Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của các dòng tự phối ở cây bưởi - Pdf 30



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ NHU

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
CỦA CÁC DÒNG TỰ PHỐI Ở CÂY BƯỞI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG Thái Nguyên - 2014



Thái Nguyên - 2014 ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học
của các dòng tự phối ở cây bưởi”, là công trình nghiên cứu của riêng tôi và
chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản luận văn này.

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Thị Nhu Vũ Thị Nhu iv

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài. 1

1.4. Yêu cầu của đề tài. 2

1.5. Ý nghĩa của đề tài 2
1.1. Cơ sở khoa học, lý luận của đề tài 3

1.2. Nguồn gốc, lịch sử và các vùng trồng cam quýt chủ yếu trên thế giới 3

1.2.1. Nguồn gốc và lịch sử 3

1.2.2. Các vùng trồng bưởi chủ yếu trên thế giới 4

1.2.3 Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới 5

1.3. Tình hình sản xuất cây bưởi ở Việt Nam 7

1.3.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu cây bưởi ở Việt Nam 7


2.3.1. Chỉ tiêu theo dõi nội dung 1: 26

2.4. Chỉ tiêu theo dõi nội dung 2 29

2.5. Chỉ tiêu theo dõi nội dung 3 29

2.5. Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh trưởng, ra hoa đậu
quả và năng suất của các dòng thí nghiệm 32

3.1.1. Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái của các dòng bưởi thí
nghiệm 32

3.1.2. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của các dòng bưởi thí
nghiệm 37

3.1.3. Kết quả nghiên cứu đặc điểm ra hoa, đậu quả và năng suất 51
3.2. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý hạt phấn. 54

3.3. Kết quả đánh giá sơ bộ tình hình sâu bệnh hại trên các dòng thí nghiệm
54

3.3.1. Kết quả đánh giá tình hình sâu hại trên các dòng bưởi thí nghiệm 54

3.3.2. Kết quả theo dõi một số đối tượng bệnh hại chính trên các dòng
bưởi thí nghiệm 57

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

Bảng 1.3: Tình hình sản xuất bưởi của nước ta 8

Bảng 1.4a. Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 14

Bảng 1.4b: Tên gọi của các nhóm con lai(hybrids) 14

Bảng 3.1: Đặc điểm hình thái thân cành của các dòng bưởi 32

Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái bộ lá của các dòng bưởi nghiên cứu 34

Bảng 3.3: Đặc điểm hoa của các dòng bưởi 36

Bảng 3.4: Các giai đoạn sinh trưởng của các dòng thí nghiệm 37

Bảng 3.5: Một số đặc điểm thân cành của các dòng bưởi thí nghiệm 38

Bảng 3.6: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng bưởi thí nghiệm 40
Bảng 3.7: Đặc điểm sinh trưởng của lộc hè 41

Bảng 3.8: Động thái tăng trưởng chiều dài lộc hè 42

Bảng 3.9: Đặc điểm sinh trưởng của lộc thu 43

Bảng 3.10: Động thái tăng trưởng chiều dài lộc thu 44

Bảng 3.11: Đặc điểm sinh trưởng của lộc Đông 46

Bảng 3.12: Động thái tăng trưởng chiều dài lộc đông 47

Bảng 3.13: Đặc điểm sinh trưởng của lộc xuân 48

Hình 3.4: Đồ thị động thái tăng trưởng chiều dài lộc đông. 47

Hình 3.5: Đồ thị động thái tăng trưởng chiều dài lộc xuân. 501
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cây bưởi có tên khoa học là Citrus grandis(L.) Osbeck là một trong
những cây trồng thuộc họ cam quýt (Citrus). Ở Việt Nam, những cây trồng
thuộc họ cam quýt nói chung và cây bưởi nói riêng đã được trồng tư lâu đời
và được mọi người biết đến như một loại cây trồng rất thân thiện và quen
thuộc. Trái bưởi không chỉ là món ăn có giá trị dinh dưỡng cao mà còn là một
loại quả mang giá trị tinh thần rất lớn, chúng không thể thiếu trong các dịp lễ
tết của người dân Việt Nam. Trong sản xuất nông nghiệp, bưởi là một loại cây
ăn quả đem lại hiệu quả kinh tế cao trong phát triển kinh tế hộ gia đình và
trang trại. Ngày nay, trái bưởi không chỉ dừng lại ở thị trường tiêu thụ trong
nước mà còn có mặt ở rất nhiều quốc gia trên thế giới. Một số giống bưởi
nước ta đã trở thành thương hiệu uy tín trên trường quốc tế như bưởi Năm
Roi, bưởi Phúc Trạch, bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn…
Cây bưởi (C. grandis) có nhiều ưu điểm nổi bật như: giá trị về dinh
dưỡng cao trong quả, dễ trồng và chăm sóc, có sức đề kháng tốt hơn với một
số loại sâu bệnh hại nguy hiểm trên cây cam quýt, quả có thể trên cây một
thời gian dài sau khi chín, quả dễ thu hoạch và bảo quản, tương đối thuận lợi
trong vận chuyển. Chính vì thế, phát triển cây bưởi trong sản xuất phải có tính
bền vững. Trong những năm gần đây do hiệu quả kinh tế của cây bưởi mang
lại khá cao nên cây bưởi mới thực sự được quan tâm nghiên cứu trên nhiều
lĩnh vực như tuyển chọn giống, biện pháp canh tác. Qua quá trình chọn tạo
giống cây trồng, các nhà khoa học đã chọn tạo giống theo nhiều phương pháp
khác nhau, nhằm đa dạng bộ giống cho tương lai. Với mong muốn tạo ra dòng

thực tế sản xuất.
- Kết quả của nghiên cứu là cơ sở cho công tác chọn tạo giống.
1.5.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất.
Góp phần tìm ra những dòng bưởi ưu tú phục vụ cho sản xuất.

3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học, lý luận của đề tài
Cây bưởi được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng,
ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các
yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai… biểu hiện qua sinh trưởng,
ra hoa kết quả, năng suất và phẩm chất quả.
Theo Menden thì sau khi thu được con lai ở đời F1 cho tự thụ hoặc
hoặc giao phối với nhau và nghiên cứu con cái của chúng ở đời F2 ngoài
những cá thể mang tính trạng lặn còn có những cá thể mang tính trạng trội.
Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, mỗi giống có sự
thích nghi khác nhau. Vì thế việc đánh giá sự sinh trưởng, phát triển và chất
lượng rất cần thiết trong công tác chọn giống, nhất là những loại cây mới
được chọn tạo ra.
1.2. Nguồn gốc, lịch sử và các vùng trồng cam quýt chủ yếu trên thế giới
1.2.1. Nguồn gốc và lịch sử
Cây bưởi là loài thuộc họ cam quýt, theo nhiều báo cáo nói về nguồn
gốc của cây bưởi, phần lớn đều nhất trí rằng cây bưởi có nguồn gốc ở miền
Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Hymalaya Trung Quốc xuống vùng quần
đảo Philippin, Malaysia, miền Nam Inđonesia hoặc kéo đến lục địa Úc [10],
[23]. Song từ rất sớm cây bưởi đã được phát triển ra các châu lục khác.
Các giống bưởi (Citrus grandis) được báo cáo có nguồn gốc ở
Malaysia, Ấn Độ, một thuyền trưởng người Ấn Độ có tên là Shaddock đã
mang giống bưởi này tới trồng ở vùng biển Caribe, sau đó theo gót các thuỷ

vùng khí hậu khá ôn hoà thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn hoà ven
biển chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu đại dương. Những nước trồng bưởi nổi
tiếng hiện nay phải kể đến là: các nước vùng Địa Trung Hải và châu Âu như:
Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Morocco, Ai Cập, Israel, Tunisia,
Algeria; vùng bắc Mỹ như: Hoa Kỳ, Mexico; các hòn đảo châu Mỹ như:
Cuba, Jamaica… vùng cam châu Á chủ yếu là Trung Quốc và Nhật Bản;
ngoài ra còn có vùng trồng cam bắc Phi, Úc…

5
1.2.3 Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới
Trên thế giới, tính đến năm 2008 diện tích trồng bưởi đạt 119.697 triệu ha,
năng suất bình quân đạt 105,558 tạ/ha và sản lượng đạt 88.187.80 tấn. Trong
vòng từ 5 năm từ 2008 – 2012 diện tích trồng bưởi tăng khoảng 16.391ha, sản
lượng tăng thêm 14.178.51 tấn, năng suất tăng khoảng 25.8 tạ/ha.
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi trên thế giới
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011
2012
Diện tích (triệu ha)

119,70 126,38 127,86 130,09
135,38
Năng suất (tạ/ha)
105,5 118,9 119,6 131,3
948,5
Sản lượng (Tấn)
8.818.780 9.414.131 9.360.331 10.036.631
12.840.318

(Nguồn: FAO, tháng 8 năm 2014)
Trên thế giới hiện nay có 3 vùng trồng bưởi chủ yếu là vùng Địa Trung

Quân Khê… Trung Quốc là quốc gia có nhiều chính sách khuyến khích
tăng sản xuất nông nghiệp nhằm đảm bảo tiêu dùng trong nước và một
phần cho xuất khẩu.
Thái Lan: Bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh miền Trung, một phần
Miền Bắc và một phần miền Đông. Năm 2011 Thái Lan có 113.890 tấn. Nơi
đây nổi tiếng với những giống bưởi như: Cao phuang, Cao fan…
Ấn Độ: là nước phát triển mạnh về bưởi, năm 2008 Ấn Độ có 8.500 ha
bưởi, đạt sản lượng 589.000 tấn. Nhìn chung diện tích bưởi không cao bằng
cam và chanh lai. Diện tích bưởi trên toàn thế giới còn thấp hơn nhiều so với
cam, quýt.
Trung Quốc cũng là nước có sản lượng và tốc độ tăng trưởng cao nhất.
Với sản lượng năm 2011 đạt 617.171 tấn, tốc độ tăng trưởng đạt tấn cao hơn
so với tốc độ tăng trưởng chung của toàn thế giới là 14.725 tấn. Đứng thứ 2 là

7
Ấn Độ với sản lượng là 589.000 tấn và tốc độ tăng trưỏng là 48.200 tấn.
Ngoài ra một số nước đạt tốc độ tăng trưởng nhẹ như Malaysia, Thailan…
Một số nước có sản lượng bưởi giảm như Philippin, Mỹ…Trong đó Philippin
giảm nhiều nhất từ 192.184 tấn năm 2009 xuống còn 182.550 tấn năm 2011.
Nguyên nhân chủ yếu do giảm diện tích giảm.
1.3. Tình hình sản xuất cây bưởi ở Việt Nam
1.3.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu cây bưởi ở Việt Nam
Nước ta là một trong những nơi khởi nguyên của nhiều loại cây trồng,
do điều kiện khí hậu và địa hình bị chia cắt phức tạp, là một trong những nước
có thể trồng được nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây ăn quả. Theo kết quả
điều tra của tác giả Võ Hùng (1994) cho thấy ở nước ta có hàng ngàn giống
cây ăn quả thuộc 130 loài của hơn 30 họ thực vật. Nhiều loại cây ăn quả thích
ứng với các vùng khác nhau trong nước như: chuối, dứa, cam quýt. Nhiều loại
cây ăn quả được trồng theo vùng sinh thái tạo thành các vùng đặc sản nổi
tiếng như nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh Hà, Lục Ngạn, các cây ăn

không tăng nhiều, người tiêu dung có xu hướng sử dụng bưởi quả làm thực
phẩm thay cho các loại quả có múi khác. Theo tác giả Trần Thế Tục quả bưởi
dễ bảo quản, vận chuyển, có thể để trên cây trong thời gian dài sau khi chín,
được xác định là loại quả tương đối an toàn, vì thế giá bưởi quả luôn cao hơn
các loại quả có múi khác [12]. Trong vòng 3 năm từ 2007 đến 2009, sản
lượng bưởi quả ở Việt Nam tương đối ổn định, diện tích giữ ở mức 2037 -
2129 ha, năng suất khoảng từ 10 tới 12 tấn/ha và sản lượng đạt ở mức 23.576
tấn. So với các loại cây ăn quả khác sản lượng bưởi đứng sau: chuối, dừa,
cam, dứa, xoài, nho Tuy nhiên giai đoạn 2010 - 2015, nhiều địa phương có
xu hướng phát triển trồng bưởi tạo sản phẩm hàng hóa cho tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu [12].
Theo tác giả Nguyễn Văn Dũng nước ta có bộ giống cam quýt khá
phong phú các giống bưởi hiện trồng ở Việt Nam chủ yếu được chọn lọc tự
phát của người dân từ những vùng trồng bưởi truyền thống [3]. Nhiều giống
bưởi gắn liền với tên một địa phương như là nơi xuất xứ của các giống này

9
như: Bưởi Năm Roi (Nam Bộ), bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), bưởi Đoan Hùng
(Phú Thọ), Theo kết quả điều tra của đoàn chuyên gia Nhật Bản và chọn
lọc trong thực tiễn sản xuất ở các vùng trồng bưởi từ những năm 60 với chính
sách phát triển cây ăn quả của nhà nước, có nhiều giống bưởi nhập nội từ
nhiều nguồn khác nhau của nhiều dự án khác nhau…
1.3.2. Các vùng trồng bưởi chủ yếu ở Việt Nam
-Vùng trồng bưởi miền núi và trung du phía Bắc
Theo kết quả điều tra của các nghiên cứu khoa học cho thấy hơn 70%
các giống bưởi được trồng ở Việt Nam hiện nay cũng được trồng ở vùng núi
phía Bắc, trong đó có nhiều giống quý như: bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn… Do
điều kiện sinh thái phù hợp nên vườn bưởi trồng ở miền núi phía bắc có tuổi
thọ rất cao, nhiều cây trên 100 tuổi vẫn đang ở trong thời kỳ cho năng suất cao
và chất lượng khá ổn định.[11]

đai nên năng suất bình quân đạt khá thấp. Khu IV cũng có 2 vùng khá nổi
tiếng về bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh). Bưởi Phúc Trạch là một đặc sản nổi
tiếng giống như: bưởi Đoan Hùng của Phú Thọ đã có lịch sử trồng bưởi từ lâu
đời, bưởi Phúc Trạch có vị chua nhẹ rất dễ ăn và rất hợp khẩu vị người nước
ngoài. Theo tác giả Đỗ Đình Ca (2000) ở Phúc Trạch - Hương Khê phần lớn
trong các vườn hộ đều trồng bưởi, tuy nhiên diện tích trồng ở đây khá phân
tán, nhỏ lẻ bởi vậy hiện tại chưa thể trở thành mặt hàng có khả năng xuất
khẩu lớn nên hiệu quả chưa cao [2]. Trọng điểm trồng cam quýt vùng này là
vùng Phủ Quỳ Nghệ An, vùng này gồm một cụm các nông trường chuyên
cam quýt có diện tích hàng ngàn ha. Đây là khu vực trồng bưởi có ưu thế về
tiềm năng đất đai, được nhà nước đầu tư xây dựng các nông trường, vì vậy
nơi đây có đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân có kinh nghiệm về cây có
múi [18]. Đồng thời cũng là nơi được thử nghiệm trồng nhiều giống nhập nội
nhất ở nước ta. Vùng Phủ Quỳ ở phía tây bắc tỉnh Nghệ An từ 19,09 - 19,30
độ vĩ bắc, thuộc địa phận huyện Nghĩa Đàn và một phần huyện Quì Hợp với
tổng diện tích tự nhiên là 73.000 ha. Trong đó có đến 40% là đất đỏ Bazan,
ngoài ra còn một số đất đá vôi, phù sa cổ đất có độ dốc thoai thoải từ 3 – 6
011
rất thuận lợi để phát triển cam quýt [18]. Khí hậu vùng Phủ Quỳ phân chia
thành 4 mùa rất rõ: Xuân - hè - thu - đông, nhiệt độ bình quân trong các tháng
mùa đông vùng Phủ Quỳ từ 15 – 17
0
C, tháng lạnh nhất là tháng giêng có thể
xuống đến 20
0
C, số ngày có nhiệt độ dưới 10
0

C, nhiệt độ tháng nóng nhất là 28 – 29
0
C
không chênh lệch nhiều so với tháng lạnh nhất (21 – 22
0
C). Lượng mưa trung
bình từ 1300 - 2000 mm, chủ yếu tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
11 (90%), mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 lượng mưa chỉ vào khoảng 10%
lượng mưa cả năm.
Bao gồm các tỉnh như Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà
Vinh vùng đồng bằng sông Cửu Long có lịch sử trồng bưởi khá lâu đời gắn

12
liền với việc khai phá vùng đất này. Nông dân ở đây có trình độ trồng bưởi khá
cao, đặc biệt trong kỹ thuật chăm sóc như khắc phục hiện tượng ra quả cách
năm, điều khiển ra hoa sớm, muộn, tỉa cành, tạo tán cân đối, hạn chế chiều cao
của cây, trồng dày hợp lý để tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời, dinh dưỡng
khoáng, nước và khoảng không gian, tạo hình thành một sự cân bằng khá hoàn
chỉnh giữa cây và môi trường sinh thái vùng đồng bằng.
1.3.3. Những khó khăn trong việc trồng bưởi ở nước ta
Thực tiễn sản xuất bưởi ở nước ta cho thấy nổi lên một số khó khăn chủ
yếu sau:
- Diện tích trồng bưởi kinh doanh thường manh mún, phân tán, ở miền
núi phía bắc Việt Nam có một số vườn rộng vài chục ha, đại bộ phận các
vườn ở đồng bằng sông Mekong rất nhỏ, thường rất ít vườn có diện tích từ 1
ha trở lên. Điều này vừa có mặt lợi nhưng gây nhiều khó khăn trong việc cơ
giới hoá, thu hái và vận chuyển tiêu thụ sản phẩm.
- Sản xuất bưởi gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật và phòng trừ dịch hại,
lũ lụt ở vùng đồng bằng, xói mòn, rửa trôi ở vùng đất dốc. Việt Nam thuộc
vùng trồng cam quýt nhiệt đới, có thời tiết nóng, mưa nhiều, nhiều loại bệnh

dưới họ phụ Aurantirideae có tộc Citreae (28 giống) và tộc phụ Citrinae (13
giống), 3 nhóm “tiền cam quýt” và nhóm “cam quýt thực sự” được phân
nhóm từ Citreae và tộc phụ Citrinae. Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì
có rất nhiều giống (cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của các giống
này (hybrids), hiện tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng
là những nhân tố gây khó khăn cho việc phân loại cam quýt. Hiện nay tồn tại
hai hệ thống phân loại cam quýt được nhiều người áp dụng. Theo Tanaka
Nhật Bản cam quýt gồm 160 - 162 loài (specials), ông quan sát thực tiễn sản
xuất và cho rằng các giống cam quýt qua trồng trọt đã có nhiều biến dị trở
thành giống mới, Tanaka quan sát và ghi chép tỉ mỉ đặc điểm hình thái của
các giống đã biến dị và phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới với

14
tên khoa học được bắt đầu bằng tên của giống hoặc loài đã sinh ra chúng và
kết thúc bằng chữ Horticulture Tanaka [21]. Swingle đã phân chia cam quýt
ra thành 16 loài [21], bảng phân loại của Swingle đơn giản hơn nên được sử
dụng nhiều hơn, tuy nhiên các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của
Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân loại này chi tiết đến từng
giống. Có 10 loài quan trọng nhất trong nhóm “true citrus group” và nhóm
con lai được liệt kê ở bảng sau và tên của một số nhóm con lai phổ biến, đây
là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con người, cụ thể được
mô tả như sau:
Bảng 1.4a. Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Tên loài Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
C. sisnensis
C. aurantium
C. reticulata
C. paradisi
C. grandis
C. limon

Limequat = C.aurantifolia x C. F. Margarita

15
Bưởi (Citrus. grandis): Quả to nhất trong các loài cam quýt, có vị chua
hoặc ngọt, bầu có từ 13 - 15 noãn, eo lá khá lớn, hạt nhiều. Hiện nay các
giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi, và được trồng chủ yếu ở các
nước nhiệt đới như Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc Việt Nam có rất nhiều
giống bưởi ngon nổi tiếng như: bưởi Năm Roi, bưởi Da xanh, bưởi Thanh
Trà, bưởi Phúc Trạch, Phú Diễn, bưởi Đoan Hùng…
Bưởi chùm (Citrus. Paradisi): Được đánh giá là dạng con lai tự nhiên
của bưởi (Citrus. grandis) vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống bưởi nhưng
lá nhỏ hơn, eo lá cũng nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ.
Bưởi chùm cho những giống ít hạt như: Duncan, phần lớn các giống bưởi
chùm có hạt đa phôi nên cũng có thể sử dụng làm gốc ghép. Quả bưởi chùm
là món ăn tráng miệng rất được ưa chuộng ở châu Âu, người ta gọt nhẹ lớp vỏ
mỏng bên ngoài rồi để cả cùi cắt thành các lát nhỏ dùng sau bữa ăn. Bưởi
chùm được trồng nhiều ở Mỹ, Brazil, riêng ở bang Florida Mỹ chiếm 70% sản
lượng bưởi chùm của cả thế giới. Ở Việt Nam vào những năm 60 đã nhập nội
một số giống bưởi chùm như: Duncan, Marsh, Forterpinke… cho năng suất
khá, tuy nhiên bưởi chùm chưa được ưa chuộng thực sự ở Việt Nam.
Cam ngọt (C. sinensis): Quả to hơn các loài cam khác, mùi vị tinh dầu
ở lá các loài cam quýt là một đặc điểm để phân loại, lá quýt có mùi cay đậm
hơn các loại lá khác. Đặc điểm cam ngọt có vị rất ngọt, quả có từ 9 - 13
múi, vỏ mỏng và mịn. Cam ngọt chiếm tới 2/3 sản lượng cam quýt trên thế
giới, là sản phẩm được ưa chuộng nhất trong các loại quả có múi. Cam ngọt
được chia làm rất nhiều nhóm giống như cam Valencia, cam vàng, Navel
Quýt (C. Reticulata): Tuyến dầu của quýt có mùi đặc trưng giúp có thể
phân biệt được với các loài khác, quả quýt nhỏ, vỏ nhẵn, rất dễ bóc vỏ, lá có
răng cưa khá điển hình, ở một số giống ở mặt dưới lá có mầu xanh nhạt, hoa
mọc đơn hoặc chùm nhưng không bao giờ mọc thành chùm có nhánh, màu

hơn so với nhiệt độ ngày đêm là 20 – 18
0
C hoặc 21 – 17
0
C. Khi nhiệt độ
xuống dưới -3 hoặc -4
0
C thì lá bắt đầu bị chết do rét, nếu xuống dưới -7
0
C thì
cây bị chết hoàn toàn, tuy nhiên nhiệt độ cao lại thuận lợi cho việc ra lộc.
Cam ngọt Valencia ở nhiệt độ trung bình 30 – 32
0
C chỉ cần 20 - 30 ngày là ra
xong một đợt lộc mới, trong khi đó nếu ở nhiệt độ 20
0
C thì cần 40 - 50 ngày
[10], [15].


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status