BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Vũ Thị Kỳ Hương
HÀNH ĐỘNG BÁC BỎ
TRONG TIẾNG VIỆT Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 66 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. DƯ NGỌC NGÂN
trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, các nghiên cứu còn mang tính chất riêng lẻ, chỉ
xuất hiện rải rác trong những công trình nghiên cứu về ngữ pháp học, ngữ dụng học. Trên cơ sở sự
quan tâm sẵn có đối với đề tài, thực trạng nghiên cứu hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu
toàn diện về vấn đề này, chúng tôi đã chọn hành động bác bỏ tiếng Việt làm đề tài cho luận vă
n cao
học.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là những hành động bác bỏ được sử dụng trong
môi trường giao tiếp bằng ngôn ngữ, trong hội thoại giữa người và người. Để củng cố thêm những
nhận định và tính xác thực, chúng tôi sử dụng hệ thống dữ liệu trong các văn bản hội thoại hiện đại,
các tác phẩm truyện ngắ
n, truyện dài của một số tác giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, môi trường
giao tiếp không chỉ đơn thuần liên quan tới yếu tố ngôn ngữ, mà còn có thể xuất hiện một số yếu tố
phi ngôn ngữ khác như điệu bộ, cử chỉ, hành động nên những hành động thể hiện nhận định hoặc
hành động bác bỏ phi lời cũng là đối tượng nghiên cứu bổ sung của chúng tôi.
Do giới hạn của đề tài, chúng tôi không đi sâu vào việc đi tìm đặc trưng văn hóa trong hành
động bác bỏ, hay đối chiếu hành động bác bỏ giữa các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau mà chỉ tập
trung chủ yếu vào việc nghiên cứu, tìm hiểu những phương thức, phương tiện bác bỏ đặc trưng
được sử dụng phổ biến trong tiếng Việt. Ngoài ra, chúng tôi cũng cố gắng đi tìm một quan niệm
thố
ng nhất về hành động bác bỏ vốn đang ít nhiều gây tranh cãi trong giới ngôn ngữ học ngày nay.
3. Lịch sử vấn đề
Trước khi đi vào tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề hành động bác bỏ, chúng tôi không thể
không đề cập đến lịch sử nghiên cứu hành động ngôn ngữ - tiền đề lý thuyết quan trọng nhất của đối
tượng nghiên cứu.
Lý thuyết hành động ngôn từ, hay còn gọi là lý thuyết hành độ
ng lời nói được đánh cột mốc
ra đời kể từ công trình nghiên cứu “Những cơ sở lý thuyết của ký hiệu” (1938) của nhà ký hiệu học
Mỹ Charles W. Morris. Lần đầu tiên ông đã xem xét ký hiệu trên ba bình diện: Kết học, Nghĩa học
rằng câu phủ định toàn bộ là câu mà vị ngữ bị phủ định, câu phủ định bộ phận là câu mà những bộ
phận khác bị phủ định.
Tại Việt Nam, trước đó trong ngôn ngữ học truyền thống, câu biểu thị hành động bác bỏ
được xem như một dạng câu song song bên cạnh những dạng như miêu tả, khẳng đị
nh, trần thuật…,
đôi khi nó được đồng nhất với câu phủ định. Lúc bấy giờ, câu chỉ được đánh giá là đúng hay sai về
mặt ngữ nghĩa theo tiêu chuẩn logic, và được phân tích chủ yếu dựa trên cơ sở cấu trúc hoặc những
khái niệm về chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ v.v… Những trợ từ, tiểu từ bị xem nhẹ và được coi
là những từ
hư. Vì thế, những dạng câu như:
- Con ở nhà.
- Con ở nhà chứ bộ.
- Con ở nhà mà.
đều được coi là đồng nhất về cấu trúc và ngữ nghĩa. Do đó, các công trình nghiên cứu về hành động
bác bỏ theo quan điểm này hầu không có nhiều ý nghĩa, vì phần đông các câu có hành động bác bỏ,
hoặc bị đồng nhất vào những kiểu cấu trúc nhất định, hoặc không được nghiên cứu đế
n. Sau này,
khi đối tượng nghiên cứu được tiếp cận dưới những nền tảng lý thuyết mới của logic học, ngữ dụng
học, hành động bác bỏ dần được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu.
Hầu hết các công trình ngữ pháp, ngữ nghĩa trong giới Việt ngữ học đều đề cập ít nhiều đến
một đối tượng rất gần gũi và có khi thống nhất với hành động bác b
ỏ là câu phủ định. Từ Trần
Trọng Kim, Lê Văn Lý, Hoàng Tuệ, Nguyễn Đức Dân, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê… tới
Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thị Hai… đều đề cập đến đối tượng nghiên cứu
này.
Công trình nghiên cứu có ý nghĩa lý thuyết quan trọng phải kể đến là bài viết “Phủ định và
bác bỏ” của Nguyễn Đức Dân đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 1-1983 và sau này được
đề cập hoàn
chỉnh hơn trong công trình Logic- Ngữ nghĩa- Cú pháp. Tác giả là người đầu tiên có xu hướng xác
định ranh giới giữa phủ định và bác bỏ, phần nào phá bỏ thế nhập nhằng trước đây về hai loại hành
hành thao tác phân tích từng cơ sở dữ liệu về các mặt như mục đích phát ngôn, hành động
ngôn từ, hình thức biểu hiện, ngữ cảnh v.v… nhằm đem lại những nhận định có tính xác thực
và khái quát nhất của từng vấn đề. Đây cũng là cơ
sở giúp chúng tôi tiến hành xây dựng các
biểu thức bác bỏ thông qua hệ thống dữ liệu thu thập được.
- Phương pháp miêu tả. Vì đối tượng nghiên cứu là dạng hành động ngôn từ phổ biến và tồn
tại trong giao tiếp, do đó trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi phải tiến hành mô tả các dạng
hành động bác bỏ từ hiện tượng tới bản chất, những nội dung rút ra từ miêu tả sẽ là cơ sở để
chúng tôi xây dựng các tiêu chí phân loại cũng đồng thời giúp chúng tôi giải thích, minh họa
cho các nhận định của mình.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu. Chúng tôi tiến hành so sánh - đối chiếu trên cơ sở dữ liệu
và giữa các quan điểm nghiên cứu. Đối với dữ liệu, chúng tôi tiến hành đối chiếu từng dữ
liệu với nhau, hoặc giữa nhóm dữ liệu này với nhóm dữ liệu khác, từ đó tìm ra những điểm
khác biệt hoặc tương đồng về hình thức hoặc nội dung, trên cơ sở
đó có thể rút ra các nhận
định cần thiết. Việc đối chiếu bổ sung với một số hành động bác bỏ của các nền văn hóa khác
cũng là một cách thức để chúng tôi đi tìm bản sắc riêng trong hành động bác bỏ của tiếng
Việt.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a) Ý nghĩa khoa học
- Vận dụng những thành tựu về lý thuyết ngữ dụng họ
c nói chung và lý thuyết hành động ngôn
từ, lý thuyết hội thoại, lý thuyết lập luận nói riêng vào việc khảo sát một hành động ngôn từ
cụ thể là hành động bác bỏ trong tiếng Việt.
- Xác định rõ khái niệm bác bỏ, phân biệt với các hành động ngôn từ khác trong giao tiếp.
- Kết quả của luận văn có thể góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý thuyết như phương thức
bác bỏ
, mối quan hệ giữa hành động bác bỏ với vấn đề lập luận, vấn đề lịch sự.
Hoạt động giao tiếp là hoạt động có tính chất liên nhân diễn ra hai chiều: liên hệ xuôi từ
người phát tới người nhận, và liên hệ ngược từ người nhận đến người phát. Nếu chỉ có một nửa quá
trình thì sẽ không tạo thành hoạt động giao tiếp. Ngôn ngữ phục vụ cho việc giao tiếp như một cách
thức chuyển tải thông điệ
p và tạo hành động, do đó nó luôn chịu ảnh hưởng của người khác ngoài
chủ thể giao tiếp, đồng thời cũng mang tính quy ước xã hội sâu sắc.
Mối liên hệ giữa hành động ngôn từ và hành động của con người mang tính hiển nhiên,
không thể bỏ qua và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liên quan, đặc biệt trong
ngữ dụng học, vấn đề này là một đối tượng nghiên cứu quan trọng.
Người ta cho rằ
ng người đặt tiền đề, đi tiên phong cho lý thuyết này là nhà triết học người
Áo L.Wittgenstein với quan niệm đồng nhất hoạt động giao tiếp với hoạt động xã hội và coi việc sử
dụng ngôn từ như một loại hành động. Nếu L.Wittgenstein là người đặt tiền đề thì chính J. Austin
và J. Searle là người đã đặt nền móng vững chắc cho đối tượng nghiên cứu này. Các ông tin rằng
ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hay miêu tả
cái gì đó mà nó thường được dùng để
“làm cái gì đó”, để thực hiện hành động. Với công trình nghiên cứu “How to do thing with words”,
J. Austin đã bày tỏ quan điểm “To say is to do something”, (nói là làm). Ông cho rằng để thực hiện
một hành động ngôn từ thì việc nói ra điều đó phải đi với việc làm một điều gì đó, tức phải tác động
một điều gì đó vào thực tế. Từ lu
ận điểm trên, lý thuyết về hành động ngôn từ đã dần được xây
dựng. Khi chúng ta nói một câu, nghĩa là chúng ta thực hiện một hành động nào đó, chẳng hạn như
cầu khiến, van xin, bác bỏ, chúc mừng, tuyên bố… Chúng được xem là những hành động ngôn từ
và được thực hiện bằng ngôn từ.
Ví dụ 1
- Con chào mẹ ạ.
- Tôi tuyên bố khai mạc hội nghị.
- Tôi chúc anh sớm khỏi b
ệnh.
điều được nói. Dựa trên quan điểm và khắc phục những hạn chế trong lý thuyết của J. Austin, ông
đưa ra khái niệm hành động ngôn từ gián tiếp. Ông cho rằng: “Một hành động ngôn từ gián tiếp là
hành động ngôn từ được thực hiện bằng hình thức của một hành động ngôn từ khác”. Nói cách
khác, một hành động tại lời được thực hiện gián tiếp phải thông qua một hành động tại lời khác với
hai đặc điểm như sau.
- Một hành động ngôn từ gián tiếp được thực hiện thông qua những hành động tại lời khác
nhau.
- Cùng một hành động tại lời có thể tạo ra những hành động gián tiếp khác nhau.
Ví dụ 3
- Bố tôi sắp về rồi. Anh làm ơ
n đi ngay được không?
Ở ví dụ trên, hành động tại lời là hỏi, nhưng mục đích chính là để đề nghị, yêu cầu: Anh hãy
đi ngay đi.
J. R. Searle đưa ra 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn từ, trong đó có 3 tiêu chí quan
trọng nhất như sau.
- Mục đích của hành động tại lời.
- Hướng thích nghi giữa lời lẽ và hiện thực.
- Trạng thái tâm lý được biểu hiện.
Dựa theo đó, ông đã phân chia hành
động ngôn từ ra làm 5 loại.
a) Khẳng định
- Mục đích của hành động tại lời: người nói phải chịu trách nhiệm về những giá trị chân lý của
mệnh đề được biểu đạt.
- Hướng thích nghi: từ hiện thực tới lời lẽ.
- Trạng thái tâm lý: tin tưởng vào tính đúng đắn, giá trị chân lý của điều được nói ra.
b) Cầu khi
ến
- Mục đích của hành động tại lời: nhằm để người tiếp nhận làm một việc gì đó.
- Hướng thích nghi: lời lẽ có trước, hiện thực thay đổi theo lời lẽ, do người tiếp nhận thực
Việc sử dụng lời nói trong hoạt động ngôn từ sẽ phải chịu những sự chi phối nhất định mà
L.Wittgenstein gọi là “trò chơi ngôn ngữ”, và J. Austin đưa ra quan điểm “nói là làm”, tức sử dụng
âm thanh để bộc lộ ra một nội dung hành động nào đó. Để
đạt được hiệu quả trong giao tiếp, người
nói cần quan tâm đến các điều kiện sử dụng của các hành động ngôn từ, bởi để hành động được thực
hiện thì mỗi hành động ngôn từ phải có những điều kiện nhất định. Muốn cho người nghe thực hiện
một hành động nào đó theo đúng như mong muốn, suy nghĩ của mình thì người nói phải lựa chọn
cách nói làm sao để
người nghe không chỉ hiểu mình nói ở bề mặt ngôn từ mà còn tri nhận được
đích ngôn trung.
Đối với hành động ngôn từ tạo lời, các điều kiện sử dụng của nó liên quan đến ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp của một ngôn ngữ cấu tạo nên lời nói và có thể hiểu được đối với người nghe.
Người nói, khi phát ngôn, buộc phải tôn trọng tính hình thức và các quy tắc kết hợp của một ngôn
ngữ cụ thể. Đồng thời, cả hai bên đều phải có khả năng tiếp nhận và tạo thông tin, không bị những
hạn chế sinh lý như câm hay điếc hay không hiểu các mã ngôn ngữ mà cộng đồng tại nơi đó quy
định. Chẳng hạn, nếu ta đi ra nước ngoài và muốn trao đổi thông tin nào đó với người nướ
c ngoài
(mua bán hay trao đổi hàng hóa v.v…), ta buộc phải hiểu rõ và sử dụng được những chất liệu ngôn
ngữ và các cách thức kết hợp đặc trưng chúng lại với nhau, khi đó hành động tạo lời mới có kết quả.
Đối với hành động tại lời, các hành động tại lời bị chi phối bởi các quy tắc hình thành tự
nhiên theo cộng đồng vì vậy mà mỗi loại hành động tại lời có những điề
u kiện sử dụng riêng mà
Austin gọi là những điều kiện thuận lợi. Về vấn đề này, Searle chia ra làm ba loại chính như sau.
- Điều kiện ban đầu: liên quan đến quan hệ của hai người, người nói và người nghe, tới những
ý nguyện, lợi ích và khả năng của người nghe.
- Điều kiện chân thành: còn gọi là điều kiện hiện thực. Tập trung chủ yếu nói đến trạng thái
tâm lý của hành động mà người nói thực hiện. Yếu tố chân thành ở đây liên quan tới trạng
thái tâm lý đặc trưng, khác với điều kiện chân thực về mặt logic tức tính đúng sai của mệnh
đề được nói ra. Thông báo một điều gì đó cho người khác là phải tâm niệm rằng thông tin đó
c thực
hiện.
Dễ dàng nhận thấy hành động ngôn từ trong hoạt động giao tiếp nói chung, và đặc biệt hay
được nhắc tới trong các tác phẩm văn chương, thường bao hàm hai tầng ý nghĩa. Ý nghĩa thứ nhất là
“ý tại ngôn trung” tức ý ở trong lời, là ý tường minh của phát ngôn, được nói ra trực tiếp nhờ các
yếu tố ngôn ngữ như từ vựng, ngữ âm, câu, văn bản… Ý nghĩa thứ hai là “ý tại ngôn ngoạ
i” tức ý ở
ngoài lời, là những tầng ý nghĩa mà người nghe phải dùng đến các thao tác suy ý và phải dựa vào
những yếu tố khác ngoài ngôn ngữ, vào văn cảnh, vào các quy tắc điều khiển hành động ngôn từ,
điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại… mới nắm bắt được.
Ngoài ra, lý thuyết hành động ngôn từ của Searle còn đề cập đến các điều kiện khác như:
điều kiện xuất phát và tới đích, điều kiện nội dung mệnh đề… Những điều kiện này có tác động
không nhỏ vào hiệu quả giao tiếp trong hội thoại.
1.2. LÝ THUYẾT HỘI THOẠI
1.2.1. Khái niệm lý thuyết hội thoại
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, là một trong những yếu
tố cơ bản dùng để phân tách con người ra khỏi những lo
ại động vật khác trong tự nhiên. Giao tiếp
ngôn ngữ có hai dạng: giao tiếp một chiều, hay còn gọi là độc thoại; giao tiếp hai chiều: có bên nói
bên nghe và có sự phản hồi ngược trở lại lẫn nhau, đó là hội thoại. Hội thoại là hoạt động giao tiếp
phổ biến nhất, căn bản nhất của con người.
Vấn đề hội thoại được ngữ dụng học đặc biệt quan tâm. Hộ
i thoại bao gồm ba loại chính.
- Song thoại (dialogue)
- Tam thoại (trilogue)
- Đa thoại (polylogue)
Lý thuyết về hội thoại được các nhà ngôn ngữ học, ngữ dụng học nghiên cứu chủ yếu tập
trung vào loại song thoại, vì loại hội thoại này có tính chất bao quát và mang hầu hết những đặc
trưng cơ bản của các loại hội thoại còn lại. Song thoại, đa thoại dù xảy ra ở quy mô như thế nào đi
Chúng tôi nhận thấy quan hệ cá nhân không quyết định việc xảy ra hay
không xảy ra một hoạt động hội thoại, mà nó chỉ ảnh hưởng tới cấu trúc bên trong của cuộc
hội thoại: nội dung, không khí hội thoại v.v…
- Về chu cảnh của những cuộc hội thoại. Có hai phương diện chính là thời gian và không gian.
Về thời gian, những người tham dự có cùng một thời lượng. Thời lượng đó có thể
không xác
định, cũng có thể được quy định nghiêm ngặt tùy vào từng ngữ cảnh. Ví dụ, một cuộc họp
bình bầu trong công ty có thể kéo dài cả ngày, hoặc một buổi tùy theo sự đơn giản hay phức
tạp của những nội dung đang bàn xét, nhưng một buổi làm thủ tục hành chính có thể quy
định thời lượng được phép đối với mỗi cuộc hội thoại giữa nhân viên nhà nước và mỗi một
công dân.
-
Về không gian. Có những không gian khác nhau cho mỗi cuộc hội thoại, tuy nhiên, hầu như
không có hàng rào về không gian. Cuộc hội thoại có thể diễn ra trực diện khi hai người đối
diện nói chuyện trực tiếp với nhau, cũng có thể diễn ra ở một khoảng cách rất xa mà nhờ tiến
bộ khoa học kỹ thuật, người ta có thể thực hiện được như giữa người và người cách xa nhau
nửa vòng trái đấ
t, giữa người ở mặt đất và người ngoài không gian vũ trụ…
1.2.3 Cấu trúc hội thoại
(1) Lượt lời
Lượt lời được đa số các nhà nghiên cứu coi như một đơn vị của hội thoại. Đó là một lần nói
xong của một người trong khi những người khác sẽ không nói, để rồi đến lượt một người tiếp theo
nói. Nếu có nhiều người khác nhau nói cùng một lúc, sẽ không x
ảy ra lượt lời, ngoại trừ những hành
vi xưng tụng, thề nguyền trong các lễ nghi tôn giáo.
Ví dụ 5
- Tôi nói đồng bào nghe rõ không?
- Rõ.
(Trích Tuyên ngôn độc lập)
Người vợ nói với chồng:
- Anh ạ.
Điều đó có nghĩa là người vợ đang có câu chuyện gì đó muốn nói với người chồng. Tuy
nhiên, lời mở thoại này có thực sự thành công hay không, tức có hoàn thành được vai trò mở thoại
của mình hay không lại còn phụ thuộc vào mức độ sẵn lòng của người tiếp nhận lời mở thoại.
Đối với lời mở thoại trên, ba người chồng khác nhau có thể có ba cách phản ứng khác nhau
như sau:
Người thứ nhất:
- Có chuyện gì vậy em? -> Lời mở thoại được xem là thành công, vì người chồng đã chấ
p nhận
lời mở thoại và đang giữ cho cuộc thoại tiếp diễn.
Người thứ hai:
- Anh đang bận bù đầu đây.-> Lời mở thoại được xem là thất bại, vì người chồng có thái độ
bất hợp tác và đã có hành động kết thúc cuộc thoại.
Người thứ ba:
- Anh đang bận nhưng có chuyện gì quan trọng không hả em? -> Người chồng này có thái độ
lấ
p lửng, nửa muốn tiếp tục cuộc thoại, nửa lại muốn kết thúc cuộc thoại. Thái độ nước đôi
này cho thấy cuộc thoại có tiếp diễn hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào người mở thoại,
hay cụ thể hơn, là tầm quan trọng của nội dung vấn để sẽ được người mở lời nói tiếp sau đó
trong cuộc thoại.
Mở thoại - thân thoại - kết thoại được coi là một cấu trúc hoàn chỉnh, đầy đủ nhất của một
cuộc thoại. Tuy nhiên, trong thự
c tế, các cuộc thoại không phải khi nào cũng diễn ra một cách trình
tự và bài bản như vậy. Tùy vào mục đích giao tiếp và nội dung chuyển tải, cuộc thoại có thể đi đến
hoàn thiện một quy trình cũng có thể ngắt quãng tại một thời điểm nào đó của cuộc thoại.
(3) Cặp thoại
Khái niệm cặp thoại được hình thành từ chính bản chất của các lời thoại trong h
ội thoại. Các
trong các quá trình giao tiếp. Tuy nhiên, vai trò của nó có phần ít được chú ý hơn so với các hoạt
động ngôn từ được phân chia theo mục đích nói khác như nghi vấn, cầu khiến, trần thuật, cảm thán.
Trên cơ sở những công trình nghiên cứu trước đây, chúng tôi cố gắng hệ thống một số vấn đề lý
thuyết về hành động bác b
ỏ, làm căn cứ cơ sở cho các bước nghiên cứu cụ thể hơn của chúng tôi ở
các phần sau.
1.3.1. Khái niệm
Bác bỏ là một phương thức lập luận đã được chú ý ngay từ thời của Aristote. Nó gắn liền
với nghệ thuật hùng biện. Bác bỏ có mối quan hệ hữu cơ với lập luận và sự bảo vệ quan điểm của
cái tôi. Đó là một hành động ph
ức tạp, phức hợp và có sự liên quan với nhiều hành động khác như
cầu khiến, nghi vấn, giải thích, cấm đoán, cảm thán… Chính sự phức tạp nội tại của hành động này,
mà người ta khó có thể sắp xếp bác bỏ vào làm một trong số những kiểu câu tiêu biểu theo đích
ngôn trung.
Bác bỏ là một vấn đề được nhiều bộ môn khoa học xã hội quan tâm và cũng là đối tượng
nghiên cứu quan trọng c
ủa một số ngành khoa học như Logic học, Ngữ dụng học. Logic học rất
quan tâm đến phủ định và bác bỏ và mối quan hệ của chúng với vấn đề lập luận.
Tuy nhiên, bác bỏ chỉ trở thành đối tượng chính thống của ngôn ngữ học kể từ khi có sự ra
đời của ngành Ngữ dụng học và bộ môn Phân tích diễn ngôn.
Bác bỏ về mặt giao tiếp, là một loại hành động có nguy c
ơ đe dọa thể diện của người nói
khá cao, vì bác bỏ, dưới góc độ nhẹ nhàng nhất, cũng là cách thức phủ định một vấn đề nào đó mà
người nói đồng tình, đặt ra nhưng người nhận không chấp thuận. Dưới áp lực này, khi thực hiện
hành động bác bỏ, người ta có nhiều hình thức bác bỏ khác nhau nhằm phù hợp với mục đích giao
tiếp, ngữ cảnh giao tiếp và đảm bả
o khả năng bảo toàn thể diện cho cả đôi bên.
Khái niệm bác bỏ hiện nay cũng được sử dụng không nhất quán. Lý do là tùy theo đối tượng
khảo sát, mục đích khảo sát mà thuật ngữ này được các nhà logic học, logic học ngôn ngữ và ngữ
dụng học nhìn nhận rất khác nhau.
- Thăm ai?
- Ngay chị cu Sứt ạ.
- Tốt. Thế mày không xui chị ta biện cái gì để đi trình làng à?
- Không ạ.
(21-tr.419)
Đoạn hội thoại chỉ đơn thuần là việc người mẹ đưa ra đề nghị mang tính lựa chọn và không
hề khẳng định bất cứ một điều gì, đưa ra một nhận định chủ quan nào. Do đó, lời thoại trả lời của
đứa con chỉ đơn thuần mang ý nghĩa phủ định nội hàm, tức thông báo, miêu tả một tình huống ch
ứ
không hề có sự bác bỏ ý kiến của người mẹ trước đó.
Chúng tôi nhận thấy bên cạnh một số trường hợp nhập nhằng, thì yếu tố quan trọng nhất
phân biệt hành động bác bỏ và hành động từ chối là ở chỗ hành động bác bỏ chỉ xảy ra khi câu trước
hành động đó có ẩn chứa một ý kiến, một suy nghĩ, một quan điểm nào đó, có thể
hiện thực trên bề
mặt câu chữ, có thể tiềm tàng trong các nội dung hàm ý, còn hành động từ chối xuất hiện trong
những lời thoại có tính lựa chọn. Trong những lời thoại ấy, chúng ta gần như không thể tìm ra được
bất cứ một sự khẳng định, một quan niệm hay một ý kiến cá nhân nào.
Tuy nhiên, cũng có những trường hợp rất nhập nhằng không thể phân tách trên bề mặt câu
chữ, mà phả
i dựa vào văn cảnh hoặc chỉ có những người trong cuộc đối thoại biết được.
Ví dụ 9
Tôi vừa nhai đậu phộng vừa trầm trồ:
- Nhà mày đẹp quá há?
- Ừ.
- Ba mẹ mày hiền quá hả?
- Ừ.
- Mày là con một hở?
- Không. Tao còn một đứa em gái. Nó học lớp mười một.
Đông Anh hí hửng khoe:
những nhầm lẫn và đôi khi nghiên cứu nhầm đối tượng.
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy cơ sở để có thể phân tách hai loại hành động này một
phần nằm sẵn ngay trong tên gọi loại hành động. Khi nói đến phủ định, người ta thường hiểu sự phủ
định đó mang tính nội tại, tức bản thân bên trong câu nói, thuộc phạm vi câu nói và quan điểm của
người phát ra câu nói, không có mối quan h
ệ liên nhân với ý kiến của người khác. Những câu dạng
này thường được gọi rõ ràng hơn dưới dạng câu phủ định miêu tả. Khi nói đến bác bỏ, người ta
thường hiểu đó là sự phủ định mang tính hướng ngoại, tức có liên hệ hữu cơ với một nhận định nào
đó bên ngoài câu nói, do một người đối thoại khác đem tới. Vì một cá nhân không thể tự mâu thuẫn
với chính mình, không thể bác bỏ
chính những nhận định của mình (trừ một số ngữ cảnh rất đặc
biệt) do đó, hiện tượng bác bỏ hiếm khi xảy ra trong phạm vi của một cá nhân, trong một văn cảnh
không có tính hội thoại.
Chúng tôi nhận thấy giữa hai loại đối tượng này có những tiêu chí phân biệt nhau như
sau. Bảng 1.1 1
Chúng tôi thống nhất hiểu phủ định theo nghĩa hẹp, tức phủ định trong bản thân câu nói, hay được các nhà nghiên cứu hiểu dưới
dạng phủ định miêu tả.
2
Bác bỏ cũng là một hành động phủ định, nhưng là hành động phủ định theo nghĩa rộng, còn gọi là phủ định bác bỏ.
Hành động phủ định
(tức phủ định miêu tả)
Hành động bác bỏ
(tức phủ định bác bỏ)
Hình thức
- Sử dụng những từ ngữ phủ
Hành động bác bỏ chỉ nảy
sinh trong môi trường có sự
đối thoại, có thể là song thoại,
tam tho
ại hoặc đa thoại.
Ví dụ 13
-Ngươi đứng lên, ta sẽ giết ngươi
bằng cây kiếm này, vì ngươi đã
giết con trai ta.
Người thương gia run lẩy bẩy
đáp:
- Làm sao tôi lại giết con ông
được? Tôi không biết anh ấy kia
mà.
(12-tr.26)
- Không thể thực hiện hành
động phủ định bằng cách im
lặng hoặc ngập ngừng.
- Có thể dùng sự im lặng, hoặc
ngập ngừng để thể hiện hành
động bác bỏ.
Ví dụ 14
- Bây giờ tôi nuôi thằng bé này,
cũng như thằng bếp trước, vì nó
là người làng nhà tôi đây. Nó
ngoan lắm.
- Tại tôi không muốn để ông đi,
mà ông cũng không đi được, vì
tôi biết ông rồi. Không ai tin ông
nữa đâu. Bởi vì ông là người thụt
két, ông có biết không?
- Tôi? Thụt két? Thưa cụ?
21-tr.382)
- Ngoài thuộc tính nghĩa biểu
hiện của bản thân câu nói vừa
tiếp nhận, có thể phủ định tiền
giả định của câu đó.
thuộc tính nội tại bên trong
câu nói.
Ví dụ 17
Vì muốn có tiền để thỏa mãn đời
sống vật chất với chồng, nên cô
không từ chối người Mỹ.
(21-tr.478)
- Tại bất kỳ thời điểm nào của
quá trình tư duy về sự vật và
mối quan hệ giữa chúng. Câu
phủ định có thể đứng một
mình hoặc trong bất kỳ vị trí
nào của đoạn mà không gây ra
sự bất thường về
cách diễn đạt.
đó, câu bác bỏ sẽ trở
nên “bất bình thường” trong
cách diễn đạt.
Ví dụ 20
- Ông có ăn, tôi không nói sai.
Nghĩa vẫn cãi:
- Tôi không ăn gì cả.
(21-tr.20
Những cách thức phân biệt trên chỉ mới dựa vào mặt nội dung và hình thức về mặt ngôn
từ, còn một số yếu tố khác không thể nắm bắt về mặt câu chữ, mà thuộc về ngữ cảnh giao tiếp và
hành vi của những người tham gia thực hiện hành động.
Ví dụ 21
A: Món ăn này ngon không?
B: Món này không ngon.
Đặt trong bối cảnh A chỉ đơn thuần hỏi ý kiến B về món ăn, thì sự trả l
ời của B là một
hành động phủ định, tức tự loại trừ một thuộc tính “ngon” của món ăn, và không bác bỏ nhận định
nào cả (vì A không đưa ra nhận định, mà hỏi nhận định của B). Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh A hỏi
B trong tư thế đang ăn rất ngon lành, thích thú, thì mặc nhiên B sẽ hiểu là A đang nghĩ món ăn này
rất ngon, thì câu trả lời của B chính là một hành động bác bỏ: bác b
ỏ ý kiến của A về thuộc tính
“ngon”.
Do đó, sự phân tách hành động của B là bác bỏ hay phủ định không thể dựa vào bản thân
ý nghĩa của hành động ngôn từ, mà phụ thuộc vào cách thức tri nhận hành động và thái độ của
người tiếp nhận. Do đó, để hiểu đúng đích ngôn trung, đòi hỏi người tham gia đối thoại phải có kinh
nghiệm hiểu ý nghĩa của hành vi, ngữ cảnh cũng như kinh nghi
ệm xử lý những hành vi, hoặc bối
cảnh mà mình đang thực hiện hoạt động giao tiếp.