Nghiên cứu hành động đề nghị trong tiếng việt - Pdf 10

Nghiên cứu hành động đề nghị trong
tiếng Việt Lê Thị Tố Uyên Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đào Thanh Lan
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Chương I. Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài: hành động ngôn từ; Hành
động cầu khiến tiếng Việt; Hành động đề nghị trong mối quan hệ với hành động cầu
khiến; Hành động đề nghị và tính lịch sự. Chương II. Nhận diện hành động đề nghị
trong tiếng Việt: nghiên cứu tiêu chí nhận diện hành động đề nghị trong tiếng Việt
và phương pháp nhận diện hành động đề nghị trong tiếng Việt. Chương III. Phương
thức biểu hiện hành động đề nghị trong tiếng Việt: Phương thức biểu hiện hành động
đề nghị trực tiếp và gián tiếp.

Keywords. Tiếng Việt; Giao tiếp; Hành động đề nghị; Ngôn ngữ học

Content
MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ có chức năng quan trọng trong hoạt động giao tiếp, nhưng đơn vị giao tiếp
cơ bản không phải là câu hay một hình thức ngôn ngữ nào đó như theo quan niệm của ngôn
ngữ học truyền thống mà là một phát ngôn nhằm thực hiện một hành động nhất định. Thành
tựu của ngôn ngữ học hiện đại cho thấy những hành động mà ta thực hiện bằng lời nói vô
cùng phong phú, đa dạng chứ không chỉ là nói để kể, để hỏi hay để cầu khiến.

+ Thủ pháp cải biến
+ Thủ pháp so sánh
1.2. Nguồn ngữ liệu
Các ngữ liệu đã khảo sát và trình bày trong luận văn được thu thập chủ yếu từ một số
văn bản viết (gồm văn bản thuộc phong cách nghệ thuật và văn bản thuộc phong cách hành
chính, công vụ), và từ lời ăn tiếng nói hàng ngày mà người viết quan sát, ghi chép lại được.

PHẦN NỘI DUNG

CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
I. VỀ HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ
1.1. Khái niệm về hành động ngôn từ
Hành động ngôn từ (speech acts) đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ đầu những
năm 60 của thế kỷ XX. Mỗi lần nói đến lý thuyết hành động ngôn từ, chúng ta đều nghĩ ngay
tới nhà triết học người Anh, J.L.Austin và cũng không thể bỏ qua nhà triết học nổi tiếng
người Áo L.Wittgenstein [33] – người đặt tiền đề và tiên phong cho lý thuyết này. Hành động
ngôn từ nhấn mạnh bản chất của lời nói. Khi ta nói một câu nghĩa là ta đã thực hiện một hành
động nào đó, tức là chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ.
Chẳng hạn như thông báo, khuyên, chúc mừng, tuyên bố, hứa hẹn,… Trong luận văn này,
chúng tôi sử dụng thuật ngữ “hành động ngôn từ” theo ý khi ta nói một câu nghĩa là ta đã thực
hiện một hành động nào đó và nó tương đương với thuật ngữ “hành vi ngôn ngữ”. Trong lý
thuyết của mình, J.L.Austin xem hành động ngôn từ là một thể thống nhất những hành động:
− Hành động tạo lời (locutionary act)
− Hành động tại lời (illocutionary act)
− Hành động mượn lời (perlocutionary act)
1.2. Điều kiện sử dụng hành động ngôn từ
Các hành động tại lời cũng đòi hỏi những điều kiện nhất định. Các hành động tại lời bị
chi phối bởi các quy tắc hình thành tự nhiên theo cộng đồng vì vậy mỗi loại hành động tại lời
có những điều kiện sử dụng của nó mà Austin gọi tên chúng là những điều kiện thuận lợi. Về

(3) Hứa hẹn (Commissive)

Như vậy, J.L.Austin và J.R.Searle đã đưa ngôn ngữ vào sự phong phú, đa dạng nhưng
không kém phần phức tạp của hoạt động ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày. Lý thuyết trên
đã khẳng định giao tiếp cơ bản của ngôn từ là một phát ngôn thực hiện hành động.
1.4. Phân biệt phát ngôn ngôn hành tƣờng minh và phát ngôn ngôn hành nguyên
cấp
1.4.1. Phát ngôn ngôn hành tường minh
Phát ngôn ngôn hành tường minh là phát ngôn có chứa những dấu hiệu chỉ ra chính
hành động được thực hiện khi phát ra phát ngôn đó.
Ví dụ: - Con xin lỗi mẹ, con đã để mẹ phải chờ! - Nó lúng búng trong mồm.
(Hậu thiên đường, Nguyễn Thị Thu Huệ, tr. 6)
Những phát ngôn không chứa các động từ ngôn hành mà sử dụng các phương tiện chỉ
dẫn hiệu lực tại lời được gọi là các phát ngôn nguyên cấp.
Ví dụ: - Thưa bà, con so.
- Bà nên nói thực, thì tôi mới liệu được. Tôi xem bụng bà, hình như đẻ con rạ thì phải
hơn.
- Thưa bà, thực tôi đẻ con so.
(Oẳn tà roằn, Nguyễn Công Hoan, tr. 5)
1.5. Hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp
1.5.1. Nghĩa tường minh (hiển ngôn) và nghĩa hàm ẩn (hàm ngôn)
1.5.1.1. Nghĩa tường minh (hiển ngôn)
Nghĩa tường minh là ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ như âm,
từ, kết cấu phát ngôn…ý nghĩa này hiển hiện trên ngôn từ còn gọi là hiển ngôn. Bất kì một
phát ngôn nào cũng có nghĩa tường minh.
1.5.1.2. Nghĩa hàm ẩn (hàm ngôn)
Nghĩa hàm ẩn là ý nghĩa không lộ ra trên mẫu câu, từ ngữ. Muốn lĩnh hội được ý
nghĩa đó, người tiếp nhận phải trải qua một quá trình suy ý từ nghĩa tường minh, căn cứ vào
tình huống phát ngôn, cách thức sử dụng mẫu câu, từ ngữ và quy tắc hợp logic.
1.5.2. Hành động ngôn từ trực tiếp (hiển ngôn) và hành động ngôn từ gián tiếp

phát ngôn.
(3) Cường độ, mức độ cầu khiến của chủ ngôn.
Theo Đào Thanh Lan [14; 42], căn cứ vào lực ngôn trung cầu khiến thể hiện ở mức độ
cầu khiến cao hay thấp và căn cứ vào sự đa dạng của phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung mà
có thể phân chia hành động cầu khiến thành các kiểu nhỏ hơn như lược đồ sau:
Stt
Hành động
cầu khiến
Mức độ cầu khiến
Nội dung
mệnh lệnh
Hình thức biểu đạt điển hình
1.
ra lệnh
Khiến cao nhất
Làm
Vnh, hãy, đi
2.
cấm
Khiến cao nhất
Không làm
Vnh, không được
3.
cho/ cho phép
Khiến cao
Làm
Vnh, hãy, đi
4.
yêu cầu
Khiến cao

10.
nhờ
Cầu cao
Làm
Vnh, với
11.
chúc
Cầu cao
Làm
Vnh, nhé
12.
xin phép
Cầu cao
Làm
Vnh, với
13.
cầu
Cầu rất cao
Làm
Vnh (xin, van), với
14.
nài
Cầu rất cao
Làm
Vnh, với
15.
van
Cầu rất cao
Làm
Vnh, với

riêng của xã hội đó.
4.2. Hành động đề nghị và tính lịch sự
Hành động đề nghị có mức độ cầu khiến là khiến trung bình, cầu thấp. Nó có vẻ
“khiêm nhường” hơn hành động yêu cầu và có vẻ “lịch sự” hơn hành động ra lệnh. Vậy thì,
hành động đề nghị là hành động có hiệu quả tích cực, tức là có tính chất lịch sự và nếu không
có tính chất lịch sự thì nó có thể trở thành hành động ra lệnh hoặc hành động yêu cầu.
Tiểu kết: Như vậy, chương I chúng tôi đã trình bày một số vấn đề lý luận có liên quan
đến đề tài, gồm vấn đề về hành động ngôn từ, hành động cầu khiến nói chung và hành động
đề nghị trong tiếng Việt nói riêng. Hành động đề nghị được tìm hiểu trong mối quan hệ khăng
khít với hành động cầu khiến, đồng thời hành động này cũng được xem xét trong mối quan hệ
với tính lịch sự. Cơ sở lý luận này sẽ làm nền tảng và định hướng nghiên cứu cho toàn luận
văn.

CHƢƠNG II
NHẬN DIỆN HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ TRONG TIẾNG VIỆT
I. TIÊU CHÍ NHẬN DIỆN HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ TRONG TIẾNG VIỆT
1.1. Tiêu chí thứ nhất: ngữ cảnh tình huống
1.1.1. Quan điểm của một số tác giả Việt Nam về ngữ cảnh tình huống
a. Quan điểm của Đỗ Hữu Châu
“Hoàn cảnh giao tiếp là cái thế giới xã hội và tâm lí mà trong đó ở thời điểm nhất
định người ta sử dụng ngôn ngữ. Nó ít nhất bao gồm những điều, những tiền ước của người
nói (kể cả người nghe) về thời gian, không gian và thiết chế xã hội về các hành động đã qua,
đang diễn ra và trong tương lai (hành động bằng lời và không bằng lời)”.
b. Quan điểm của Cao Xuân Hạo
“Một phát ngôn bao giờ cũng được thực hiện trong một tình huống nhất định kể cả
tình huống bên ngoài lẫn tình huống của quá trình hội thoại (thường được gọi là văn cảnh
hay ngôn cảnh)”.
c. Quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp
“Ngữ cảnh tình huống là xã hội tâm lí mà trong đó, ở một thời điểm người ta sử dụng
ngôn ngữ. Nó có thể bao gồm sự hiểu biết về vị thể của người nói và người nghe, sự hiểu biết

Vị thế giao tiếp được hiểu là địa vị, tư thế của một người nào đó trong bối cảnh cụ thể
của cuộc giao tiếp mà người đó tham gia.
Vị thế giao tiếp được tạo thành bởi các nhân tố sau: vị thế xã hội + mục đích phát
ngôn.
Mối quan hệ giữa vị thế xã hội và vị thế giao tiếp
Vị thế xã hội và vị thế giao tiếp có quan hệ mật thiết với nhau.
1.3. Tiêu chí thứ 3: Khả năng hiện thực hóa của hành động đề nghị
1.3.1. Tiếp ngôn đáp lại bằng hành động ngôn từ
Hành động cầu khiến nói chung và hành động đề nghị nói riêng luôn có xu hướng chờ
đợi tiếp ngôn đáp lại bằng hành động. Hành động đáp lại này cũng có thể là một hành động
ngôn từ (tức là việc trả lời của tiếp ngôn).
1.3.2. Tiếp ngôn đáp lại bằng một hành động vật lý
Hành động vật lý ở đây có thể hiểu là các hành động như lắc đầu khi không đồng ý,
im lặng khi không muốn nói ra lời từ chối hoặc đồng ý, gật đầu khi đồng ý hoặc thực hiện
hành động theo lời đề nghị của chủ ngôn.
1.4. Tiêu chí thứ tƣ: Những dấu hiệu hình thức đánh dấu phát ngôn đề nghị
1.4.1. Vị từ ngôn hành đề nghị: đề nghị
Ví dụ: Sử mang đến cuốn sổ điện báo:
- (Tôi) Đề nghị anh duyệt bức điện sắp đánh.
( Trước giờ nổ súng - Phan Tứ - tr. 19)
1.4.2. Vị từ tình thái: hãy
Ví dụ: - Địa chỉ gia đình em đã ghi cả ở trong này. Anh hãy đưa đến tận tay mẹ em.
(Người đàn bà uống rượu - Hữu Ước - tr. 120)
1.4.3. Vị từ: để
Ví dụ: - Tôi cặp thuyền vào bờ để anh lên nhé!
(Truyện ngắn chọn lọc - Nguyễn Huy Thiệp - tr. 204)
1.4.4. Các tiểu từ tình thái: nào/ nhé/ đã
Ví dụ: (1) Cả phòng này, tiếp sau lời Phụng - Vịnh đột ngột lên tiếng - Mình có cái
này, còn gần một tiếng nữa - liếc mắt vào đồng hồ nơi tay Vịnh tiếp - Mình đọc cả phòng
nghe nhé.

+ Về chiến lược hành động
+ Về quyền từ chối của tiếp ngôn.
+ Về thời gian hiện thực hóa hành động.
Chúng ta có thể tổng quát các nét khác biệt giữa hành động đề nghị và các hành
động khác trong bảng sau:
Tiêu chí Hành
động
Vị thế
Người
hưởng lợi
Quyền từ
chối của
T
Hướng
thực hiện
hành động
Chiến
lược
hành
động
Thời
gian
hiện
thực
hóa
hành
động

Vnh, nhé,
nào, hãy,
đã.
Khuyên
bảo
C = T
C > T
C < T
T
có (ít)
T
tình cảm
không
câu
thúc
Vnh, nên,
không nên
Dặn dò
C = T
C > T
C < T
C
hoặc
T

T
tình cảm
và lí trí
không
câu

Riêng về hành động đề nghị, chúng ta có thể thấy, ngoài những đặc điểm chung của
hành động cầu khiến như hướng tiếp ngôn đến việc thực hiện một hành động, mong muốn
tiếp ngôn phản hồi, có chứa đựng những dấu hiệu hình thức nhất định… thì khi đi vào chi tiết
vấn đề, chúng ta sẽ thấy được sự phân lập nhất định giữa nó với các hành động xung quanh
như yêu cầu, khuyên bảo, rủ rê, nhờ vả…

CHƢƠNG III
PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ TRONG TIẾNG VIỆT
I. PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ TRỰC TIẾP
TRONG TIẾNG VIỆT
1.1. Phƣơng tiện chỉ dẫn lực ngôn trung đề nghị trƣờng minh - lời đề nghị tƣờng
minh
Lời đề nghị tường minh là lời chứa vị từ ngôn hành “đề nghị”. Xét khả năng hoạt
động của vị từ ngôn hành đề nghị chúng ta có mô hình đầy đủ, khái quát của lời đề nghị chứa
vị từ ngôn hành đề nghị là:

K1 = D1 + Vnhđn + D2 + V (p)

Chàng nói vào giờ phút đầy nước mắt: “Thầy đề nghị cả lớp chúng ta (lúc này chỉ
còn lại ba phần tư) hãy để tang cho các thầy cô và các bạn đã không còn nữa sau trận
bom…”
(Đạo của tình yêu - Trần Huy Quang - tr.316)
Mô hình biến thể thứ nhất là dạng rút gọn D1 (Quy ước: K1
a
)
Đây là dạng có tần số xuất hiện cao nhất ở cả văn bản nghệ thuật lẫn văn bản hành
chính, công vụ. (xem bảng thống kê bên dưới).
Đây là mô hình có cả vị từ ngôn hành cầu khiến và vị từ ngôn hành đề nghị cùng hoạt
động trong lời. Vị từ ngôn hành cầu khiến là “xin” thiên về biểu thị sắc thái lịch sự của hành
động đề nghị còn vị từ ngôn hành đề nghị biểu thị nội dung của hành động.
Ví dụ: - Công việc cụ thể xin đề nghị được đóng góp:
Ban Liên lạc tự nguyện tham dự Lễ đặt tên trường với kinh phí tự túc.
(Đơn đề nghị của trường Nghi Tàm - TP.HCM - Phạm Văn Lâm - 18/12/ 2003)
Bên cạnh việc sử dụng Vnhck “xin”, một số phát ngôn còn xuất hiện từ “kính” trước
Vnhđn để thể hiện sự khiêm nhường và tôn trọng tiếp ngôn.
Ví dụ: … nay chúng tôi làm đơn này kính đề nghị Qúi tòa : Ra quyết định triệu
tập giám định viên của Phân viện Khoa học hình sự TP.HCM…
(Đơn đề nghị triệu tập giám định viên tham dự phiên tòa - Nguyễn Văn Văn &
Nguyễn Thị Huệ - 27/09/ 2010)
K1
a
= Vnhđn + D2 + V (p)
K1
b
= D1 + Vnhđn + V (p)
K1
c
= Vnhđn + V (p)
K1
d
= Vnhck + Vnhđn + (D2) +V (p)
Tổng số phát ngôn chứa vị từ ngôn hành đề nghị là 105 phát ngôn. Dưới đây là bảng
thống kê tần số xuất hiện của các vị từ ngôn hành đề nghị ở dạng đầy đủ và dạng biến thể:
Mô hình
Tần

(Khẩu ngữ)
Về khả năng kết hợp, “hãy” trong hành động đề nghị có khả năng kết hợp với số
lượng lớn động từ chỉ hoạt động của con người. Một số vị từ chỉ sự hoạt động của con người
mang ý nghĩa tiêu cực, như: cút, xéo, biến, câm/ câm mồm, ngậm miệng, thường xuất hiện
trong phát ngôn biểu thị hành động ra lệnh hoặc yêu cầu, không xuất hiện trong phát ngôn
biểu thị hành động đề nghị.
“Hãy” không kết hợp với các vị từ mà chủ thể tiếp nhận hành động chịu sự tác động
tiêu cực. Ví dụ như: xấu hổ, ngại, coi thường, khinh bỉ, làm khổ, dửng mỡ và “bị”.
“Hãy” hầu như không kết hợp với nhóm vị từ chỉ sự tồn tại, xuất hiện và tiêu biến
(hay động từ chỉ trạng thái) trong phát ngôn đề nghị. Bản thân nhóm từ này mang nghĩa quá
trình và được xếp vào nhóm vị từ trạng thái chỉ trạng thái nhất định của sự vật, hiện tượng.
Đại diện cho nhóm các vị từ này như: “có”, “còn”, “mất”, “hết”.
Theo thống kê của luận văn, vị từ tình thái “hãy” hoạt động khá phổ biến với tỉ lệ là 12,3 %
so với tổng số các phát ngôn thể hiện hành động đề nghị trực tiếp.
1.2.2. Tiểu từ tình thái “nào”
Mô hình cấu trúc của phát ngôn chứa tiểu từ “nào” cũng giống như mô hình cơ bản
của phát ngôn đề nghị chứa tiểu từ “nhé”.

Ví dụ: Một ông già hướng mặt về phía Dũng bảo: “Đồng chí bộ đội có chuyện gì vui
kể nghe nào”.
(Một người Hà Nội - Nguyễn Khải - tr. 250)
Theo khảo sát, tiểu từ “nào” không chỉ có vị trí đứng cuối phát ngôn mà còn đứng cả
ở đầu phát ngôn. Khi đặt phát ngôn có chứa “nào” ở vị trí đầu phát ngôn vào ngữ cảnh giao
K2 = D2/ Đ2 + hãy + V (+ p)
D2/ Đg + V + nào.
tiếp cụ thể, ta thấy rõ được hiệu quả giao tiếp mà phương tiện này đạt tới. Ở vị trí đầu phát
ngôn, “nào” biểu thị nội dung yêu cầu một cách thân mật người đối thoại thực hiện một hành

(b) - Anh thổi tiêu đấy ư, em thích nghe lắm đấy nhé.
(Mùa lạc - Nguyễn Khải)
Hai phát ngôn này thuộc cấu trúc kiểu (I), có từ xưng hô ở ngôi 1, có biểu thức của lời
trần thuật, chủ ngôn tuyên bố với tiếp ngôn hành động, tính chất nào đó của chủ ngôn. Với lời
tuyên bố, phát ngôn (a) có hàm ý mong muốn tiếp ngôn chấm dứt suy nghĩ hoặc hành động
coi chủ ngôn là “lính”. Còn ở phát ngôn (b).” có hàm ý khuyến khích tiếp ngôn thực hiện
hành động thổi tiêu, nên nó có mục đích cầu khiến. Đích cầu khiến được thực hiện thông qua
lời trần thuật (tự thuật) với hành động tuyên bố nên hai phát ngôn trên là lời cầu khiến gián
tiếp.
Nghĩa thứ hai của “nhé” là chủ ngôn đề nghị tiếp ngôn đồng ý làm gì theo ý mình.
Người thực hiện hành động là tiếp ngôn.
Ở kiều này, chúng ta có sơ đồ cấu trúc như sau:
(II) Ý nghĩa cầu khiến trong cấu trúc của nghĩa thứ hai mạnh hơn cấu trúc của nghĩa thứ nhất
và được thể hiện ở hai dạng: khẳng định và phủ định.
Dạng khắng định:
D1 + V + D2 + nhé
D2 + V + D1/D3 + nhé
Ví dụ: Viện chạy theo nó dỗ dành:
- Cơm em con nó chót ăn hết rồi chả là hôm nay mẹ không thổi thêm. Cầm lấy năm
đồng tối đi ăn kẹo lạc, còn bây giờ hai anh em chuẩn bị thổi cơm mời cô Tân ăn nhé
(Một chiều xa thành phố - Lê Minh Khuê - tr.433)

Dạng phủ định:
Nó níu chị, mắt rơm rớm vẻ nuối tiếc.
- Cô đừng giận mẹ cháu nhé.
(Gió mưa gửi lại - Thùy Linh - tr.811)
Cấu trúc (II) cũng có biến thể rút gọn D1/ D3:

vì không tương hợp về nghĩa biểu hiện.
Ví dụ: (*): Các anh để tôi xinh đã.
Phát ngôn chứa tiểu từ “đã” xuất hiện 17 lần chiếm 5,2 % số phát ngôn biểu thị hành
động đề nghị trực tiếp.
1.2.5. Khả năng kết hợp của vị từ tình thái cầu khiến và tiểu từ tình thái cầu khiến
Tiểu từ tình thái cầu khiến “hãy” có thể kết hợp được với tất cả các tiểu từ tình thái
cầu khiến đang xét.
- Hãy đợi tôi một chút nhé.
- Hãy để tôi nghĩ đã.
- Hãy ngoan nào.
D2 + V + nhé
D2 + để (cho) D1/ D3 + V + đã
Để + D1 + V + đã
Mô hình khái quát về khả năng kết hợp của “hãy với tiểu từ tình thái cầu khiến là: “Hãy” cũng có thể kết hợp đồng thời với 2 tiểu từ tình thái trong một phát ngôn, cụ
thể:
D2/ Đg + hãy + để + D1/ D3+ V(p) + đã nào
+ đã nhé.
1.3. Phƣơng tiện chỉ dẫn lực ngôn trung bán tƣờng minh - phát ngôn đề nghị bán
tƣờng minh
Bán tường minh là khái niệm chỉ hiện tượng phát ngôn cầu khiến có sơ đồ thuộc kiểu
biểu thức cầu khiến tường minh K1 nhưng vị từ cầu khiến trong biểu thức này không do vị từ
ngôn hành biểu thị mà do vị từ cầu khiến đặc biệt như mong/ muốn/ cần biểu thị.
Qua khảo sát chúng tôi thấy, phát ngôn chứa vị từ “mong” có thể hiện hành động đề
nghị.

Cuộc oanh kích của chúng tôi tiếp tục.
(Trận đánh cuối cùng - Hữu Mai - tr. 28)
K2= D2/ Đg + hãy + để + D1/ D3 + V(p) + nào/ nhé/ đã
D1 + V(mong) + D2 + V(p)
Chính vì sự tương hợp nghĩa giữa vị từ ngôn hành đề nghị và các vị từ hãy, nào, nhé,
đã và vị từ bán nguyên cấp để cho nên khả năng kết hợp giữa các yếu tố này trong cùng một
phát ngôn là rất cao.
Như phần trước đã đề cập đến khả năng kết hợp của hãy với tiểu từ tình thái đã nào
(hãy… đã nào) và hãy với đã nhé (hãy… đã nhé) trong mô hình K2 (D1 + hãy + để + D1/D3
+ V(p) + đã nào/ đã nhé) là hoàn toàn có thể. Còn nếu vị từ ngôn hành đề nghị đứng trước
mô hình K2 này thì phát ngôn lại có mô hình K1.
Mô hình như sau: K1 = D1 + V(đề nghị) + K2
Ví dụ:Tôi đề nghị anh hãy để tôi đọc xong quyển sách này đã nào / đã nhé.
(Khẩu ngữ).
b. Vị từ mong được xếp vào nhóm vị từ cầu khiến bán tường minh, có mô hình thuộc kiểu
K1: D1 + V(mong) + D2 + V(p). Ngoài sự đặc biệt ở chỗ nó khác với vị từ ngôn hành cầu khiến
là không gọi tên hành động ngôn trung cầu khiến cụ thể nào mà nó còn đặc biệt ở chỗ có khả
năng kết hợp với vị vị từ ngôn hành đề nghị.
Ví dụ: Tôi mong anh đề nghị với ban giám đốc về việc này. (Khẩu ngữ)
Khi đó, vị từ tình thái mong lại là động từ chính trong phát ngôn, còn đề nghị chỉ là vị
từ phụ bổ nghĩa cho vị từ chính.
II. PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN HÀNH ĐỘNG ĐỀ NGHỊ GIÁN TIẾP
TRONG TIẾNG VIỆT
1.1. Phát ngôn hỏi - đề nghị
1.1.1. Phát ngôn hỏi - đề nghị đồng hướng
Nếu quy ước phần nội dung mệnh đề lô gíc của phát ngôn là P (chủ thể sự tình ở P là D2/
Đ2/ Đg), ta có mô hình cấu trúc của biểu thức hỏi dạng này là:
1.1.1.1. Biểu thức dạng: hay (là) + P?
Ngữ nghĩa của biểu thức:
Theo từ điển tiếng Việt [26], “hay” là kết từ biểu thị quan hệ tuyển chọn giữa hai điều

Ngữ nghĩa khái quát của biểu thức:
Theo từ điển tiếng Việt [26], ”có thể” thường dùng phụ trước động từ, “được” thường
dùng phụ sau động từ với nghĩa ”có khả năng hoặc điều kiện, chủ quan hoặc khách quan làm
việc gì.” Vì vậy, lời hỏi chứa “có thể” hoặc “được” dùng để hỏi về khả năng thực hiện hành
động của tiếp ngôn. Lời đáp là một trong hai khả năng: “có thể” hoặc “không thể”, “được”
hoặc “không được”. Trả lời ở dạng khẳng định là lời đáp đáp tích cực, ngược lại là lời đáp
tiêu cực.
Khi hỏi nhằm mục đích đề nghị, chủ ngôn dự liệu là mong muốn lời đáp theo hướng
tích cực, kéo theo là tiếp ngôn sẽ thực hiện hành động nêu ra trong phát ngôn hỏi mà chủ
ngôn đưa ra.
Ví dụ: - Chúa sẽ tha tội cho con. Nhưng con có thể nói rõ hơn được không? Trước
chúa, con có thể nói tất cả.
- Con hiểu. Thưa cha
(Đừng chảy sông ơi - Nguyễn Đức Thiện - tr. 11)
1.1.1.4. Biểu thức hỏi - đề nghị nêu nguyện vọng của chủ ngôn:
D1 + muốn/ có thể + V + đƣợc không?
D1 + V + đƣợc không?
Đặc trưng ngữ nghĩa cơ bản của dạng này là biểu thị tính cầu khá cao. Chủ ngôn đề
nghị tiếp ngôn cho chủ ngôn được thực hiện hành động đã nêu ra trong lời hỏi một cách lịch
sự, mang tính hướng nội. Chính vì tính hướng nội nên về mặt cấu trúc, đề ngữ là ở ngôi 1 báo
hiệu người hỏi đồng nhất với người thực hiện hành động đã nêu trong phát phát ngôn hỏi.
Ví dụ: - Này, Lệ Hằng. Anh muốn kết nạp em vào hội của anh có được không?
- Em chịu thôi. Ba nghiêm lắm…
(Người đàn bà uống rượu - Hữu Ước - tr. 169)
Phát ngôn liên quan đến khả năng thực hiện hành động của tiếp ngôn và phát ngôn
liên quan đến việc nêu nguyện vọng của chủ ngôn có số lần xuất hiện là 18 lần, chiếm 5,2%
tổng số phát ngôn biểu thị hành động đề nghị gián tiếp.
1.1.2. Phát ngôn hỏi - đề nghị ngược hướng
1.1.1.1. Phát ngôn hỏi mang ý nghĩa phủ định nhằm đề nghị thực hiện hành động
ngược lại hành động đã nêu trong phát ngôn hỏi dạng:

Hoặc phát ngôn chứa yếu tố biểu thị thời cũng là phát ngôn trần thuật:
- Mẹ anh giơ tay áo quệt nước mắt và bước ra ngoài. “ Bu! - Anh nhìn thẳng
vào mắt mẹ - Cha đang cần bu lúc này”.
(Chuyến đi săn cuối cùng - Sương Nguyệt Minh - tr. 803)
Việc sử dụng phát ngôn trần thuật để gián tiếp thể hiện hành động đề nghị đã tăng
thêm tính lịch sự cho lời đề nghị. Chủ ngôn đã cho phép tiếp ngôn tự suy ra hàm ý đề nghị và
quyết định sự lựa chọn thông qua thao tác suy ý của mình. Chính vì vậy, tính áp đặt của các
phát ngôn này giảm xuống và tăng sự lựa chọn đối với tiếp ngôn.
Tiểu kết: Như vậy, chương III chúng tôi đã trình bày các phương thức biểu hiện hành
động đề nghị trong tiếng Việt, bao gồm phương thức biểu hiện trực tiếp và phương thức biểu
hiện gián tiếp. Phương thức biểu hiện trực tiếp hành động đề nghị bao gồm phát ngôn đề nghị
tường minh có lực ngôn trung được thể hiện qua vị từ ngôn hành đề nghị với cấu trúc K1 và
phát ngôn đề nghị nguyên cấp được thể hiện bằng vị từ tình thái hãy và/ hoặc nhóm tiểu từ tình
thái cuối lời nào, nhé, đã với cấu trúc K2. Ngoài ra còn có phát ngôn đề nghị bán tường minh
do vị từ phi ngôn hành mong hoạt động trong cấu trúc K1 biểu thị. Các phương tiện chỉ dẫn lực
ngôn trung tường minh, bán tường minh và nguyên cấp có thể kết hợp với nhau trong cấu trúc
K1. Phát ngôn đề nghị bán nguyên cấp do vị từ để hoạt động trong cấu trúc K2 biểu thị.
Phương thức biểu hiện gián tiếp hành động đề nghị gồm phát ngôn ngôn hỏi - đề nghị, trong đó
hoạt động phổ biến nhất là phát ngôn hỏi - đề nghị đồng hướng với cấu trúc hay (là) + P?, P +
chứ? và phát ngôn trần thuật - đề nghị.

KẾT LUẬN
Sau đây là một số kết quả nghiên cứu về hành động đề nghị trong tiếng Việt của luận
văn:
* Tiếng Việt có 16 hành động cầu khiến, trong đó hành động đề nghị là hành động vừa
có tính khiến vừa có tính cầu. Để nhận diện được hành động này cần căn cứ vào các tiêu chí và
sự so sánh với một số hành động khác như khuyên, dặn, yêu cầu, rủ, nhờ,
* Hành động đề nghị tiếng Việt được biểu hiện theo hai phương thức: phương thức
trực tiếp và phương thức gián tiếp. Phương thức trực tiếp tạo ra phát ngôn đề nghị trực tiếp.
Dấu hiệu điển hình của phát ngôn đề nghị trực tiếp là biểu thức ngôn hành đề nghị tường

7. Đinh Văn Đức, Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại); Nxb ĐH và THCN, 1986.
8. Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học việt ngữ, Nxb ĐH QGHN, 2000.
9. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng - quyển 1, Nxb Khoa học
Xã hội, 1991.
10. Nguyễn Thị Hồng, Hành vi cầu khiến và ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt
như một ngoại ngữ; Luận văn ThS. Ngôn ngữ học, H., ĐH KHXH&NV,
ĐHQGHN, 2008.
11. Bùi Mạnh Hùng, Bàn thêm về vấn đề phân loại câu theo mục đích phát ngôn,
Ngôn ngữ số 2, 2003.
12. Nguyễn Thị Thanh Hương, Đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của phát ngôn hỏi –
cầu khiến, Luận văn ThS. Ngôn ngữ học, H., ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN, 2005.
13. Vũ Thị Thanh Hương, Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt, Tạp chí
Ngôn ngữ số 1, 1999.
14. Đào Thanh Lan, Ngữ pháp ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt, Nxb Khoa học
xã hội, 2010.
15. Đào Thanh Lan, Phân tích câu đơn tiếng Việt theo cấu trúc đề - thuyết, Nxb ĐH
QGHN, 2002.
16. Đào Thanh Lan, Cách biểu hiện hành động cầu khiến gián tiếp bằng cầu hỏi -
cầu khiến, Tạp chí Ngôn ngữ số 11, 2005, Tr: 28-32.
17. Đào Thanh Lan, Câu cầu khiến tiếng Việt, Đề tài cấp ĐHQGHN, 2002.
18. Đào Thanh Lan, Ứng dụng quan điểm ngữ pháp chức năng vào khảo sát lại nhóm
từ: Hãy, Đừng, Chớ, Tạp chí khoa học, ĐHQGHN, số 3, 2000.
19. Đào Thanh Lan, Một số đặc điểm ngữ nghĩa – ngữ dụng của nhóm vị từ biểu thị
hoạt động nói năng trong tiếng Việt; Tạp chí Ngôn ngữ số 7, 2009, Tr: 1-6.
20. Đào Thanh Lan, Nhận diện hành động ngôn từ gián tiếp trên tư liệu hỏi – cầu
khiến tiếng Việt; Tạp chí Ngôn ngữ, số 11, 2007, Tr 10-19.
21. Đào Thanh Lan, Nhận diện hành động nài/ nài nỉ trong tiếng Việt; Tạp chí Ngôn
ngữ, số 11, 2009, Tr: 37-42.
22. Hồ Lê, Cú pháp tiếng Việt quyển 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992.
23. Nguyễn Thị Lương, Cầu khiến tường minh và cầu khiến nguyên cấp, Tạp chí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status