ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VƯƠNG HỒNG HẠNH ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP-NGỮ NGHĨA CỦA
NHÓM ĐỘNG TỪ NÓI NĂNG TRONG TIẾNG ANH
(LIÊN HỆ VỚI NHÓM ĐỘNG TỪ TƯƠNG ỨNG
TRONG TIẾNG VIỆT) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. VŨ THỊ THANH HƯƠNG
Hà Nội, 2007 1
LỜI CẢM ƠN
Những dòng đầu tiên của cuốn luận văn này, tôi muốn dành để bày tỏ
sự cảm ơn đến tập thể các giáo sƣ, các nhà khoa học, các thầy cô giáo cùng
toàn thể cán bộ Khoa Ngôn ngữ học, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi
hoàn thành khóa học.
Lời cảm ơn đặc biệt tôi xin gửi đến PGS.TS.Vũ Thị Thanh Hƣơng -
4. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 9
5. Kết cấu của luận văn 9
CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1. Cơ sở lí thuyết……………………………………………………10
1.1. Phạm trù từ loại………………………………………………… 10
1.1.1. Khái niệm……………………………………………………… 10
1.1.2. Tiêu chí phân loại……………………………………………… 11
1.1.3. Kết quả phân loại……………………………………………… 13
2. Động từ 15
2.1. Vấn đề động từ trong lý luận ngôn ngữ học 15
2.2. Động từ trong tiếng Anh hiện đại 18
2.2.1. Khái niệm……………………………………………………… 18
2.2.2. Tiêu chí nhận diện……………………………………………… 20
2.2.3. Kết quả phân loại……………………………………………… 24
2.3. Động từ trong tiếng Việt hiện đại……………………………… 24
2.3.1. Khái niệm…………………………………………………… 24
4
2.3.2. Tiêu chí nhận diện ……………………………………………… 26
2.3.3. Kết quả phân loại ……………………………………………… 30
2.4. Tình hình nghiên cứu động từ nói năng ……….……………… 31
2.4.1. Tình hình nghiên cứu động từ nói năng trong tiếng Anh 31
2.4.2 Tình hình nghiên cứu động từ nói năng trong tiếng Việt 34
CHƢƠNG II. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM ĐỘNG TỪ NÓI
NĂNG TRONG TIẾNG ANH (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT) 38
1. Nghĩa biểu hiện của các động từ nói năng 38
1.1. Khái niệm nghĩa biểu hiện 38
1.2. Nghĩa biểu hiện của động từ nói năng 45
1.3. Các tham tố của động từ nói năng… ………………………… 47
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
NGUỒN TƢ LIỆU TRÍCH DẪN 98 6
Danh môc tõ viÕt t¾t
STT
ViÕt t¾t
NghÜa
1
CN
Chñ ng÷
2
§TPN
§éng tõ ph¸t ng«n
3
§NT
§Ých ng«n thÓ
4
NT
Ng«n thÓ
5
PNT
Ph¸t ng«n thÓ
6
QTPN
Qu¸ tr×nh ph¸t ng«n
7
TNT
năng trong tiếng Anh và b-ớc đầu liên hệ với nhóm động từ t-ơng ứng trong
tiếng Việt. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng tôi chỉ xem xét các
đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa trong phạm vi động từ mà còn xem xét chúng
ở cấp độ câu và trên câu.
Trong khi nghiên cứu và đối chiếu các động từ nói năng trong tiếng
Anh và tiếng Việt, chúng tôi chỉ giới hạn sự phân tích và đối chiếu ở hai
8
bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa. Bình diện ngữ dụng học cũng đ-ợc phân
tích trong một số tr-ờng hợp khi cần thiết để làm sáng tỏ thêm các bình diện
cấu trúc và ý nghĩa nh-ng không phải là mối quan tâm chính của luận văn.
3. Mc ớch v ý ngha ca ti
Chọn tên đề tài là Đặc điểm ngữ pháp- ngữ nghĩa của nhóm động từ
chỉ hoạt động nói năng trong tiếng Anh (liên hệ với nhóm động từ t-ơng
ứng trong tiếng Việt), ng-ời viết h-ớng đến mục đích cụ thể sau:
Tổng kết các quan niệm về động từ trong tiếng Anh, tiếng Việt và
động từ nói năng trong tiếng Anh, tiếng Việt và các khái niệm lí
thuyết có liên quan, xây dựng một cơ sở lí thuyết để xem xét, đối
chiếu về cách sử dụng và ý nghĩa của các động từ nói năng trong
tiếng Anh và tiếng Việt.
Trên cơ sở miêu tả một cách có hệ thống các đặc điểm của động từ
nói năng ở tiếng Anh và tiếng Việt, xác định đ-ợc chức năng của
chúng trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Dựa vào các kết quả miêu tả, tiến hành nghiên cứu đối chiếu để làm
sáng tỏ những điểm giống và khác nhau của động từ nói năng trong
tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó rút ra những điểm t-ơng đồng và dị
biệt trong hai ngôn ngữ này về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Đạt đ-ợc những mục tiêu trên đây, luận văn có những đóng góp về mặt
thực tiễn và lí luận nh- sau:
Về mặt lí luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ làm sáng tỏ các
ting Anh (cú liờn h vi nhúm ng t tng ng trong ting Vit)
10
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lí thuyết
1.1. Phạm trù từ loại
1.1.1. Khái niệm
Từ loại là một địa hạt quan trọng của ngữ pháp học nói chung và của
ngữ pháp tiếng Việt nói riêng. Chúng ta đều biết rằng, mỗi ngôn ngữ đều có
một vốn từ vựng rất lớn và dựa vào khối lượng, đặc điểm và chức năng mà
các nhà nghiên cứu tiến hành phân loại theo những mục đích khác nhau, ví
dụ nhà từ vựng học có thể phân loại từ thành những lớp từ về mặt ngữ
nghĩa; hoặc để làm từ điển người ta có thể phân loại từ theo vần chữ cái
hoặc theo bộ (Trung Quốc, Nhật); còn nhà ngữ pháp học không phân loại từ
theo cách đó mà lại theo bản chất ngữ pháp của từ để cho chúng ta các từ
loại như: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, liên từ, giới từ…Vậy từ loại
là gì?
Thế kỷ IV trước công nguyên, Aristote (nhà triết học cổ Hy Lạp, 384-
322 trước CN) - dựa trên các cơ sở lôgic học, ngữ pháp học- đã phân định
từ thành các loại từ nối, danh từ, động từ, tính từ….
Theo Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán [5] thì “Từ loại là một hệ thống
có nhiều tầng bậc, hay là một phạm trù bao gồm các phạm trù nhỏ hơn”.
Tác giả Đinh Văn Đức [11] cho rằng “Từ loại là những lớp từ có cùng bản
chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các
từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất
định ở trong câu”.
11
Như vậy, sự phân định từ loại đã được nghiên cứu và đề cập từ rất
chuyên luận “Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại” (1960), Nguyễn Tài
Cẩn đã đề xuất một hướng đi mới trong việc phân định từ loại, đó là dựa
vào khái niệm “đoản ngữ” để mô tả, phân định từ loại và các tiểu loại.
Nhưng về sau này, khi mở rộng nhận định về đặc trưng phân bố của từ, ông
đã cho rằng: “Tiêu chuẩn dựa vào đoản ngữ, riêng một mình nó, thì chưa
đủ. Phải có cả tiêu chuẩn dựa vào mệnh đề bổ sung thì kết quả mới đáng tin
cậy (Nguyễn Tài Cẩn - ngữ pháp Tiếng Việt). Cách nhìn nhận về từ loại
tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn là rất mới và có ý nghĩa, quan điểm này
đánh dấu một bước tiến mới trong lí luận về từ loại tiếng Việt.
Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy nếu chỉ dùng một tiêu chuẩn ý nghĩa
khái quát (Nguyễn Lân), khả năng kết hợp của từ (Lê Văn Lý) và dựa vào
khái niệm “Đoản ngữ” (Nguyễn Tài Cẩn) như trên thì không thể bao quát
và lí giải được mọi hiện tượng ngữ pháp. Do đó, hiện nay các tác giả
(Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, Đái Xuân Ninh…) có
chủ trương phân định từ loại tiếng Việt dựa vào một tập hợp tiêu chuẩn mà
thường nhắc tới ba tiêu chuẩn cơ bản:
1) Ý nghĩa khái quát của các lớp từ (ý nghĩa sự vật của danh từ, ý
nghĩa tính chất của tính từ, ý nghĩa hành dộng của động từ…): đây là ý
nghĩa chung cho một lớp từ, không có dấu hiệu âm thanh biểu hiện mà chỉ
tiềm ẩn trong từ và bộc lộ ra khi được kết hợp với các từ khác. Ví dụ:
- từ bàn sẽ được bộc lộ ý nghĩa chỉ vật khi kết hợp với từ này (ở
sau):bàn này.
13
- từ bàn sẽ bộc lộ ý nghĩa chỉ hành động khi kết hợp với từ hãy (ở
trước): hãy bàn (việc ấy)
2) Chức vụ của từ khi làm thành phần câu: là cái vị trí của từ trong mối
liên hệ ngữ pháp với các từ (hay cụm từ) khác nhau trong câu. Chú ý khi
định loại các từ cân nhớ:
- Các từ thực (động từ, danh từ, tính từ) thường có thể đảm nhiệm vài
năng kết hợp của từ) và Nguyễn Tài Cẩn (dựa vào đoản ngữ).
Nguyễn Hồng Cổn [8] dựa vào hai tiêu chí ngữ pháp đã nêu trên, ông
đã tiến hành phân định từ loại thành ba nhóm hay ba phạm trù cơ bản như
sau:
- Nhóm A: gồm các từ có khả năng làm (trung tâm của) đối tố và vị tố
trong cấu trúc của mệnh đề. Ví dụ: nhà, sinh viên, nói, chạy. đẹp, nhanh…
- Nhóm B: gồm các từ không có khả năng làm (trung tâm của) đối tố
và vị tố mà chỉ có khả năng làm thành tố phụ cho chúng. Ví dụ: đã, đang,
sẽ, này, ấy…
- Nhóm C: gồm các từ hoàn toàn không có khả năng làm (trung tâm
của) đối tố và vị tố, cũng như không có khả năng làm thành tố phụ cho
chúng. Ví dụ: và, nhưng, nếu, ôi, à, đi…
Dựa vào cách vận dụng các tiêu chuẩn về phân định từ loại và các kết
quả tương ứng của mỗi quan niệm trên, chúng tôi lựa chọn cách phân định
từ loại của Nguyễn Hồng Cổn làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu của luận
văn. Dưới đây là bảng phân loại của hệ thống từ loại tiếng Việt:
15
Vị từ
(làm
vị tố)
Định từ
(phụ cho
đối tố)
Phó từ
(phụ cho
vị tố)
Kết từ
(liên
kết)
Thái từ
(tình
thái)
Danh
từ
Đại
từ
Động
từ
Tính
từ
Lượng
từ
Chỉ
từ
Tiền
phó
từ
từ “có nghĩa” và những từ “không có nghĩa” mà nội dung của chúng tương
đương với khái niệm thực từ- hư từ [Nguyễn Kim Thản, 41].
Một trường phái khác của triết học Hy Lạp là trường phái Stoic cũng
phân biệt bốn thành phần lời nói (danh từ, động từ, liên từ và mạo từ). Sau
đó, các học giả thuộc trường phái Alexandria, dựa trên các công trình của
các nhà ngữ pháp Stoic về từ loại, đã xếp các lớp từ thành tám từ loại khác
nhau, trong đó có động từ. Thành quả nghiên cứu về từ loại của Aristote,
Platon, trường phái Sotic và trường phái Alexandria về sau được các nhà
ngôn ngữ học La Mã tiếp tục phát triển.
Như chúng ta đều biết, việc nghiên cứu ngôn ngữ học đã trải qua một
quá trình phát triển rất mạnh mẽ trong thế kỷ XX, và đặc biệt trong những
17
thập niên cuối thế kỷ này. Khi nghiên cứu về động từ, ở các nước nói tiếng
Anh như Hoa kỳ, Anh, Canada, Australia…đã có hàng loạt các công trình
khi nghiên cứu về lý thuyết ngôn ngữ đều có đề cập, ít hay nhiều, đến động
từ. Ngay cả ở các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ và ở Việt Nam cũng đã
xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến động từ.
Việc phân định các từ loại nói chung và động từ nói riêng trong ngôn
ngữ học đã được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu từ rất sớm và đã có khá
nhiều công trình đề cập tới vấn đề này. Đối với các ngôn ngữ có biến hóa
hình thái như các ngôn ngữ Ấn-Âu (trong đó có tiếng Anh), động từ với tư
cách là một phạm trù từ loại, được xác định dựa trên hai tiêu chí: hình thức
và ý nghiã ngữ pháp. Trong các ngôn ngữ Ấn-Âu, phạm trù động từ là một
tập hợp bao gồm tất cả các từ mang ý nghĩa ngữ pháp khái quát, chỉ hoạt
động, quá trình, trạng thái, đồng thời có hình thức ngữ pháp biến đổi theo
các phạm trù ngôi, số, giống, thời, thức, thể… Còn phạm trù động từ tiếng
Việt- ngôn ngữ không biến hình- là một tập hợp mang ý nghĩa khái quát chỉ
hoạt động, quá trình, trạng thái; đồng thời có đặc điểm về hoạt động ngữ
pháp thể hiện ở khả năng kết hợp với các phó từ thời gian (đã, đang, sẽ…),
Anh: “Động từ là từ trung tâm ngữ pháp của vị ngữ và thể hiện một hành
động, sự kiện hoặc trạng thái và phản ánh theo nhiều ngôn ngữ khác nhau
(như sự phù hợp giữa chủ ngữ hoặc thì)” (12)
“Từ điển tiếng Anh hiện hành” (A.S.Hornby, E.V. Gatenby và
H.Wakefield, bản in lần thứ 6 của Oxford University University Press) định
19
nghĩa về động từ như sau: “Động từ là một từ hay nhóm từ thể hiện một
hành động, sự kiện hoặc trạng thái”.(3).
M.A.K Halliday là một trong những người đầu tiên đề xướng mô hình
chức năng hệ thống (functional-symetic model) và vận dung vào vịêc
nghiên cứu động từ trong câu và diễn ngôn. Xuất phát từ quan niệm coi một
hệ thống ký hiệu là một hệ thống tạo nghĩa mà các ký hiệu của hệ thống này
là các phương tiện truyền đạt nghĩa, Halliday cho rằng về mặt ngữ pháp
học, khả năng kết hợp và hoạt động của động từ sẽ tạo ra cụm động từ, cụm
động từ cùng các từ loại khác tạo ra một kiểu diễn ngôn (discourse type),
rồi từ đó, kiểu diễn ngôn lại được hiện thực hoá thành văn bản (text) thông
qua sự tổ chức từ vựng- ngữ pháp (lexi-grammar). Trong cuốn “An
introduction to Functional Grammar” [16], M.A.K Halliday nghiên cứu
động từ theo đường hướng ngữ pháp chức năng (functional grammar).
Những nét nổi bật và đặc sắc của phương pháp mà M.A.K Halliday sử dụng
trong công trình này là phát hiện ra những mối quan hệ của động từ và cấu
trúc nội tại của nó. Theo ông, động từ không tách rời khỏi các từ loại khác
mà luôn được xếp đặt, kết hợp, sử dụng trong tình huống (situation), ngữ
cảnh (context), trong mối quan hệ tầng bậc gồm ngữ cảnh (context), ngữ
nghĩa (semantics), từ vựng-ngữ pháp (lexico-grammar). Đây là một cách
nghiên cứu hoạt động của động từ dưới góc độ chức năng và dụng học
(pragmatics). So sánh các quan niệm trên về động từ ta thấy các tác giả đều
chú ý tới dặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của động từ tiếng Anh. Đặc điểm
ngữ pháp đề nhận dạng động từ: là thực từ, là trung tâm của vị ngữ, thể hiện
21
(Học sinh phải làm bài tập trước khi tới trường)
Đây là một câu bị động. Tân ngữ all pupils trở thành chủ ngữ của
câu. Động từ ask được phù hợp theo cấu trúc câu, thì và chủ ngữ (ngôi thứ
ba, số nhiều) là: were asked. Ví dụ:
- I’m reading an interesting book. I can’t remember what it’s called.
(Tôi đang đọc một quyển sách hay nhưng không thể nhớ tên quyển
sách đó)
Câu thứ nhất là câu khẳng định, Thì hiện tại tiếp diễn, chủ ngữ ngôi
thứ nhất, số ít nên động từ phù hợp sẽ là: am reading. Câu thứ hai là câu
phủ định, cấu trúc câu bị động, chủ ngữ ở ngôi thứ ba, số ít nên động từ phù
hợp được chia là is called.
Về mặt ý nghĩa: biểu thị quá trình, cũng tức là biểu thị hoạt động hay
trạng thái nhất định của sự vật trong quá trình (ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa
khái quát). Ví dụ:
- They talk about their journey happily.
(Họ hạnh phúc kể về chuyến đi của mình)
Trạng thái: vui vẻ, hạnh phúc. Chủ thể hành động: ngôi thứ ba, số
nhiều (they). Câu ở thì hiện tại nên động từ giữ nguyên, không chia: talk.
Động từ “talk” biểu thị hoạt động kể chuyện. Ví dụ:
- He said that he would pass the exam.
(Anh ấy nói rằng anh ấy có thể thi đỗ)
Đây là một câu khẳng định, thì quá khứ nên động từ say được làm phù
hợp là said, đứng sau chủ ngữ he; thể hiện hoạt động nói.
a) Phân biệt động từ với danh từ
Về mặt ý nghĩa: Danh từ biểu đạt các khái niệm về sự vật (và thực thể nói
chung), động từ thì gắn với các khái niệm thuộc phạm trù vận động. Ví dụ:
- talk, speech, school…
ngữ cảnh. Ví dụ:
- peel an onion - thái một củ hành
- a pizza with onion - bánh pizza có hành
b) Phân biệt động từ với tính từ
Về mặt ý nghĩa: Tính từ thể hiện tính chất hoặc các yếu tố định định tính
khác và quan điểm hoặc thái độ của người viết, hoặc phân loại sự vật, hiện
tượng. Các tính từ cũng thể hiện các nghĩa khác: nguồn gốc, nơi chốn, tần
xuất, mức độ, sự cần thiết hoặc mức độ chắc chắn. Ví dụ:
- large, silent, friendly…
(rộng, im lặng, thân thiện)
- excellent, beautiful
(tuyệt vời, xinh đẹp)
- an American writer, an inland waterway, a weekly newspaper
(nhà văn Mỹ, đường thuỷ nội địa, tuần báo)
- a complete failure, an essential safeguard, a probable result
(hoàn toàn thất bại, giấy thông hành an toàn thiết yếu, kết quả có thể)
Về mặt ngữ pháp:
- Hình thức của tính từ không thay đổi
- Không thay đổi giống hoặc số lượng. Ví dụ:
- an old man, an old woman, old people
(một người đàn ông già, một phụ nữ già, người già)
- Một số tính từ biến đổi khi so sánh hơn hoặc hơn nhất. Ví dụ:
- My wife is older than I am
(Vợ tôi già hơn tôi)
- This is the oldest building in the town
(Đây là toà nhà cổ nhất trong thị xã)