đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp của vị từ quá trình tiếng việt - Pdf 22

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG THỊ THU HÀ
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA-NGỮ PHÁP
CỦA VỊ TỪ QUÁ TRÌNH TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI 2013
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG THỊ THU HÀ
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA-NGỮ PHÁP
CỦA VỊ TỪ QUÁ TRÌNH TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ
Mã số: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS Nguyễn Hồng Cổn
HÀ NỘI 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, minh bạch và chưa
được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 06 tháng 07 năm 2013
Tác giả luận án
Trương Thị Thu Hà
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. Các kí hiệu
Dấu (*): biểu thị câu không đúng ngữ pháp hay câu bất thường.
Dấu (!?): câu có thể xuất hiện trong một (một số) ngữ cảnh nào đó.
2. Các chữ viết tắt
BN: Bổ ngữ

0.3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6
0.4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 6
0.5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
0.6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
0.7. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 8
0.8. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN 9
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT 10
1.1. VỊ TỪ TRONG CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA-NGỮ PHÁP CỦA CÂU 10
1.1.1. Quan điểm của các nhà Ngôn ngữ học trên thế giới 10
1.1.2. Quan điểm của các nhà Việt ngữ học 18
1.2. VỊ TỪ VÀ CÁC QUAN NIỆM VỀ VỊ TỪ TRONG TIẾNG VIỆT 25
1.2.1. Khuynh hướng coi vị từ là một phạm trù từ loại 25
1.2.2. Khuynh hướng coi vị từ là một phạm trù chức năng 28
1.3. VỊ TỪ QUÁ TRÌNH VÀ CÁC QUAN NIỆM VỀ VỊ TỪ QUÁ TRÌNH
TIẾNG VIỆT
31
1.3.1. Khái niệm vị từ quá trình 31
1.3.2. Các quan niệm về vị từ quá trình tiếng Việt 36
1.3.3. Quan điểm của tác giả luận án 37
1.4. TIỂU KẾT 38
CHƯƠNG 2. NHẬN DIỆN VÀ PHÂN LOẠI VỊ TỪ QUÁ TRÌNH
TIẾNG VIỆT
40
2.1. NHẬN DIỆN VỊ TỪ QUÁ TRÌNH TIẾNG VIỆT 40
2.1.1. Vấn đề nhận diện vị từ quá trình 40
2.1.2. Các tiêu chí nhận diện vị từ quá trình tiếng Việt 45
2.1.3. Quy trình nhận diện vị từ quá trình tiếng Việt 55
2.2. PHÂN LOẠI VỊ TỪ QUÁ TRÌNH TIẾNG VIỆT 55
2.2.1. Tiêu chí phân loại vị từ quá trình tiếng Việt 55
2.2.2. Các tiểu loại vị từ quá trình tiếng Việt 58

4.1.1. Đặc điểm ngữ nghĩa 119
4.1.2. Đặc điểm cấu trúc tham tố 121
4.1.3. Đặc điểm cấu trúc cú pháp 128
4.2. VỊ TỪ QUÁ TRÌNH HỮU TÁC CHUYỂN THÁI 131
4.2.1. Đặc điểm ngữ nghĩa 131
4.2.2. Đặc điểm cấu trúc tham tố 134
4.2.3. Đặc điểm cấu trúc cú pháp 138
4.3. VỊ TỪ QUÁ TRÌNH HỮU TÁC HUỶ DIỆT 140
4.3.1. Đặc điểm ngữ nghĩa 140
4.3.2. Đặc điểm cấu trúc tham tố 141
4.3.3. Đặc điểm cấu trúc cú pháp 145
4.4. TIỂU KẾT 147
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN 161
PHỤ LỤC 163
iii
MỞ ĐẦU
0.1. TỔNG QUAN
0.1.1. Vị từ là những từ có khả năng tự mình làm vị ngữ hoặc làm hạt nhân ngữ
nghĩa của một vị ngữ biểu thị nội dung sự tình của thế giới được nói đến trong câu. Nó
có vị trí đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu ngữ nghĩa-ngữ pháp của câu. Có thể nói
một trong những người đầu tiên quan tâm đến vai trò của vị từ trong câu chính là L.
Tesnière. Theo L. Tesnière, “cấu trúc cú pháp của câu xoay xung quanh động từ và các
diễn tố (actants) làm bổ ngữ cho nó” (Dẫn theo [27, tr. 42]). (Ở đây, Cao Xuân Hạo
dùng thuật ngữ “động từ” nhưng theo chúng tôi phải sử dụng thuật ngữ “vị từ” mới
chính xác. Tuy nhiên, để khách quan, trong phần trích dẫn này, chúng tôi vẫn giữ
nguyên thuật ngữ “động từ”). L. Tesnière thậm chí cho rằng, ngay cả chủ ngữ cũng chỉ
là một trong số các bổ ngữ đó. Tiếp sau ông, C.J. Fillmore, W.L. Chafe, S.C. Dik,

0.1.2. Vị từ có vai trò quan trọng trong việc phản ánh thế giới hiện thực nên vị từ
nói chung và vị từ tiếng Việt nói riêng đã được nghiên cứu từ rất sớm. Riêng về vị từ
tiếng Việt, có thể kể ra một loạt các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Grammaire de
la langue annamite của Trương Vĩnh Ký (1883), Việt Nam văn phạm của Trần Trọng
Kim-Phạm Duy Khiêm-Bùi Kỷ (xuất bản lần đầu năm 1940), Studies in vietnamese
(annamese) grammar của M.B. Emeneau (1951), Việt ngữ nghiên cứu của Phan Khôi
(xuất bản lần đầu năm 1955), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam của Trương Văn Chình-
Nguyễn Hiến Lê (1963), A Vietnamese Grammar của L.C. Thompson (1965), Văn
phạm Việt Nam của Bùi Đức Tịnh (xuất bản lần đầu năm 1968), Sơ thảo ngữ pháp Việt
Nam của Lê Văn Lý (xuất bản lần đầu năm 1968), Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn
Kim Thản (1977), Ngữ pháp tiếng Việt của Uỷ ban KHXH Việt Nam (1983), Ngữ pháp
tiếng Việt của Đinh Văn Đức (xuất bản lần đầu năm 1986), Nhóm từ chỉ hướng vận
động trong tiếng Việt của Nguyễn Lai (1990), Ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban
(chủ biên) (xuất bản lần đầu năm 1991), Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chức năng của
Cao Xuân Hạo (xuất bản lần đầu năm 1991), Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố
của nó, so với tiếng Nga và tiếng Anh của Nguyễn Thị Quy (1995), Kết trị của động từ
tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc (1996), Tiếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm-ngữ pháp-ngữ
nghĩa của Cao Xuân Hạo (2001), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (Vị từ hành động) của
2
Nguyễn Thị Quy (2002), Ngữ pháp chức năng Quyển 1 (2000) và Quyển 2 (2005) của
Cao Xuân Hạo (chủ biên), Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt của Bùi
Trọng Ngoãn (2004), Vài nhận xét về ngữ nghĩa vị từ cảm giác của Nguyễn Vân Phổ
(2007), Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm vị từ trao/ tặng của Lâm Quang
Đông (2008), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ (2009) và 777 khái niệm ngôn
ngữ học (2010) của Nguyễn Thiện Giáp, Nghiên cứu nhóm vị từ chỉ tình cảm trong
tiếng Hán và tiếng Việt của Lý Quế Phương (Li Guifang) (2012), v.v.
Các tác giả trên có những quan điểm rất khác nhau về vị từ tiếng Việt nhưng về
cơ bản chia thành những khuynh hướng chính sau:
1/ Khuynh hướng coi vị từ là một phạm trù từ loại (bao gồm động từ và tính từ):
Thuộc khuynh hướng này có thể kể đến các tác giả như: Trần Trọng Kim-Phạm

ngữ nghĩa của động từ quan hệ tiếng Anh (trong sự liên hệ với tiếng Việt) của tác giả
Hoàng Tuyết Minh. Trong khi đó, các nhóm còn lại vẫn chưa được đầu tư nghiên cứu
một cách thoả đáng, đặc biệt là nhóm vị từ quá trình, một nhóm vị từ có số lượng khá
lớn trong tiếng Việt. Nhóm vị từ này hiện chủ yếu mới chỉ được nhắc đến một cách
khiêm tốn trong một số công trình nghiên cứu ngữ pháp nói chung, trong một số công
trình nghiên cứu vị từ nói riêng hay trong một số công trình nghiên cứu các nhóm vị từ
khác như: Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chức năng (quyển I) của Cao Xuân Hạo (1991);
Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (Vị từ hành động) của Nguyễn Thị Quy (2002); Ngữ
pháp chức năng tiếng Việt, Quyển 2: Ngữ đoạn và từ loại do Cao Xuân Hạo chủ biên
(2005); Ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban (2005); Vài nhận xét về ngữ nghĩa vị
từ cảm giác của Nguyễn Vân Phổ (2007); Đặc điểm cú pháp-ngữ nghĩa của động từ
quan hệ tiếng Anh (trong sự liên hệ với tiếng Việt) của Hoàng Tuyết Minh (2008); Tìm
hiểu thêm về sự phân biệt động-tĩnh trong vị từ tiếng Việt của Đồng Thị Hằng (2008);
Bước đầu tìm hiểu cấu trúc ngữ nghĩa và cú pháp của kiểu câu biểu hiện quá trình của
Đinh Thị Hương (2009); Vị từ tiếng Việt với việc biểu hiện sự tình động và tĩnh của Bùi
Minh Toán (2011); v.v. Hầu hết các công trình trên chỉ đề cập đến nhóm vị từ quá trình
tiếng Việt như là một tiểu loại vị từ trong sự phân biệt với các tiểu loại khác. Chẳng hạn
như trong công trình Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (Vị từ hành động) của Nguyễn Thị
Quy, để nghiên cứu nhóm vị từ hành động, tác giả cũng đã nêu ra những điểm đặc trưng
4
của vị từ quá trình so với vị từ hành động cũng như với các loại vị từ khác (vị từ trạng
thái và vị từ quan hệ) và một số tiêu chí phân biệt vị từ hành động với vị từ quá trình,
v.v.
Trong số các công trình kể trên thì công trình nghiên cứu sâu nhất về vị từ quá
trình có lẽ là công trình Tiếng Việt-Sơ thảo ngữ pháp chức năng (quyển I) của Cao
Xuân Hạo. Tuy nhiên, ở công trình này tác giả cũng mới chỉ đưa ra những nhận xét và
quan sát sơ bộ về vị từ quá trình như khái niệm, tiêu chí phân loại và các tiểu loại vị từ
quá trình, v.v. Theo ông, vị từ quá trình phân biệt với vị từ hành động, vị từ trạng thái
và vị từ quan hệ với tư cách là một tiểu loại của vị từ tiếng Việt. Đó là những vị từ biểu
thị “một biến cố không chủ ý, chủ thể của nó (thực thể trải qua nó) có thể là người,

0.3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu chính của luận án là:
- Góp phần làm sáng tỏ đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp của vị từ quá trình tiếng
Việt nói riêng và đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp của vị từ tiếng Việt nói chung.
- Góp phần làm rõ vai trò của các vị từ quá trình tiếng Việt nói riêng và vai trò
của các vị từ tiếng Việt nói chung với tư cách là hạt nhân tổ chức cấu trúc ngữ nghĩa và
cấu trúc cú pháp của câu.
- Góp phần vào việc phân tích, giải thích ngữ nghĩa của các vị từ quá trình trong
quá trình biên soạn từ điển, sách dạy tiếng Việt cho người Việt Nam và người nước
ngoài.
0.4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên đây, luận án phải hoàn thành
những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu vị từ quá trình ở nước ngoài và ở Việt Nam
nhằm xác định rõ hướng nghiên cứu của đề tài.
- Xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài trên cơ sở giới thuyết rõ khái niệm vị từ quá
trình và các vấn đề liên quan (tiêu chí nhận diện, cơ sở phân loại, các nhóm vị từ quá
trình).
- Phân tích và mô tả đặc điểm ngữ nghĩa của các nhóm vị từ quá trình và vai trò
của các vị từ quá trình trong việc tổ chức cấu trúc vị từ-tham tố của câu.
6
- Phân tích và mô tả đặc điểm ngữ pháp của các nhóm vị từ quá trình và vai trò
của vị từ quá trình trong việc tổ chức cấu trúc cú pháp của câu.
- Trên cơ sở đó, rút ra những nhận xét chung về đặc điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp
của vị từ quá trình tiếng Việt và vai trò của chúng trong việc tổ chức cấu trúc ngữ
nghĩa-ngữ pháp của câu.
0.5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này là các vị từ quá trình tiếng
Việt như: bênh, bềnh, bong, bốc, chìm, co, cóng, cuốn, dãn, dâng, đổ, đông, giật bắn,
giật mình, hửng, lan, lăn, lặn, mòn, mờ, mủn, ngã, nổi, rơi, run, rụng, sập, sụp, tái, teo,

tích thành tố cú pháp và thành phần câu, v.v. để phân tích và mô tả đặc điểm ngữ nghĩa-
ngữ pháp của các vị từ quá trình tiếng Việt.
Bên cạnh đó, luận án có sử dụng một số các thủ pháp nghiên cứu chung cho
nhiều ngành khoa học như thống kê, phân loại, hệ thống hoá, tổng hợp, v.v.
0.7. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
0.7.1. Ý nghĩa khoa học
- Luận án là sự tiếp thu và ứng dụng những xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ mới
trên thế giới vào tiếng Việt trong lĩnh vực ngữ pháp nói chung và trong lĩnh vực ngữ
nghĩa-ngữ pháp của câu nói riêng. Đó là xu hướng nghiên cứu ngữ nghĩa chức năng với
cách tiếp cận từ ngữ nghĩa, chức năng đến hình thức, cấu trúc, tức là đi từ nghĩa học đến
cú pháp.
- Nhóm vị từ quá trình tiếng Việt là một nhóm vị từ khá phổ biến trong tiếng
Việt. Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các đặc
điểm ngữ nghĩa-ngữ pháp của nhóm vị từ này.
- Qua đó, luận án góp phần làm sáng tỏ bức tranh về ngữ nghĩa-ngữ pháp của vị
từ tiếng Việt nói riêng và câu tiếng Việt nói chung.
0.7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần giúp người sử dụng tiếng Việt
hiểu biết rõ hơn đặc điểm của nhóm vị từ quá trình tiếng Việt để vận dụng vào các hoạt
động thực tiễn như: dạy và học tiếng Việt, giải thích từ ngữ trong sách giáo khoa tiếng
Việt, biên soạn từ điển tiếng Việt.
8
0.8. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án của chúng tôi ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục gồm có bốn
chương chính như sau:
1/ Chương 1: Cơ sở lí thuyết.
Trong chương này, luận án giới thiệu một số lí thuyết về một số vấn đề liên quan
đến đề tài của chúng tôi là vị từ, vị từ tiếng Việt, vị từ quá trình và vị từ quá trình tiếng
Việt.
2/ Chương 2: Nhận diện và phân loại vị từ quá trình tiếng Việt.

vào vị từ giống như các bổ ngữ khác. Trong các lược đồ biểu thị cú pháp của câu trong
tác phẩm của ông, vị từ luôn chiếm vị trí cao nhất. Ví dụ:
1) Câu “Alfred peut donner le livre à Charles” (Alfred có thể cho Charles cuốn
sách ấy) được biểu diễn như sau:
peut
Alfred donner
le livre à Charles
(Dẫn theo [27, tr. 42])
10
2) Hay câu “Alfred frappe Bernard” (Alfred đánh Bernard) được biểu diễn như
sau:
frappe
Alfred Bernard
[137]
Trong khi đó, cũng câu này, ngữ pháp truyền thống biểu diễn như sau:
Alfred frappe
Bernard
[137]
Trong ngữ pháp truyền thống, chủ ngữ đứng ngang hàng với vị từ nhưng trong
ngữ pháp của L. Tesnière thì chủ ngữ lại đứng ở hàng dưới, phụ thuộc vào vị từ cũng
giống như bổ ngữ.
Mỗi vị từ có một diễn trị riêng thể hiện qua số lượng diễn tố của nó. Có vị từ có
diễn trị zero (vô diễn trị) như “pluit” (mưa) (il pleut-trời mưa). Có vị từ đơn trị
(monovalents) chỉ có một diễn tố như “tomber” (ngã). Có vị từ song trị (bivalents) có
hai diễn tố như “frapper” (đánh). Có vị từ tam trị (trivalents) có ba diễn tố như “donner”
(cho, tặng).
Khi nói về các diễn tố, L. Tesnière phân biệt ba loại diễn tố là đệ nhất diễn tố, đệ
nhị diễn tố và đệ tam diễn tố. Đệ nhất diễn tố chỉ chủ thể hành động, đệ nhị diễn tố chỉ
đối tượng của hành động và đệ tam diễn tố chỉ người hưởng lợi trong hành động. Trong
ba diễn tố này theo ông đệ nhất diễn tố là diễn tố quan trọng nhất, nó có mặt ở tất cả các

của chúng trong các biểu thức ngôn ngữ học.”. [15, tr. 29]. Những thông tin được chứa
đựng trong khung vị từ này gồm có:
(i) hình thức từ vựng của vị từ.
(ii) phạm trù cú pháp của vị từ: Được chỉ định bằng một nhãn (V(erbal),
A(jectival), N(ominal)) trên vị từ.
(iii) số tham tố mà vị từ đòi hỏi: Mỗi khung vị từ có số lượng các tham tố khác
nhau. Số lượng tham tố tuỳ thuộc vào đặc điểm của vị từ. Có vị từ chỉ có một tham tố
12
nhưng có vị từ có thể có hai hay ba tham tố. Theo kinh nghiệm của ông, một kết cấu vị
ngữ hạt nhân khó có thể có hơn bốn tham tố.
(iv) những hạn định mà vị từ đòi hỏi ở các vai nghĩa của nó: Những hạn định
chọn lựa mà vị từ nêu ra đảm bảo sự tương hợp giữa vị từ và các ngữ định danh được
điền vào các vị trí tham tố trong kết cấu vị ngữ hạt nhân.
(v) các chức năng ngữ nghĩa của tham tố. [15, tr. 29; 44-45]. S.C. Dik đã nêu
một số chức năng ngữ nghĩa hạt nhân sau: 1/ Tác thể (Agent), 2/ Đích (Goal), 3/ Tiếp
thể (Recipient), 4/ Hướng (Direction), 5/ Nguồn (So), 6/ Kẻ mang tư thế (Positioner), 7/
Vị trí (Location), 8/ Kẻ chịu tác động của quá trình (Processed), 9) Lực (Force), 10/
Zero (Ø), 11/ Thời gian (Time), 12/ Lợi thể (Beneficiary), 13/ Công cụ (Instrument),
14/ Kẻ trải nghiệm (Experiencer). [15, tr. 54-63].
Minh hoạ cho quan điểm của mình ông đã đưa ra khung vị từ cơ bản sau:
give
v
(x
1
: human (x
1
))
Ag
(x
2

1) John opened the door with the key.
2) The key opened the door.
13
C.J. Fillmore gán chức năng Công cụ cho ngữ định danh “the key” trong cả hai
câu. Trong khi đó, theo ông, chỉ có “the key” trong câu 1) là có chức năng Công cụ, là
chu tố của kết cấu vị ngữ hạt nhân còn trong câu 2) nó mang chức năng Lực và là một
tham tố của vị từ “open”.
Tóm lại, S.C. Dik đã đưa ra 18 cấu trúc kết hợp các chức năng ngữ nghĩa hạt
nhân gắn với bốn kiểu sự tình cơ bản như sau:
Hành động
Ag John
Ag
ran away
Ag Go John
Ag
read a book
Go
Ag Go Rec John
Ag
gave a book
Go
to Peter
Rec
Ag Go Dir John
Ag
sent a book
Go
to London
Dir
Ag Go So John

was blowing hard
Fo Go The wind
Fo
opened the door
Go

Fo Go Rec The climate
Fo
gave John
Rec
new strength
Go

Fo Go Dir The wind
Fo
blew the leaves
Go
into the kitchen
Dir
Fo Go So The wind
Fo
swept the papers
Go
from the table
So
Trạng thái
Ø Rose
Ø
are red
Ø Ø That man

Tuy nhiên, ông cũng nhận xét rằng: “a/ Sự ấn định chủ ngữ về bản chất không chỉ hạn
định ở tham tố Tác thể và Đích, b/ Sự ấn định chủ ngữ không nhất thiết phải dẫn đến
bất cứ sự chuyển vị nào của tham tố.”. [15, tr. 97]. Thêm vào đó, “khả năng ấn định bổ
ngữ bị giới hạn nhiều hơn so với các khả năng ấn định chủ ngữ, cả trong nội bộ một
ngôn ngữ cũng như giữa các ngôn ngữ với nhau. Sự ấn định bổ ngữ nói chung tuỳ
thuộc vào sự ấn định chủ ngữ.”. [15, tr. 98]. Từ đó ông đưa ra đánh giá về vai trò của vị
từ trong việc xác định các thành phần cú pháp của câu như sau:
“(c) Nếu có sự phù ứng giữa động từ và bất kì thành tố nào khác trong cú, chủ
ngữ sẽ là ứng viên thứ nhất và bổ ngữ là ứng viên thứ hai cho việc xác định sự phù ứng
đó.
15
(d) Việc lựa chọn chủ ngữ và bổ ngữ sẽ thường được ‘mã hoá’ ở động từ dưới
hình thức thái (chủ-bị động) của động từ tương liên với những lựa chọn chủ ngữ và bổ
ngữ khác nhau.”. [15, tr. 100].
Tóm lại, mô hình cấu trúc ngữ nghĩa của S.C. Dik gồm có kết cấu vị ngữ hạt
nhân và kết cấu vị ngữ mở rộng. Kết cấu vị ngữ hạt nhân chỉ bao gồm vị từ và các tham
tố. Vị từ là yếu tố quyết định số lượng cũng như đặc điểm của các tham tố. Các tham tố
do các ngữ định danh biểu thị và là yếu tố cần thiết, yếu tố bắt buộc của khung vị ngữ.
Kết cấu vị ngữ mở rộng được hình thành nhờ bổ sung các chu tố vào kết cấu vị ngữ hạt
nhân. Các chu tố cũng do các ngữ định danh biểu thị nhưng đó không phải là các yếu tố
bắt buộc của khung vị ngữ và nó gắn liền với bản chất của sự tình hơn là với bản chất
của vị từ. Thuật ngữ “tham tố” (arguments) của S.C. Dik chỉ tương đương với thuật ngữ
“diễn tố” (actants) của L. Tesnière. Mỗi kết cấu vị ngữ hạt nhân có thể được diễn đạt
bằng các CTCP khác nhau. Và trong các CTCP chính vị từ là yếu tố quyết định việc lựa
chọn cũng như gán các vai cú pháp cho các vai nghĩa của câu.
1.1.1.4. Khi viết về ngữ nghĩa của câu, M.A.K. Halliday cho rằng câu luôn hàm
chứa ba kiểu ý nghĩa khu biệt là ý nghĩa thông điệp, ý nghĩa trao đổi và ý nghĩa thể hiện
hay biểu hiện (clause as representation). Câu có ý nghĩa như là một sự thể hiện có nghĩa
là câu là “một sự giải thích một quá trình nào đó trong kinh nghiệm đang diễn ra của
con người”. [24, tr. 102]. Hay nói một cách khác, một trong những nội dung ngữ nghĩa

Mỗi quá trình trên được biểu thị bằng một biểu thức ngôn ngữ được gọi là cấu
trúc vị từ-tham thể gồm một vị từ và các tham tố của nó. Trong cấu trúc này, vị từ giữ
vai trò là yếu tố trung tâm quyết định số lượng cũng như đặc điểm của các tham tố đi
kèm với nó. Chẳng hạn, xét hai câu sau:
1) The lion sprang. (Con sư tử nhẩy).
2) The lion caught the tourist. (Con sư tử vồ người khách du lịch).
Hai câu trên có cấu trúc vị từ-tham thể như sau:
1) The lion sprang 2) The lion caught the tourist
Hành thể Quá trình Hành thể Quá trình Đích thể
[24, tr. 209]
Câu 1) chỉ có một tham thể nhưng câu 2) thì có hai tham thể.
17
Hay xét câu sau:
I don’t like it
Cảm thể Quá trình: tình cảm Hiện tượng
Tôi không thích nó
[24, tr. 221]
Trong câu trên, tham tố thứ nhất “I” bắt buộc phải là một sự vật có ý thức. Trong
khi đó, tham tố thứ hai “it” có thể là một sự vật hay một thực tế.
Mỗi cấu trúc vị từ-tham thể có những tham thể điển hình khác nhau. Thông
thường, mỗi tham thể điển hình cho một hay một vài cấu trúc nào đó. Tuy nhiên, trong
số các tham thể mà ông nêu ra, tham thể Lợi thể và Cương vực lại không điển hình cho
một cấu trúc vị từ-tham thể nào cụ thể.
Tóm lại, theo M.A.K. Halliday, nghĩa biểu hiện của câu chính là các quá trình.
Mỗi quá trình trên được biểu thị bằng một biểu thức ngôn ngữ được gọi là cấu trúc vị
từ-tham thể gồm một vị từ giữ vai trò là yếu tố trung tâm và các tham tố của nó. Trong
cấu trúc này, chính vị từ quyết định số lượng cũng như đặc điểm của các tham tố đi kèm
với nó.
1.1.2. Quan điểm của các nhà Việt ngữ học
1.1.2.1. Trong bài viết Một số biểu hiện của cách nhìn Âu châu đối với cấu trúc

(đích) trong những hành động làm thay đổi vị trí của đối tượng.”. [27, tr. 235].
- Câu chỉ quá trình
Câu chỉ quá trình biểu thị một biến cố không chủ ý. Có hai loại câu quá trình:
quá trình vô tác và quá trình chuyển tác. Một quá trình vô tác thường không có diễn tố
hay chỉ có một diễn tố. Diễn tố trong quá trình vô tác được gọi là Động thể hay Quá thể.
Quá trình chuyển tác là quá trình trong đó “một vật vô tri gây một tác động thay đổi
trạng thái hay vị trí của một đối tượng khác, hoặc huỷ diệt đối tượng đó đi.” [27, tr.
238]. Quá trình chuyển tác cũng thường có ít nhất hai diễn tố trong đó diễn tố thứ nhất,
chủ thể của sự tác động là Lực.
- Câu chỉ trạng thái
Câu chỉ trạng thái thường là những câu có một diễn tố. Diễn tố này chỉ chủ thể
mang tính chất hay trạng thái và được gọi là Tỉnh thể hay Đương thể (carrier). Tuy
19

Trích đoạn VTQT hữu tác: Đặc điểm ngữ nghĩa Các tham tố Cấu trúc tham tố (CTTT) Đặc điểm cấu trúc cú pháp (CTCP)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status