ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA CÚ PHÁP CỦA VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG CÓ BỔ NGỮ TRỰC TIẾP TRONG TIẾNG VIỆT - Pdf 39

1

MỤC LỤC

ĐỀ MỤC

TRANG

........................................................................................................................................................ 62


2

DẪN NHẬP
Lý do chọn đề tài

1.

Những vấn đề về vị từ trong thời gian gần đây đã trở nên gần gũi với giới
ngôn ngữ học và được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiên cứu. Nhiều công
trình được thực hiện nhằm nghiên cứu về vị từ hoặc những vấn đề có liên quan đến
vị từ được thực hiện. Tuy nhiên, đến thời điểm này, đây vẫn là một vấn đề còn gây
nhiều tranh cãi.
Trong thời gian qua, rất nhiều nhà ngôn ngữ học trong những công trình
nghiên cứu của mình đã đề cập đến vị từ chuyển động trong đó có thể kể đến các tác
giả như: Leonard Talmy, Levin, Slobin hay Ramchand… Tuy nhiên, đối với Việt
ngữ học, những vấn đề về vị từ chuyển động nói chung và vị từ chuyển động có bổ
ngữ trực tiếp nói riêng dường như vẫn chưa được nhiều tác giả quan tâm, đi sâu vào
nghiên cứu.
Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn cho mình công việc đi sâu vào tìm hiều về
đặc trưng ngữ nghĩa, cú pháp của vị từ chuyển động có bổ ngữ trực tiếp trong tiếng

nghiên cứu về vấn đề này, trong đó phải kể đến Jackendoff (1976), Berman &
Slobin (1994), Hoiting & Slobin (1994), Ozcaliskan & Slobin, (1999, 2000a, 2000b,
2003), Slobin (1996, 1997, 2000, 2003, 2004, 2005a, 2005b, 2005c) (theo Slobin,
2006)[11]. Slobin đã bổ sung thêm loại hình ngôn ngữ định khung đồng bộ vị - phụ
từ và một số tiểu loại hình khác được sử dụng trên thế giới.
Trong “The semantics of three Mpyemo prepositions”, khi bàn về vấn đề động
từ chuyển động, Ivan Lowe và Paul Murrel cho rằng khi nghiên cứu về động từ cần
phải nghiên cứu dựa trên ngữ nghĩa của nó trong mệnh đề. Hai tác giả cho rằng
“động từ chuyển động là động từ mô tả tình huống có vật thể chuyển động. Vật thể
chuyển động được định nghĩa là bất kỳ thực thể có chuyển động vật lý hoặc do
tưởng tượng”, [16,tr.203]. Theo hai tác giả này, động từ chuyển động được phân ra
thành động từ nội động và động từ ngoại động. Một động từ không được coi là động
từ chuyển động khi động từ đó mô tả một tình huống không có bất kỳ vật thể
chuyển động nào. “Trong trường hợp có vật thể chuyển động, tức nói về động từ
chuyển động, theo hai tác giả, chúng ta cần nhìn vào sự chuyển động của vật thể
chuyển động. Sự chuyển động của vật thể chuyển động được sử dụng bằng sơ đồ
hình ảnh: Source – Path – Goal (SPG). Tùy thuộc vào động từ chuyển động và từng
câu mà động từ chuyển động đó được sử dụng, chúng ta có thể tập trung vào một
trong ba yếu tố bất kỳ trong sơ đồ này. Nghĩa là nếu động từ chuyển động trong câu
tập trung vào mục tiêu/đích của chuyển động, ta có sơ đồ (SPG); động từ chuyển
động trong câu tập trung vào điểm xuất phát của chuyển động, ta có sơ đồ tương
ứng (SPG); động từ chuyển động trong câu tập trung vào lối đi (hay hướng) của
chuyển động, ta có sơ đồ tương ứng (SPG)” [16,tr.203]. Như vậy, theo Ivan Lowe
và Paul Murrel, các tiêu chí quan trọng cần có cho một mệnh đề với động từ chuyển
động là vật thể chuyển động, và một trong ba yếu tố được coi là vật mốc, vật quy
chiếu trong không gian: điểm xuất phát của chuyển động, con đường của chủ thể
chuyển động và đích của chuyển động. Trong đề tài này, chúng tôi cũng sẽ tập trung
nghiên cứu, khảo sát và thống kê vị từ chuyển động theo khuynh hướng của Ivan
Lowe và Paul Murrel.


xét mà mới chỉ có tính chuyển động được xem xét.
Trong “Ngữ pháp tiếng Việt” (1986), tác giả Đinh Văn Đức cũng gọi các động
từ ra, vào, lên, xuống là các động từ chuyển động [3]. Tuy nhiên, vấn đề về hướng
và phương thức chuyển động của các động từ này vẫn không được nói đến nhiều.
Với tác giả, cũng như Diệp Quang Ban và các nhà Việt ngữ học khác, tính chuyển
động của động từ chuyển động không được thảo luận.


5

Cũng như các nhà Việt ngữ học khác, Hoàng Thung và Lê A trong “Ngữ pháp
tiếng Việt” (1995) cũng chỉ phân biệt vị từ chuyển động có hướng như ra, vào, lên,
xuống… thành một tiểu loại riêng [10]. Trong quá trình phân loại động từ tiếng
Việt, hai tác giả đã đưa ra danh sách động từ với cách phân loại như sau:










Động từ độc lập và động từ không độc lập.
Động từ chỉ hành động và trạng thái:
Tư thế, động tác cơ thể: đứng, nằm, ngồi, co, duỗi…
Trạng thái tâm lý: nghỉ ngơi, hồi hộp…
Hành động: ăn, đánh, xây dựng…
Chuyển động có hướng: ra, vào, lên, xuống…


-Di chuyển
Vật chất: sản phẩm

Tinh thần: nhận thức – Nghĩ, khẳng
phát ngôn
định, nói…

Tác thể,
điều ý/
lời

Hủy, phá, bỏ,
Tác thể/
giết…
bị
thể,
Vật chất Bẻ, nấu, đánh…
đương
Chuyển
Tinh
trạng thái
Dọa, trêu, mắng.. thể
thần
Đv.Chủ Cầm, mang, lấy,
buông…
- thể
Tác thể,
Mục
Đv.Vị


3 diễn tố

[-mục tiêu]
Làm cho đối tượng biến chuyển

+ tác động

Hủy diệt

Chuyển tác (=vô cập vật/ ngoại động

+ Di chuyển

Chạy, bay, bước,
Hành thể
bò…
Đương
Cười, khóc…
thể
Đến, vào, rời,
qua…
Hành thể,
Nhìn, quan sát, mục tiêu
đọc…
Làm, xậy, đóng, Tác thể,
vẽ…
sản phẩm

Vô tác

Nhóm vị từ này biểu thị những hành động [-tác động, -mục tiêu] và có một diễn tố.
Nhìn bao quát các công trình có liên quan của các tác giả nêu trên, chúng tôi
nhận thấy các tác giả có đề cập đến các vị từ chuyển động, tức là thừa nhận sự tồn
tại của vị từ chuyển động. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có một cách xác định khác
nhau về vị từ chuyển động.
2.2.

Về vấn đề động từ nội động/ động từ ngoại động, bổ ngữ trực tiếp/ bổ ngữ
gián tiếp

Trên thế giới, vấn đề về bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ gián tiếp; nội động từ, ngoại
động từ được quan tâm từ khá sớm.
Ban đầu, động từ nội động, động từ ngoại động thường được xác định dựa trên
tiêu chí về ngữ nghĩa. Tiêu biểu cho những tác giả theo xu hướng nghiên cứu này là
J. Nesfield (1989). Ông cho rằng: “một động từ được coi là ngoại động khi mà hành
động không dừng ở tác thể, mà đi qua một cái khác”, “một động từ được coi là nội
động khi mà hành động dừng lại ở tác thể và không đi từ tác thể tới bất cứ cái gì
khác”[12].
Trong tạp chí ngôn ngữ số 2 năm 1980, P. Hopper và S. Thompson lại
đưa ra các tiêu chí để nhận diện động từ nội động, động từ ngoại động. Hai tác giả
này cho rằng phạm trù nội động, phạm trù ngoại động bị chi phối và gắn chặt bởi
hoàn cảnh sử dụng.[12]
Theo Y.Testelec (1998), khi bàn về các tiêu chí nhận diện phạm trù nội động/
ngoại động, ông cho rằng cách phân loại nội động/ ngoại động giống với cách phân
loại các đơn vị từ vựng. Cách phân loại phạm trù nội động/ ngoại động dựa vào tư
cách cú pháp của chúng. Ông cũng cho rằng, theo quan niệm truyền thống phổ biến
nhất hiện nay thì “những động từ có diễn trị bổ ngữ trực tiếp được coi là những
động từ ngoại động, những động từ không có diễn trị bổ ngữ trực tiếp là động từ nội
động”[12].
Trong “The Semantics of Three Mpyemo Prepositions”, Ivan Lowe và Paul

ngôn ngữ học nghiên cứu nhiều, tuy nhiên ở mỗi tác giả lại có mỗi hướng đi riêng,
hướng tiếp cận riêng.
3.
3.1. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu và mục đích nghiên cứu

Đề tài chỉ xem xét yếu tố về cú pháp và ngữ nghĩa của vị từ chuyển động có
bổ ngữ trực tiếp trong tiếng Việt. Cụ thể, đề tài này sẽ khảo sát một cách hệ thống
các vị từ chuyển động có bổ ngữ trực tiếp trong tiếng Việt.
Như đã nói ở trên, đề tài này tập trung nghiên cứu về ngữ nghĩa và kết cấu cú
pháp của vị từ chuyển động có bổ ngữ trực tiếp trong tiếng Việt. Tuy nhiên, vị từ
chuyển động một phần nào đó cũng rơi vào các trường hợp gây nhiều tranh cãi về
vấn đề “giới từ”, bổ ngữ trực tiếp trong tiếng Việt. Vì thế, trong khóa luận này, các
tiêu chí, cơ sở lý thuyết về để phân định vị từ chuyển động, bổ ngữ trực tiếp sẽ được


9

đưa ra trước để làm cơ sở cho việc phân tích vị về đặc trưng ngữ nghĩa, cú pháp của
vị từ chuyển động có bổ ngữ trực tiếp trong chương sau.
Về khái niệm chuyển động. Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm
chuyển động. Trong đó có thể nhắc đến quan niệm chung của nhiều nhà ngôn ngữ
học với hai hình thức chuyển động cơ bản: chuyển động về trạng thái và chuyển
động về không gian. Trong đề tài này, vấn đề chuyển động sẽ được nghiên cứu trên
phạm trù chuyển động về không gian, có sự thay đổi vị trí về mặt không gian của
chủ thể chuyển động.
3.2. Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra những đặc trưng về ngữ nghĩa – cú

trực tiếp trên bình diện ngữ nghĩa, cú pháp là phù hợp với xu thế chung của ngôn


10

ngữ học trên thế giới hiện nay. Theo Talmy (1975) và Jackendoff (1976), mối quan
hệ giữa ngữ nghĩa và cú pháp trong kết cấu vị từ chuyển động rất quan trọng trong
việc xem xét ngôn ngữ liên quan do chúng sẽ quy định loại hình của ngôn ngữ.
Thông qua đề tài, chúng tôi hy vọng sẽ làm rõ được phần nào một số khía cạnh của
vị từ chuyển động có bổ ngữ trực tiếp trong việc miêu tả và phân tích cấu trúc cú
pháp trên bình diện ngữ nghĩa của chúng.
Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài sẽ đóng góp vào việc duy trì bản sắc của tiếng Việt
trong quá trình hội nhập với tiếng Anh.
6.

Kết cấu khóa luận
Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ đặt ra, đề tài được sắp xếp thành các phần sau:
phần chính văn có dung lượng 58 trang gồm phần Dẫn nhập, Kết luận và ba chương
nội dung. Phần còn lại gồm danh mục tài liệu tham khảo và các công trình khoa học
của tác giả có liên quan đến đề tài. Nội dung các phần của chính văn được tóm tắt
như sau:
Phần Dẫn nhập (10 trang) trình bày đối tượng nghiên cứu, Lý do chọn đề tài,
Lịch sử vấn đề, Phạm vi nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu, Ý nghĩa khoa học và
ý nghĩa thực tiễn, Bố cục của đề tài.
Chương 1 (14 trang) nêu những vấn đề lí luận, làm cơ sở chung, nền tảng cho
việc tìm hiểu vấn đề vị từ, vị từ chuyển động, vị từ chuyển động có bổ ngữ trực tiếp.
Cụ thể chương này đề cập tới khái niệm vị từ và khái niệm chuyển động (mục 1.1);
Các yếu tố thường có trong một kết cấu chuyển động (mục 1.2); Bổ ngữ trực tiếp
(mục 1.3).
Chương 2 là một trong hai phần trọng tâm của đề tài do đó nó cũng chiếm

Vị từ chuyển động
Vị từ chuyển động có thể được hiểu là vị từ thể hiện sự thay đổi vị trí trong
không gian theo thời gian của chủ thể chuyển động.
Chuyển động là gì?
Trong luận văn “Đặc trưng cú pháp – ngữ nghĩa của kết cấu vị từ chuyển động
do tác động trong tiếng Việt (có so sánh với tiếng Anh)”, tác giả Phan Thanh Tâm
có thể hiện quan điểm của mình và trích dẫn quan điểm về vấn đề chuyển động của
Jackendoff và Talmy như sau: “Cấu trúc của một sự tình chuyển động cũng như các
biểu hiện ngữ nghĩa của nó được xem được phóng chiếu từ cấu trúc nhận thức về
chuyển động. Sự tình chuyển động được mã hóa trong ngôn ngữ theo cách thức nó
được mã hóa trong nhận thức của con người. Các yếu tố cấu tạo nên chuyển động
cũng được mã hóa trong ngôn ngữ theo cùng cơ chế mà con người tri nhận chuyển
động trong không gian”[11].
“Theo Leonard Talmy (1985), sự tình chuyển động là sự di chuyển hoặc
một quá trình định vị trong không gian của một thực thể (motion event as it
pertains to both motion and location). Những kiểu chuyển động này có thể là sự
thay đổi vị trí hoặc sự chuyển động tại chỗ của thực thể không gian”[11].
Như vậy, chuyển động là sự thay đổi vị trí của thực thể trong không gian theo
thời gian. Để nhìn nhận về một sự tình, một vật thể chuyển động, con người phải tri
nhận dựa trên nhận thức, kinh nghiệm của mình. Do đó, có thể nói rằng chuyển
động cũng có một mối liên hệ chặt chẽ với kinh nghiệm, nhận thức của con người.
Để tạo nên một sự tình chuyển động thông thường cần có thực thể chuyển động và
có sự tình chuyển động. Sự tình chuyển động có thể được hiểu là hoạt động gây ra
sự thay đổi vị trí của một thực thể hữu hình hoặc thực thể được tạo ra do kinh
nghiệm, trí tưởng tượng của con người. Sự thay đổi vị trí đó diễn ra trong không
gian và phụ thuộc vào thời gian. Hay nói cách khác, ở thời điểm t 0 thực thể chuyển
động sẽ ở tại vị trí l0; ở thời điểm t1, thực thể chuyển động sẽ tương ứng ở vị trí l 1;
và cho đến thời điểm tn, thực thể chuyển động cũng sẽ ở vị trí tương ứng t n…Quá
trình này được diễn ra cho đến khi chuyển động kết thúc. Sự thay đổi vị trí của
chuyển động có thể được thực hiện theo nhiều hướng khác nhau: lên/xuống, qua/về,

điểm t0 ở vị trí l0. Khi chủ thể chuyển động thực hiện tiếp hành động này tại thời
điểm t1 ở vị trí l1 hay thậm chí cho đến thời điểm t n tại vị trí ln thì chủ thể chuyển
động vẫn đang ở trạng thái đi và có sự chuyển đổi vị trí qua các mốc thời gian của
mình. Chuyển động chỉ được đánh dấu là kết thúc khi chủ thể thực hiện sự chuyển
đổi trạng thái từ đi sang đứng lại.
Một quá trình chuyển động cũng được xem là kết thúc khi hoàn thành quá
trình từ vị trí khởi đầu cho đến vị trí kết thúc của đối tượng chuyển động.
Có thể thấy chuyển động xảy ra kéo theo sự thay đổi về vị trí và sự chuyển đổi
về trạng thái. Và để gây ra sự chuyển đổi vị trí – trạng thái đó thì trước thời điểm


14

diễn ra chuyển động A sẽ có một trạng thái A 0 nào đó của vật thể chuyển động và có
một trạng thái A1 nào đó theo sau khi kết thúc chuyển động A. Tại các thời điểm
giao nhau giữa vị trí bắt đầu chuyển động và kết thúc chuyển động là vị trí xảy ra
quá trình chuyển thái.
Ta có thể khái quát đặc điểm chuyển thái và chuyển động của vật thể chuyển
động bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1.
Trong chu kỳ tồn tại hoạt động của mình, một thực thể diễn ra liên tiếp rất
nhiều quá trình, hoạt động khác nhau. Trong một sự tình chuyển động xảy ra hai lần
chuyển thái và n lần chuyển vị. Thời điểm đánh dấu chuyển thái được đánh dấu
bằng điểm mốc S và G (có nghĩa là điểm khởi đầu và kết thúc của chuyển động). n
lần chuyển vị thể hiện ở các vị trí trong khoảng từ S đến G: quá trình chuyển động.
Trục thể hiện hướng của chuyển động trong không gian. Quá trình chuyển động của
vật thể chuyển động sẽ thay đổi vị trí trong không gian và phụ thuộc vào thời gian.
Một chuyển động được coi là sự tình chuyển động khi nó có “chủ thể chuyển
động” để tạo thành một kết cấu chuyển động. Quá trình chuyển động có thể phân

hướng chuyển động của đối tượng trong quá trình chuyển động tịnh tiến lại không
được trùng lắp nhau.
Trong chuyển động tịnh tiến, thực thể chuyển động thay đổi vị trí trong không
gian. Nó tạo thành sơ đồ SPG (theo Ivan Lowe và Paul Murrell). Điểm quy chiếu
của chuyển động là điểm xuất phát của chuyển động (Source) hướng đến điểm đích
của chuyển động (Goal). Nó hướng đến một cái đích cụ thể trong không gian. Loại
chuyển động này khá cụ thể và rõ ràng trong đường và hướng chuyển động.
Phân tích các ví dụ sau đây để có thể giúp chúng ta thấy rõ hơn tính chất của
loại chuyển động tịnh tiến.
Ví dụ:
Vd3a. Bầy thiên nga trắng bơi trong hồ.
Vd3b. Bầy chim bay trên bầu trời.
Vd3c. Bầy chim bay về tổ.
Trong hai ví dụ đầu (3a, 3b) chuyển động được diễn ra trong một khoảng
không gian hạn định, tuy nhiên lại không có đường hướng cũng như điểm xuất phát
hay điểm đến của quá trình chuyển động. Trong ví dụ (3c), hướng của chuyển động
được đánh dấu bằng đích của chuyển động và vị từ “về”. Như vậy, chỉ có ví dụ 3c là


16

chuyển động tịnh tiến, thỏa mãn điều kiện về sự thay đổi vị trí trong không gian
theo các thời điểm thời gian.
2. Đồng sự tình

Theo Talmy, một phức thể chuyển động bao gồm hai sự tình: chuyển động tịnh
tiến và một đồng sự tình. Đồng sự tình thể hiện nguyên nhân/phương thức của
chuyển động hoặc đồng sự tình thể hiện hướng của chuyển động [13].
Đồng sự tình thể hiện phương thức/ cách thức của chuyển động
Ví dụ:


tác động nào) nên chúng tôi sẽ tập trung miêu tả những thành tố chuyển động có
liên quan đến đối tượng nghiên cứu ở những phần dưới đây của đề tài.
1.2.1.

Thực thể chuyển động/ chủ thể chuyển động (Trajector)

Trajector (tr) tương ứng với thuật ngữ figure của Talmy[13]. Trajector tức thực
thể chuyển động, người/vật di chuyển hay kẻ được định vị được hiểu là thực thể
(entity) thực hiện chuyển động trong không gian, thực thể trực tiếp gây ra chuyển
động được biểu thị bằng vị từ chuyển động.
Ví dụ:
6a. Nam ném trái banh về phía An.
6b. Anh ta trườn qua các lùm cây.
Như đã nói ở trên, thực thể chuyển động là chủ thể thực hiện chuyển động
trong không gian, vì vậy chỉ có ví dụ (6b), thực thể chuyển động “Anh ta” mới nhận
vai chủ thể chuyển động. Còn trong ví dụ (6a), vật thể chuyển động là “trái banh”,
“trái banh” nhận vai theme do chịu tác động “ném” từ tác thể “Nam” nên mới tạo ra
chuyển động. Trong đề tài này, chúng tôi sẽ không nghiên cứu đến những đối tượng
là vật thể chuyển động như ví dụ (6b).
1.2.2.

Con đường/hướng của chuyển động

Để phân biệt và làm rõ kết cấu chuyển động có vai nghĩa lối đi/con đường
chuyển động của chủ thể chuyển động và hướng của chuyển động (Direction – Di),
chúng tôi sẽ sử dụng hai thuật ngữ: Path và Direction.
Path (Pa): con đường/lối đi của chủ thể chuyển động là khoảng không gian xác
định thực thể chuyển động thực hiện chuyển động.
Direction (Di): hướng của chuyển động biểu thị “phương hướng của chuyển


Bước xuống thuyền

Bên cạnh việc xuất hiện trước danh từ và sau động từ, nhóm từ này còn có thể
xuất hiện trong kết cấu của một ngữ động từ.
Ví dụ:
Vd10. Bước ra
Vd11. Chạy ra
Vd12. Chui ra
Tác giả Nguyễn Lai gọi những từ nhóm này là “từ chỉ hướng” và cho rằng
những từ chỉ hướng chỉ mang hướng của sự chuyển động trong không gian mà
không mang ý nghĩa về phương thức hay cách thức của chuyển động. Chính vì lý
do này nên “từ chỉ hướng” có thể đi kèm với một động từ mà cụ thể là có thể đứng
sau động từ chỉ cách thức/ phương thức của chuyển động. Bên cạnh đó “nó cũng có
thể dùng độc lập như động từ. Khi dùng độc lập như động từ thì những từ chỉ hướng
vận động biểu thị hoạt động hướng không gian; và hướng không gian này có giới
hạn. Khi đứng sau động từ chính, từ chỉ hướng vận động nói trên – ngoài phạm vi
hoạt động không gian – có thể tùy theo tính chất kết hợp mà nó còn biểu hiện sắc
thái trừu tượng khác, không còn ý nghĩa không gian” [6].


20

Có thể thấy mỗi tác giả đều có những quan điểm khác nhau về nhóm từ này,
nhưng nhìn chung, có thể khẳng định rằng, trước khi có sự chuyển loại, ban đầu
những từ này đều thuộc vào động từ chuyển động và có ý nghĩa chỉ hướng.
Hướng của chuyển động có thể biểu thị bằng hướng chuyển động của thực thể
chuyển động hoặc khoảng không gian mà đối tượng đó dịch chuyển khi xét đến hệ
quy chiếu về điểm quy chiếu trong không gian.
Vd13a. Chiếc bong bóng lên cao dần

(Manner + Motion)

cao dần

Vật quy chiếu của chuyển động (Landmark – LM)
Một chuyển động chỉ được xác định là chuyển động khi nó được đặt trong một
không gian nhất định và có sự thay đổi vị trí trên trục thời gian. Chính vì vậy, để tạo
nên một sự tình chuyển động cần phải đặt trên hệ quy chiếu không gian, gắn với
một điểm mốc, vật mốc, vật quy chiếu cụ thể, xảy ra trên một cái nền cụ thể
(Landmark – LM). Vật quy chiếu về không gian đó có thể “được xem là gồm nhiều
thành tố nằm trên hướng di chuyển gồm nguồn (Soucre), đích đến (Goal) và các
điểm mốc trên đường di chuyển” [11].
Thuật ngữ Landmark, tức vật mốc, vật quy chiếu, vùng định vị, nền tương ứng
với “ground” của Talmy [13].

1.2.3.1.

Điểm xuất phát của chuyển động (Source)
Điểm xuất phát của chuyển động (Source) có thể được xem là điểm quy chiếu
nguồn, là xuất phát điểm của chuyển động.


21

Vd14. Nam và Ba đị bộ từ nhà đến trường.
Nam và Ba

đi bộ

từ

Điểm kết thúc của chuyển động có thể được xem như điểm quy chiếu đích của
chuyển động.
Thông thường trong những kết cấu chuyển động, để thể hiện sự tình chuyển
động, điểm quy chiếu về không gian thường là đích nhiều hơn là xuất phát điểm của
chuyển động.
Vd16. Lan đến nhà Hoa.
Lan
(Trajector)

1.2.4.

đến
(Motion + Direction)

nhà Hoa.
(LM= Goal)

Chuyển động (motion)
Chuyển động là vai nghĩa sử dụng cho động từ nhằm thể hiện ý nghĩa của sự
tình, thông báo sự chuyển động của thực thể chuyển động.
Nhiệm vụ chủ yếu và chính yếu của vị từ chuyển động là thông báo về sự tình
chuyển động của vật thể chuyển động, vì thế đây là một yếu tố không thể thiếu
trong một kết cấu chuyển động. Nó là yếu tố quyết định đến việc sự tình có phải là
sự tình chuyển động hay không.
Nội hàm ý nghĩa của vị từ chuyển động có thể chỉ đơn thuần thông báo về sự
chuyển động hướng đến chủ thể của chuyển động là thực thể chuyển động. Tuy
nhiên, trong tiếng Việt, ở một số trường hợp, nó cũng có thể hàm chứa ý nghĩa về
cách thức chuyển động đồng thời cũng có thể thể hiện hướng đi của chuyển động
khi đi kèm sau nó là các yếu tố về địa điểm, nơi chốn hay điểm quy chiếu không
gian.

Bên cạnh những yếu tố chính yếu cấu tạo nên một sự tình chuyển động trên, ta
còn có những yếu tố phụ tạo nên một sự tình chuyển động, trong đó có thể kể đến
phương thức của chuyển động (manner).
1.2.5.

Phướng thức/ cách thức của chuyển động (manner)
Theo tác giả Phan Thanh Tâm, “Phương thức chuyển động chỉ một hành động
phụ trợ hoặc trạng thái mà một bị thể biểu thị đồng thời với một hành động hoặc
trạng thái chính” [11].
Vd18a. Chúng tôi chèo đò qua sông.
Chúng tôi

chèo đò

qua

sông

(Trajector)

(Manner)

(motion)

(Path)

Vd18b. Chúng tôi qua sông bằng cách chèo đò.
Chúng tôi

qua

Chúng tôi

qua

sông

bằng cách lội

(Trajector)

(Motion)

(Path)

(Manner)

lội

sông

Vd20. Chúng tôi lội sông.
Chúng tôi
(Trajector)

(Manner + Motion) (Path)

Trong trường hợp ở ví dụ 20, “chúng tôi lội qua sông”, một kết cấu chuỗi vị từ
được tạo nên bởi hai yếu tố “lội” chỉ chuyển động, cách thức chuyển động và “qua”
chỉ chuyển động, hướng của chuyển động.
1.3.

Phân loại bổ ngữ trực tiếp
Bổ ngữ chỉ đích
“Vào”, “đến”, “tới”, “sang”, “về”… đảm nhiệm hai chức năng: vị ngữ (hay hạt
nhân vị ngữ) và chỉ đích.
“Lên”, “xuống”, “ra”, “đi”… đảm nhiệm ba chức năng: vị ngữ (hay hạt nhân
vị ngữ), trạng ngữ chỉ hướng và đích.
Các từ dùng chỉ đích nói trên có thể duy trì nghĩa chỉ “hướng” vốn có trong
nghĩa gốc, nhưng không phải bao giờ cũng như thế.
Vd24.

Rơi lên đầu.

Vd25. Rắc lên đĩa thịt.
Vd26. Bắn vào quân địch đang ở bên ngoài.
(Ví dụ của Nguyễn Thị Quy [9,Tr188])
Trong các ví dụ trên, vị từ “lên”, “vào” với vai chỉ đích đã không còn chức
năng chỉ hướng vì “rơi” hay “rắc” có hướng đi xuống và “rơi lên”, “rắc lên” cũng
có nghĩa chỉ hướng đi xuống trong khi đó “lên” lại có hướng đi lên.
Tương tự, hướng của “bắn vào” lại là hướng đi ra ngoài.
1.3.2.2.

Bổ ngữ chỉ nơi chốn
Vai nơi chốn là vai được sử dụng cho cả sự tình hành động hay không hành
động.
Trong tiếng Việt, vai nơi chốn có thể biểu hiện bằng bổ ngữ gián tiếp hoặc bổ
ngữ trực tiếp tùy theo mối quan hệ về ngữ nghĩa giữa vị từ và danh ngữ chỉ nơi
chốn.


25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status