu Thị Thủy An
“Theo chúng tôi đối với một câu cầu khiến, tình huống xuất hiện của nó
phải là một hiện thực chứa những lý do, nguyên nhân ràng buộc, thôi thúc khả
năng, nhu cầu, nguyện vọng của người nói. Hiện thực này có thể tác động đến
lợi ích của người nói và có khi cả lợi ích của người nghe”.
f. Quan điểm của Đỗ Hữu Châu
“Hoàn cảnh giao tiếp là cái thế giới xã hội và tâm lý mà trong đó ở một
thời điểm nhất định người ta sử dụng ngôn ngữ. Nó ít nhất bao gồm những tín
điều, những tiền ước của người nói (kể cả người nghe) về thời gian, không gian
về thiết chế xã hội về các hành động đã qua, đang diễn ra và trong tương lai
(hành động bằng lời và không bằng lời).
g. Quan niệm của luận văn 19
Nhìn chung các tác giả đều thống nhất với nhau quan niệm điều kiện để
cho ngữ cảnh xuất hiện: môi trường thực hữu trong đó các từ ngữ xuất hiện tuy
thuật ngữ này có ngoại diên rộng hẹp khác nhau. Và họ cũng đều cho rằng ngữ
cảnh là yếu tố không thể thiếu được khi nghiên cứu lời nói. Chúng tôi cho rằng,
một ngữ cảnh (context) là môi trường vật lý đầu tiên không thể thiếu được
đối với sự xuất hiện và tồn tại của một phát ngôn hỏi - cầu khiến. Để nói về
tầm quan trọng của ngữ cảnh trong việc lý giải ý nghĩa của câu, có thể trích dẫn
nghĩa của động từ “để”. Người nói muốn người tiếp nhận thực hiện “để” tức là
đừng ngăn cản nhân vật thứ ba “đi”.
Về vị ngữ cầu khiến: vị ngữ cầu khiến bao gồm hai yếu tố cơ bản:
+ Yếu tố thứ nhất: là hành vi truyền đạt ý chí từ người nói đến người
nghe. Hạt nhân của hành vi cầu khiến với tư cách là một kiểu hành vi lời nói
liên quan đến hoạt động điều khiển, chi phối là bản thân hành động của người
nói: tự nhận mình là C1 (chủ thể cầu khiến) truyền đạt ý chí sang cho C2 và C2
phải thực hiện vai trò chủ thể hành động.
+ Yếu tố thứ hai là nội dung từ vựng cụ thể của sự truyền đạt ý chí đó: vị
ngữ động từ, các trợ từ, các yếu tố xung quanh vị từ. Hình thức điển hình của vị
ngữ cầu khiến thường là cấu trúc được đánh dấu bằng sự vắng khuyết chủ thể -
chủ ngữ, tức là nội dung cầu khiến và chức năng C2 được biểu hiện trực tiếp
trong vị ngữ động từ. Ngôi thứ hai của C2 sẽ gián tiếp chỉ ra vai trò, sự có mặt
của C1.
Hướng: Bondarco cho rằng trong thành phần nội dung của tình huống
cầu khiến có sự tác động của C1 đến C2.
b. Quan điểm của Hymes (1964)
Ông bắt đầu nêu ra các đặc điểm của ngữ cảnh tương thích với việc xác
định loại sự kiện lời nói. Đó là:
Người phát: là người nói hay người viết đã tạo ra phát ngôn.
Người nhận: là người nghe hay người đọc nhận được phát ngôn. 21
Không gian.
Thời gian.
Chủ đề (topic).
Ngoài ra, Hymes còn đưa ra các đặc điểm ở diện rộng như:
Kênh (channel): Giao tiếp giữa các đối tượng tham gia vào sự kiện diễn
ra như thế nào - bằng lời nói, viết, ra dấu, những dấu hiệu bằng khói.