NGỮ NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ NGHĨ TRONG TIẾNG VIỆT - Pdf 12



111

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72A, số 3, năm 2012 NGỮ NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ NGHĨ TRONG TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thị Thu Hà
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

Tóm tắt. Bài viết này không chỉ thu thập nghĩa của động từ nhận thức “nghĩ” trên
cơ sở định nghĩa của từ điển mà còn xem xét những ngữ cảnh khác nhau nơi động
từ này có thể xuất hiện và được thay thế bởi các từ đồng nghĩa. Điều này cho phép
chúng ta hình dung một cách đầy đủ những đặc trưng ngữ nghĩa của “nghĩ” và
những từ đồng nghĩa với nó trong tiếng Việt.

1. Đặt vấn đề
Hoạt động nhận thức là hoạt động bản chất và đặc thù của con người. Thời nào
và ở đâu cũng thế, con người không thể tồn tại và phát triển nếu không có nhận thức.
Nhưng hoạt động này có tính tinh thần, hoàn toàn trừu tượng, diễn ra không có một dấu
vết nào, nhờ phương tiện ngôn ngữ mà được di chuyển ra bên ngoài. Chính ở đây, trong
quá trình sáng tạo ngôn ngữ, con người đã có nhu cầu gọi tên hoạt động này bằng một
số các từ ngữ gọi chung là từ ngữ chỉ hoạt động nhận thức, bao gồm nghĩ, nghĩ bụng,
tính, đoán, suy, động não, lưu tâm, hiểu, biết, nhớ, quên, nhận thấy, vỡ vạc Trong số
này, chúng tôi quan tâm đến động từ nghĩ.
Nghĩ được chọn làm từ đại diện cho nhóm này là bởi:
- Nó được xem là từ nguyên sơ (primary word) của ngôn ngữ tự nhiên, thuộc
vào những từ có năng lực làm siêu ngôn ngữ để giải thích, minh họa cho các từ phức
tạp khác trong phạm trù ngữ nghĩa liên quan đến hoạt động nhận thức. Điều này đã
được A. Wierzbicka công bố trong cuốn sách Các sơ giản ngữ nghĩa (Semantic

nhận thức được +/- đồng tình, được đánh giá đúng/ sai, được giải thích, phân loại theo
những cách chủ quan của người nói, và vì thế, cho rằng/ là, thấy thường xuất hiện trong
những phát biểu có tính nhận định, có tính đánh giá.
So sánh:
(Nghe tiếng gõ cửa), ai đó có thể nói:
- Tôi nghĩ anh ta đến.
- Sofa đã uống những thứ ngon nhất của họ. Cô ta nghĩ là tôi không để ý, cô ấy
liếc nhìn tôi. (dẫn theo Juri)
- Anh nghĩ là em đỏ mặt à, còn lâu!
- Nhìn cậu tươi tỉnh thế kia không ai nghĩ là cậu đau đâu.
với những phát ngôn có tính đánh giá rõ ràng như:
- Tôi cho rằng đây là sai lầm của chúng ta.
- Cậu đúng khi cho rằng điều tồi tệ nhất vẫn chưa xảy ra.
- Từ đó Hợi hoàn toàn cự tuyệt tôi, cho tôi là xảo trá, hèn hạ, không xứng đáng
với tình yêu của Hợi. (Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai)
- Tôi thấy chẳng có mất mát gì lớn ở đây cả. 113

- Tớ thấy anh ta chẳng có năng lực gì.
Rõ ràng, thấy, cho rằng/là trong hầu hết các ngữ cảnh đều chỉ ra những phát
biểu có tính đánh giá (đúng, sai, cần thiết/ không cần thiết…) và vì vậy, thường được sử
dụng trong cấu trúc kiểu như: thấy ai đó/ cái gì đó như thế nào; trong khi đó nghĩ có
thể xuất hiện trong những phát ngôn đơn giản, không có tính đánh giá.
Tuy nhiên sẽ không bao quát đầy đủ ngữ nghĩa của nghĩ nếu chúng ta chỉ giới
hạn nghĩa của nghĩ vào những phát ngôn đơn giản, thuần tuý phản ánh tình trạng của sự
việc như đã nói, vì trong nội bộ ngữ nghĩa của nghĩ có một vùng hoạt động như nghĩa
của cho là/rằng, thấy, tức nghĩ cũng mang hàm lượng đánh giá về đối tượng và lúc này,
có thể nói nghĩ đồng nghĩa với cho là/rằng, thấy. Xem xét những ví dụ sau:

chính chủ thể hoặc của người đứng ngoài sử dụng nhằm "đặt vấn đề" trở lại với những
gì chủ thể đã nghĩ.
b. +/- Mức độ chắc chắn trong sự phỏng đoán của chủ thể
+ mức độ cao: tin
+ mức độ chắc chắn không được rõ ràng (dè dặt, khiêm tốn): nghĩ
Nghĩ khác với tin nếu không muốn nói là trái ngược với tin trên tất cả các cấp
độ của sự phỏng đoán (mà sự phỏng đoán thường không có gì là chắc chắn, và giá trị
chân thực của những phỏng đoán đó vẫn còn là câu hỏi ở thời điểm hiện tại).
Những phát biểu kiểu như Tôi nghĩ là anh đang nói dối chỉ ra một sự phỏng
đoán và bản thân người nói cũng hết sức dè dặt, họ thấy không có gì là chắc chắn trong
những phán đoán của chính mình. Trong khi đó, chủ thể của những phát ngôn: Tôi tin là
anh đang nói dối dù ý thức về tính phỏng đoán trong lời nói của mình, họ đồng thời
cũng cho thấy sự chắc chắn của bản thân khi nói ra điều đó bởi họ có kinh nghiệm, có
sự quan sát, có xem xét tình hình rồi, và cũng có thể do họ có niềm tin như thế rồi. Vậy
nên, khi Tôi nghĩ là…, Tôi tin là… xuất hiện trong lời nói, “nhân vật tôi” muốn cho thấy
rằng “tôi”có thái độ dè dặt hay chắc chắn đối với điều được phỏng đoán. Nếu nói Tôi
nghĩ anh ta sẽ quay lại thì việc anh ta quay lại là có khả năng, là chưa chắc chắc và
không có căn cứ nên người nói tỏ ra dè dặt. Nhưng khi nói Tôi tin rằng anh ta sẽ quay
lại thì người nói chịu trách nhiệm về những gì mình nói, dù người nói ít nhiều tỏ ra vô
can với mệnh đề P.
Nếu chủ ngữ của cho là/ rằng thường có vẻ khiêm tốn hơn khi trình bày quan
điểm của anh ta, những điều "tôi" nói ra ở mệnh đề P chỉ là một ý kiến trao đổi với
người đối thoại, chỉ là phỏng đoán chủ quan của cá nhân, chưa phải là điều khẳng định
hay phủ định hoàn toàn. Có lẽ vì thế mà anh ta có sự chuẩn bị để chấp nhận quan điểm
của phía bên kia, nếu nó gần với thực tế hơn quan điểm của anh ta. Trong khi đó chủ
ngữ của tin thì được khẳng định hơn, ít có tính thăm dò, ít cho phép phía bên kia (phía
người đối thoại) đúng.
Thực ra sự phân biệt tin và nghĩ căn cứ vào thuộc tính này liên quan đến cái
chúng ta gọi là động từ trong ngoặc (parenthetical verb, cách gọi của J.O.Urmson) hay
tiểu từ tình thái (modal particle, cách gọi của Aijmer Karin) hay là toán tử logic - tình

- Tình huống càng phức tạp, thì những cách hiểu có thể có về đối tượng càng lớn,
tình huống càng khó để nhìn ra sự thật thì sự biện hộ/ sự bào chữa cho các kết quả nhận
thức của chủ thể càng lớn bấy nhiêu và vì thế càng đòi hỏi nhiều nỗ lực từ phía chủ thể.
Ở đây, sử dụng cân nhắc, xem xét là thích hợp.
Và :
- Tình huống càng đơn giản, càng rõ ràng và ít quan trọng bao nhiêu thì càng thích
hợp để sử dụng nghĩ vì nó không nhất thiết phải đòi hỏi nỗ lực.
Tuy nhiên, không nhất thiết phải đòi hỏi nỗ lực không có nghĩa lúc nào nghĩ
cũng hoạt động ở vùng ngữ nghĩa này, vì bên cạnh nghĩ đại (tức không đòi hỏi nỗ lực)
lại có nghĩ nát óc, vắt óc suy nghĩ, nghĩ nát nước, nghĩ đi nghĩ lại, nghĩ được, nghĩ
nhiều, hay nghĩ, bắt đầu nghĩ, đủ tỉnh táo để nghĩ, v.v Chúng không đơn giản là sự
tiếp tục hay bắt đầu trạng thái nhận thức mà là ý chí của người nói. Lúc này vắt óc suy
nghĩ, nghĩ nát nước, nghĩ đi nghĩ lại nghĩ được, nghĩ nhiều, hay nghĩ, đủ tỉnh táo để
nghĩ, v.v thích hợp khi chúng ta cần nhấn mạnh lượng nỗ lực của trí óc đã tiêu hao, đã
huy động hoặc sự khó khăn của nỗ lực này. Ví dụ: 116

- Nghĩ được điều ấy trong đầu, tôi mới chợt nhận ra rằng, suốt từ lúc bước ra
khỏi căn phòng đó tới giờ tâm trí tôi hoàn toàn để ở chỗ cũ. (Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai)
- Mặc dù tôi nghĩ nhiều về nó nhưng tôi thấy cũng chẳng bở gì/ dễ gì.
- Khi trong người thấy khoẻ, tôi cũng đủ tỉnh táo để nghĩ rằng, giết đi một lực
lượng đại diện cho cái ác thì có nghĩa là anh đang làm điều thiện.

(Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai).
Và bắt đầu nghĩ cho thấy không hề đơn giản khi chủ thể bắt đầu một trạng thái
trí tuệ, khởi đầu một ý kiến và một hành động của ý chí để xem xét lại, đặt vấn đề
trở lại với nhận định của một ai đó hoặc xem lại chính nhận định của mình khi hoàn
cảnh mới có những biểu hiện chống lại nhận định của người nói, ví dụ: “Tôi bắt đầu

- Bây giờ tôi nhìn điều này với con mắt hoàn toàn khác.
Những ví dụ trên cho thấy quan niệm của chủ thể không nhất thiết phải chuyển
tải qua “kênh" động từ và danh từ quan niệm mà có thể linh hoạt sử dụng đến một loạt
các động từ khác như: coi, xem, nhìn, nhìn nhận, nghĩ… Những ví dụ này đồng thời
cũng cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa suy nghĩ - nhận thức của con người và quan
điểm, quan niệm của họ. Ở đây, suy nghĩ - nhận thức dựa trên toàn bộ quan điểm cá
nhân, cũng có thể nói, suy nghĩ của chủ thể phán ánh quan điểm, quan niệm của anh ta
về đối tượng.
3. Kết luận
Nghĩ là từ nguyên sơ, có chức năng siêu ngôn ngữ, chúng ta chấp nhận nó như một
tiên đề mà không giải thích, nếu giải thích sẽ gặp vô vàn khó khăn và mắc phải cái vòng
luẩn quẩn. Tuy nhiên cùng với nỗ lực của các nhà biên soạn từ điển, chúng tôi mạnh dạn
khái quát ngữ nghĩa của nghĩ trong tiếng Việt như sau: Nghĩa từ vựng của nghĩ đặt cơ sở
trên hai vùng đó là vùng nhận thức tức thời của chủ thể nảy sinh trong khi nói để chỉ ra
tình trạng của các sự việc, sự vật, hoạt động này không cần nỗ lực của trí tuệ, không cần
ý chí của chủ thể và vùng nghĩa thứ hai liên quan đến đánh giá, nhận định của chủ thể. Với
vùng ngữ nghĩa thứ nhất, nghĩ phân biệt nghĩa với nhóm động từ cho là/rằng, thấy -
những từ hàm chứa nét nghĩa nhận định, đánh giá và nghĩ cũng phân biệt với cân nhắc,
xem xét - những từ hàm chứa nét nghĩa đòi hỏi sự đầu tư công sức, sự nỗ lực của trí tuệ
và ý chí.
Ở vùng ngữ nghĩa thứ hai nghĩ tương đương với cho là/rằng, thấy - tức đã hàm
chứa nét nghĩa nhận định, đánh giá của chủ thể. Ở vùng thứ hai này, trong nhiều trường
hợp, nghĩ thể hiện một sự đánh giá đặc biệt, đánh giá để thể hiện quan điểm lập trường,
bấy giờ nghĩa của nghĩ đến gần với nghĩa của quan niệm (cũng như coi, xem).
Căn cứ vào một loạt hoạt động hành chức của nghĩ với các thuộc tính ngữ nghĩa ở
trên (trong tương quan ngữ nghĩa với các động từ nhận thức gần gũi nó), chúng tôi mạnh
dạn bổ sung thêm nghĩa thứ 4 về nghĩ (từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên dừng lại
ở 3 nghĩa – 1,2,3). Chưa hết, nghĩ với nghĩa thứ nhất, theo chúng tôi, không nhất thiết
phải mang nét nghĩa "để có ý kiến, sự phán đoán, thái độ". Bằng chứng là nghĩ có thể chỉ
nảy sinh trong khi nói, để chỉ ra nhận thức tức thời của chủ thể, không nhất thiết phải thể

Berlin: Mouton de Gruyter, (1997), 1- 47.
9. Apresjan Juri, The problem of factivity: znat’ [to know] and its synonyms, Systematic
Lexicography, Oxford University Press, 1995.
10. Apresjan Juri, The synonymy of mental predicates: schitat’ [to consider] and its
synonyms, Systematic Lexicography, Oxford University Press, 1995. 119

THE SEMANTICS OF THE VERB “NGHĨ”’ (‘TO THINK’) AND ITS
SYNONYMS IN VIETNAMESE
Nguyen Thi Thu Ha
College of Sciences, Hue University

Abstract. This article not only investigates the meaning of the mental verb “nghĩ”
(“to think”) based on its dictionary definition, but also looks at many different
contexts in which this verb occurs and how it could be replaced with synonyms.
This allows a complete understanding of the semantic characteristics of the verb
“nghĩ” and its synonyms in Vietnamese language.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status