ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA - NGỮ PHÁP CỦA LỚP TỪ GHÉP ĐẲNG LẬP TRONG TRUYỆN KIỀU - Pdf 30


Đặc điểm ngữ nghóa – ngữ pháp của lớp
từ ghép đẳng lập trong Truyện Kiều
Nguyễn Thò Nguyệt Minh

1
DẪN NHẬP
1 . LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội Việt Nam vào giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ
XIX, thời kỳ cuối Lê sang Nguyễn, là một xã hội phong kiến, rối ren,
mục nát. Trong hoàn cảnh ấy văn học lại phát triển mạnh mẽ. Có thể
coi đây là thời kỳ huy hoàng của nền văn học nước nhà. Giai đoạn này
đã cho ra đời nhiều tác phẩm văn học tiêu biểu, là những tài liệu quý có
giá trò cho việc nghiên cứu lòch sử, văn hóa, xã hội… và cả ngôn ngữ
Việt thời kỳ này. Tiêu biểu hơn tất cả là Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Với ngôn ngữ Việt, chữ viết Việt, cách nói, cách viết của người Việt,
Nguyễn Du đã tạo ra một tác phẩm vó đại cho dân tộc Việt Nam.
Mở đầu của quyển “Từ điển Truyện Kiều” của mình, cụ Đào Duy
Anh đã viết “Trong lòch sử ngôn ngữ và lòch sử văn học Việt Nam, nếu
Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập là người đặt nền móng cho ngôn ngữ
văn học dân tộc thì Nguyễn Du với Truyện Kiều lại là người đặt nền
móng cho ngôn ngữ văn học hiện đại của nước ta. Với Truyện Kiều của
Nguyễn Du, có thể nói rằng ngôn ngữ văn học Việt Nam đã trải qua một
cuộc thay đổi về chất và đã tỏ rõ khả năng đầy đủ và sâu sắc của nó”.
Điều ấy cho thấy Truyện Kiều không chỉ có giá trò văn học vô

tài này.
2 . PHẠM VI GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Hà Huy Giáp đã nhận đònh “Ngôn ngữ Truyện Kiều đã đạt tới
trình độ điêu luyện, tinh vi, sâu sắc có một không hai trong văn học cổ

3
điển Việt Nam. Chúng ta khẳng đònh nghệ thuật trong ngôn ngữ Truyện
Kiều là niềm tự hào của tiếng nói Việt Nam”. (Truyện Kiều , 1976)
Đi vào nghiên cứu Truyện Kiều, chỉ riêng ngôn ngữ đã có rất
nhiều vấn đề cần tìm hiểu, cần nghiên cứu. Nhưng do khả năng có hạn
nên chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu một khía cạnh nhỏ trong ngôn ngữ
Truyện Kiều: Đặc điểm ngữ nghóa-ngữ pháp của lớp tư’ ghép đẳng lập
trong Truyện Kiều. Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là một lớp từ
trong tác phẩm văn học. Nó mang đặc tính của ngôn ngữ văn chương,
tức một mã phức tạp được cấu tạo nên từ ngôn ngữ tự nhiên. Bất cứ tác
phẩm văn học nào cũng lấy ngôn ngữ dân tộc làm chất liệu. Chính vì
thế ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương vẫn mang đặc trưng của ngôn
ngữ dân tộc đồng thời nó lại có những đặc điểm riêng biệt, mang đặc
trưng của nó. Điểm đặc biệt nhất của ngôn ngữ văn chương là nó mang
dấu ấn ngôn ngữ tác giả. Ngôn ngữ dân tộc khi đi vào tác phẩm Văn
chương, là sản phẩm của tác giả, do tác giả lựa chọn và sử dụng theo
mục đích của mình. Vì vậy ngôn ngữ văn chương là cái đi chệch của
một cái toàn thể có hệ thống so với cái toàn thể của ngôn ngữ chung.
Đề tài này tìm hiểu về lớp từ ghép đẳng lập trong tác phẩm Văn
chương, cụ thể là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Vì vậy, những vấn đề
được tìm hiểu trong đề tài, ngoài những cái cơ bản thuộc về đặc điểm
của tiếng Việt nói chung, sẽ có một số điểm là cái riêng của Nguyễn
Du, cái riêng của tác phẩm, đặc biệt về việc nắm bắt nghóa của từ và
chức năng ngữ pháp của từ.

lý thuyết ngôn ngữ học đại cương chưa có quan niệm thống nhất về khái
niệm từ, đồng thời ở những loại hình ngôn ngữ khác nhau, ở mỗi ngôn
ngữ khác nhau, từ cũng có những đặc điểm riêng của mình.

5
Vì lẽ đó “Từ” trong tiếng Việt là một vấn đề thuộc lý luận cơ bản
rất quan trọngcho việc nghiên cứu một ngôn ngữ. Toàn bộ hệ thống
ngôn ngữ phụ thuộc vào nó. Nhưng quan niệm về từ nói chung ở các nhà
Việt ngữ học chưa có sự thống nhất. Mỗi người đều muốn xác đònh một
khái niệm từ hoàn chỉnh trong tiếng việt. Một số người thì chấp nhận
một đònh nghóa nào đó về từ trong ngôn ngữ học đại cương rồi căn cứ
vào đó mô tả từ tiếng Việt. Chẳng hạn, Hoàng Tuệ chấp nhận đònh
nghóa về từ của A. Meillet: “Từ là kết quả của một sự kết hợp giữa một
ý nghóa nhất đònh và một chỉnh thể ngữ âm nhất đònh, có khả năng giữ
một chức năng ngữ pháp nhất đònh”. (4) Nguyễn Văn Tu lại chấp nhận
đònh nghóa của R.A. Budagôp: “ Từ là đơn vò nhỏ nhất và độc lập có
hình thức vật chất và có ý nghóa tính chất biện chứng về lòch sử”. (5)
Một số người lại tự đưa ra một đònh nghóa chung cho từ của tiếng Việt.
Nguyễn Kim Thản viết: “Từ là đơn vò cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách
khỏi các đơn vò khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập, là một
khối hòan chỉnh về ngữ âm, ý nghóa và chức năng ngữ pháp”. (6) Hồ Lê
đònh nghóa từ một cách khác: “ Từ là đơn vò ngôn ngữ có chức năng đònh
danh, phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động. Có
khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về
ý nghóa”. (7) Còn Nguyễn Tài Cẩn không đi vào đònh nghóa từ mà chỉ
chứng minh cho tính cố đònh của những kết cấu được gọi là từ.
Như vậy đưa ra một số khái niệm hoàn hảo về từ tiếng Việt lúc
này là một việc vô cùng khó khăn. Chúng tôi cũng chưa đủ khả năng để
bàn luận, nhận xét về những điểm chính xác và chưa chính xác trong
mỗi quan niệm về từ của các tác giả mà chỉ dám đưa ra một khái niệm

của từ, làm hình vò thành từ mà không cần có bất cứ sự thay đổi nào vào
hình thức của nó.

7
Vd: Những từ chạy, ăn, nghỉ… là những từ hình thành do sự từ hoá
các hình vò chạy, ăn, nghỉ,…
3.2.2.2. Ghép hình vò
là phương pháp tác động vào hai hoặc
hơn hai hình vò có nghóa kết hợp chùng với nhau để sản sinh ra
một từ mới mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghóa như một từ.
Ta có sơ đồ: hình vò
A , B
phương thức ghép hình vò
từ A+B
Ví dụ

: hoa, hồng ==== > hoa hồng
học, hành ====> học hành
núi , non ====> núi non
3.2.2.3. Láy hình vò
Là phương thức tác động vào một hình
vò cơ sở làm xuất hiện một hình láy giống nó toàn bộ hay bộ phận
về âm thanh. Cả hình vò cơ sở và hình vò láy tạo thành một từ.
Sơ đồ: hình vò
A ===> từ AA’

Vd: mởn ===> mơn mởn
đỏ === > đo đỏ
tím ===> tim tím
3.3. Một vài điểm lưu ý về yếu tố cấu tạo từ

giới của một âm tiết, tức chỗ bắt đầu và kết thúc của một âm tiết
cũng là chỗ bắt đầu và kết thúc của của một hình vò.
3.3.4
Trong tiếng Việt hiện nay, chúng ta phải chấp nhận
một số hình vò trong một số từ nhất đònh đã bò mờ nghóa hoặc mất
nghóa ( không tính các hình vò láy trong phương thức láy). Lý giải
vấn đề này có thể cho rằng bản thân các hình vò này sau khi sản
sinh ra theo nguyên tắc chung, nó có nghóa tự thân, tức là nó có
thể đi vào các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt để có thể sản
sinh ra từ. Nhưng trong quá trình phát triển của ngôn ngữ, bản
thân nó bò biến đổi đi do chòu tác động của các quy tắc khác
không còn giữ nguyên dạng đầu tiên nữa, hoặc nó đã bò các từ
khác lấn át thay thế, chính vì vậy mà nó mờ nghóa và dần đi đến

9
mất nghóa. Những hình vò này hiện nay đã mất năng lực cấu tạo
từ, chúng chỉ còn sót lại trong một số từ mà thôi.
Vd: bươu, hấu, búa, núc trong các từ ốc bươu, dưa hấu, chợ búa,
bếp núc
3 .4 Phân chia hình vò tiếng Việt

Hình vò trong tiếng Việt có chức năng trước hết là chức
năng cấu tạo từ và nghóa của hình vò đóng vai trò quan trọng trong
chức năng này. Cho nên khả năng cấu tạo từ của hình vò, xét về
mặt ngữ nghóa, phải được xem như là tiêu chí hàng đầu để phân
loại hình vò. Hiện nay có ba xu hướng cơ bản để phân chia hình vò
tiếng Việt
3.4.1. Xu hướng phân chia hình vò xét theo tiêu chí khả năng cấu
tạo từ
Có hai loại hình hình vò:

Hình vò trong luận văn của chúng tôi sẽ được gọi tên theo cách
phân chia này.
3.5. Phân chia các kiểu từ về mặt cấu tạo

Việc phân chia từ về mặt cấu tạo hiện nay cũng chưa có sự thống
nhất giữa các nhà Việt ngữ học. Song phần lớn các tác giả đều căn cứ
vào số lượng hình vò chia thành từ đơn và từ phức hợp (kép). Từ đơn là
từ một hình vò, từ phức hợp là từ do hai hình vò trở lên tổ hợp lại.
Các từ phức hợp lại được chia theo phương thức cấu tạo thành từ
láy và từ ghép. Căn cứ vào quan hệ cú pháp giữa các thành tố, từ ghép
lại được chia thành từ ghép đẳng lập và ghép chính phụ. Sau đây là sơ
đồ phân chia từ tiếng Việt theo phương thức cấu tạo:

11

3.5.1. Từ ghép đẳng lập
:
Từ ghép đẳng lập là loại từ ghép được cấu tạo từ hai hình vò trở
lên. Hai hình vò gắn bó với nhau theo quan hệ song song, bình đẳng,
không có hình vò chính, không có hình vò phụ.
Có thể vì điều này mà các nhà nghiên cứu còn gọi nó là từ ghép
song song, từ ghép hợp nghóa, láy nghóa.
Cho dù có những tên gọi khác nhau, một số vấn đề nghiên cứu về
nó chưa có sự thống nhất và cách phân chia các tiểu loại nhỏ hơn trong

a. Quan hệ hợp nghóa
: Gồm hai thành tố có nghóa khác nhau
nhưng cùng trường nghóa hợp nghóa với nhau tạo nên nghóa khái quát,
nghóa tổng hợp của cả từ (hai thành tố này thường chỉ những sự vật hiện
tượng, hành động, tính chất gần gũi nhau) ( quan hệ hợp nghóa).
Vd: núi sông, nhà cửa…
b. Qun hệ đồng nghóa với nhau

b.1. Loại có quan hệ đơn nghóa
: Trong cấu tạo của tiểu loại này,
thành tố thứ hai vốn có nghóa giống thành tố thứ nhất nhưng hiện nay
đã bò mờ nghóa. Hoặc yếu tố thứ hai là một từ đòa phương, từ vay mượn,
chúng ghép lại với nhau để tạo nên từ có khả năng hiểu trên một đòa
bàn rộng lớn hơn. Yếu tố thứ hai thường không đi vào phương thức từ
hoá để xuất hiện như một từ độc lập trong tiếng toàn dân.
Vd: - Chợ búa, bạc phau
- Chằm vá, rừng rú, tre pheo…
b.2. Loại có quan hệ đồng nghóa
(hoặc tương đồng về nghóa): trong
loại này hai thành tố có nghóa tương đồng nhau.
Vd: hư vô, vónh viễn, bụng dạ…
bại liệt, van nài, băm vằm, …
c. Quan hệ đối lập nghóa
: trong loại này hai thành tố có nghóa trái
ngược nhau.
Vd: may rủi, trên dưới, trong ngoài …

13
Đề tài của chúng tôi sẽ đi vào khảo sát các tiểu loại này trong lớp
từ ghép đẳng lập của Truyện Kiều.

công trình Ngữ pháp tiếng Việt ( Tiếng – từ ghép - đoản ngữ ), 1975, là
một trong số các tác giả dành nhiều quan tâm đối với từ ghép hơn các
tác giả khác nghiên cứu về đối tượng này, cả về góc độ từ vựng học lẫn
góc độ ngữ pháp học. Từ ghép theo quan điểm của tác giả bao gồm từ
ghép nghóa , từ láy ( từ ghép âm ) , từ ghép ngẫu hợp. Tác giả dành hẳn
một chương gồm 20 trang để khảo sát riêng về từ ghép nghóa , và trong
đó, ngoài phần nhận xét chung, tác giả đã dành 7 trang để nói về từ
ghép láy nghóa - loại từ ghép chúng tôi gọi là từ ghép đẳng lập, đối
tượng khảo sát của đề tài này. Do bình diện tác giả Nguyễn Tài Cẩn
khảo sát thuộc về ngữ pháp , cho nên ở đây tác giả cũng chỉ dừng lại về
cấu tạo là chủ yếu.
Trong Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại , 1976, tác giả Hồ
Lê cũng dành hơn 20 trang để khảo sát lớp từ song song ( theo cách gọi
của tác giả ) – lớp từ mà chúng tôi gọi là từ ghép đẳng lập. Trong các
trang này tác giả trước hết phân biệt từ ghép loại này với tổ hợp từ có
quan hệ cùng loại , sau đó tiến hành phân loại và bước đầu có phân tích
một vài nét cấu tạo và nghóa của chúng . Ngoài ra các tác giả khác như
Đỗ Hữu Châu (1981, 1987 ), Nguyễn Kim Thản (1963) , Nguyễn Văn Tu
(1975) , Nguyễn Thiện Giáp (1978) , Nguyễn Thò Trung Thành (2001)
,…cũng đã có những nghiên cứu ít nhiều về lớp từ này.
Riêng vấn đề đặc điểm ngữ nghóa – ngữ pháp của lớp từ ghép
đẳng lập trong Truyện Kiều đã được tác giả Phan Ngọc đề cập đến
trong Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều . âng dành 4
trang để nói về ngữ pháp của sự đối xứng. ng cho rằng “ Hình thức

15
thấp nhất của sự đối xứng là hình thức từ song tiết , như gà vòt , già trẻ ,
được thua…”. ng nêu lên đặc điểm về nghóa của sự đối xứng như sau:
- Nghóa của nó không phải là nghóa của hai âm tiết kết hợp lại
theo quan hệ ngữ pháp trong từ như làm ruộng (quan hệ vò tân), nhà

lượng chủ yếu. Chúng tôi cũng sử dụng Truyện Kiều do Đào Duy Anh
khảo đính làm tư liệu chính thức cho các trích dẫn ví dụ trong luận văn.
Con số 575 từ thu thập được là con số tương đối vì có một số từ
chưa xác đònh được nên bỏ qua. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi
còn thu thập thêm các ngữ cảnh xuất hiện các từ ghép này trong các tác
phẩm văn học, trong lời ăn tiếng nói của nhân dân thời điểm hiện nay
để rút ra một vài nhận xét về sự việc thay đổi ngữ nghóa của mộ số từ
và sự phát triển của lớp từ này.
6.2. Phương pháp phân tích miêu tả, so sánh
: Từ các tư liệu thu
thập được, luận văn tiến hành miêu ta,û phân tích, lý giải các đặc điểm
về ngữ pháp của từng kiểu loại. Trên cơ sở đã được miêu tả , lí giải và
phân tích đưa ra các nhận đònh về chức năng vai trò của từng tiểu loại
trong hoạt động, trong sự hành chức của nó.
Phương pháp phân tích, miêu tả đươc vận dụng kết hợp với
phương pháp so sánh nhằm làm nổi bật những đặc điểm nổi bật, đặc thù
của từng tiểu loại.
7. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

- Đề tài này hoàn thành có thể nó đã đóng góp thêm một ý kiến
nhỏ cho việc nghiên cứu tìm hiểu Truyện Kiều.
- Nó có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa ngữ
văn hệ CĐSP khi tìm hiểu về Truyện Kiều, ngôn ngữ Truyện Kiều.

17
- Qua thời gian giảng dạy ở trường CĐSP, chúng tôi nhận thấy
sinh viên chưa thật sự nắm chắc về chức năng, về hoạt động của lớp từ
ghép đẳng lập, còn nhầm lẫn giữa từ đơn với từ ghép loại này về chức
năng, vai trò của chúng trong những đơn vò bậc cao hơn. Từ chỗ còn hiểu
mơ hồ về chúng dẫn đến việc sử dụng sai, sử dụng thiếu chính xác lớp

Ví dụ:
chè có cách đọc hán việt (hv) tương đương là trà
chữ “ tự
cởi “ giải
sen “ liên
buồng “ phòng
mùa “ vụ
râu “ tu

19
tuổi “ tuế
Những yếu tố Hán du nhập vào tiếng việt sau thời kỳ nhà Đường đô
hộ nước ta có một số lượng rất lớn. Theo Giáo sư Phan Ngọc, trong cuốn
“Mẹo giải nghóa từ Hán Việt” (NXB Đà Nẵng, 1991) cho biết có
khoảng 5.000 chữ Hán, tức 5.000 âm tiết Hán (mỗi chữ Hán tương đương
với một âm tiết) du nhập vào Việt nam và đã có khoảng 70.000 từ Hán
Việt được cấu tạo bởi 5.000 âm tiết đó. Trong 5.000 âm tiết đó có đến
1.200 âm tiết người Việt hiện nay không học cũng biết như: cô, cậu, tra,
khảo, tùng, bách, lễ, nghóa, tâm, tài … Đây là những yếu tố đã chòu sự
chi phối của các đặc điểm ngữ âm, ngữ nghóa, ngữ pháp của tiếng Việt
(Ta gọi đây là âm tiết A). Loại thứ hai là những yếu tố không tự do tức
những yếu tố không thể hoạt động như từ trong tiếng Việt mà nó chỉ
làm thành tố cấu tạo nên từ. Loại này theo giáo sư Phan Ngọc có
khoảng 3.500 chữ (ta gọi đây là yếu tố B).
Ví dụ: thảo có nghóa là cỏ
thiên “ trời
đòa “ đất
sơn “ núi
thủy “ nước
tồn “ còn

tiếng Việt (Giáo trình từ vựng học tiếng Việt, NXB ĐHSP, 2004. 213).
- Khi sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp chắc chắn không một người
Việt nào lại đi tìm nguồn gốc từ mình sử dụng mà chỉ chú ý đến hoạt
động của từ mà thôi. Người Việt nói chúng sẽ sử dụng tốt các các yếu

21
tố loại A, những yếu tố đã được Việt hoá, như một yếu tố thuần Việt
chính cống.
-Còn yếu tố loại B : Không phải tất cả người Việt đều có khả
năng sử dụng đúng và chuẩn, trừ một vài từ được kết hợp từ chúng đã
trở nên thân quen , gần gũi như non sông, giang sơn, nhi đồng, thiếu
niên … Sử dụng các từ được cấu tạo từ B đến mức độ nào thì lại cần
đến một trình độ học vấn nhất đònh.
Theo các nhà Việt ngữ học, trong quá trình sử dụng ngôn ngữ,
người Việt nhận biết các yếu tố Hán Việt là từ cảm thức là chính. Theo
cảm thức của người Việt các yếu tố Hán Việt có đặc điểm sau:
- Nó là âm tiết mà người Việt cảm thấy có nghóa nhưng không thể
hoạt động độc lập, tức nó không thể đi vào phương thức từ hoá để
thành từ mà chỉ đóng vai trò để cấu tạo nên từ.
-Về mặt biểu cảm thì từ Hán Việt thường trừu tượng , xa xôi,
trang trọng, khó hiểu hơn từ thuần Việt.
Ví dụ 1:
a) Chò em phụ nữ góp phần không nhỏ trong công cuộc xây
dựng, bảo vệ tổ quốc.
b) Chò em đàn bà ………………
Ví dụ 2:
a) Các cháu nhi đồng vui trung thu.
b) Các cháu trẻ con vui trung thu.
1.1.1.b. Đọc Kiều, chúng ta nhận ra một đặc điểm rất rõ trong ngôn
ngữ thơ của Nguyễn Du: Toàn bộ tác phẩm vẫn giữ được tính chất mộc

Việt đứng sau ( bao gồm cả những yếu tố Hán cổ đã được việt hoá)

23
VD: hiểm sâu, hư không, khăng khít, khốc hại, loạn ly,non nước,
non sông, nham hiểm, phụng thờ,thanh vắng, trân trọng, giang hồ, phó
mặc….
1.2.1b Thành tố đầu thuần Việt – thành tố sau Hán Việt.
(Kiểu
cấu tạo là AB)
Tiểu loại có thành tố thuần Việt đứng trước – thành tố Hán Việt
đứng sau:
VD: cao thâm, chuyển vần, đồn đại, giông tố, hương hoả, oan
nghiệt, yếu thơ, loạn ly, nước non, ngang tàng , nghề nghiệp, nguy hiểm,
oan khốc, sống thác, tang tóc, tương só, thề thốt….
1.1.3 Cả hai thành tố đều là thuần Việt

- Kiểu cấu tạo là AA
Đổi thay, đi về , đồng cốt, đứt nối, gan óc gắn bó, gây dựng, gió
mây, hiếu nghóa, hươngkhói, lo sợ, đầu đuôi, đen bạc,….
Và dạng AC ( C là các yếu tố bò mờ nghóa , mất nghóa )
- bạc phau,bài bây, bàn bạc, bẽ bài, căn vặn, chăm chút , chơi bời,
dô la, nương náu, ngắt tạnh, thiệt thòi, xót xa, ghen tuông, coi sóc,
Trong đó các âm tiết phau, bài , bây, căn , chút, bời ,la , náu , lạnh ,
thòi, xa , tuông , …là yếu tố đã bò mờ nghóa hoặc mất nghóa . Các nhà
nghiên cứu đã truy nguyên để tìm ra nghóa gốc của các yếu tố này . Hầu
hết chúng là những hình vò có nguồn gốc Khmer , Mường còn sót lại
trong tiếng Việt. Trong một số tài liệu hiện nay, những âm tiết này có
khi được coi là yếu tố láy của từ láy như bạc ( bàn bạc), bài ( bẽ bài ),
…có khi được coi là yếu tố phụ của từ ghép chính phụ như phau ( bạc
phau )…Đây cũng là vấn đề mà các nhà nghiên cứu chưa có sự thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status