HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN TRONG
TIẾNG VIỆT
BÙI THỊ KIM TUYẾN
Trang 1
MỤC LỤC
] U ^
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu ...............................................2
2. Lòch sử nghiên cứu vấn đề .........................................................................3
3. Nội dung nghiên cứu.............................................................................. 10
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu ............................................10
5. Cấu trúc của luận văn ..............................................................................11
Chương Một
: TỔNG QUAN VỀ HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ VÀ HÀNH
ĐỘNG CẦU KHIẾN
1. Hành động ngôn từ...................................................................................12
1.1 Khái niệm về hành động ngôn từ........................................................ 12
1.2 Các hành động ngôn từ....................................................................... 13
1.3 Điều kiện sử dụng hành động ngôn từ................................................ 16
1.4 Nghóa tường minh, nghóa hàm ẩn....................................................... 20
1.5 Phương thức thể hiện hiệu lực tại lời.................................................. 22
2 Hành động cầu khiến
2.1. Khái niệm cầu khiến........................................................................... 31
2.2. Các loại hành động cầu khiến chủ yếu............................................... 34
2.3. Cầu khiến lòch sự................................................................................ 37
Chương Hai
: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN
là câu hay một hình thức ngôn ngữ nào đó mà là một phát ngôn nhằm thực hiện
một hành động nhất đònh. Cầu khiến là một trong những hành động ngôn từ
được người nói thực hiện để yêu cầu điều khiển người nghe hành động theo chủ
ý của mình. Đây là một vấn đề thuộc về dụng pháp nên nó thể hiện đặc trưng
văn hoá của từng đòa phương, có mối liên hệ mật thiết với tính lòch sự trong
giao tiếp. Tùy theo hoàn cảnh phát ngôn, đối tượng tiếp nhận mà người nói thực
hiện những phương thức khác nhau: trực tiếp hay gián tiếp. Do vậy, chúng tôi
nhận thấy hành động cầu khiến trong tiếng Việt là một vấn đề lý thú và bổ ích.
Để tiện cho việc miêu tả, phân loại, chúng tôi tiếp thu quan điểm của
những người đi trước. Cụ thể là, chúng tôi dựa theo quan điểm của ngữ pháp
học truyền thống về việc phân loại câu theo mục đích phát ngôn. Đó là việc
xác đònh được mục đích giao tiếp của từng kiểu câu và những dấu hiệu hình
Hành động cầu khiến trong tiếng Việt
Trang 3
thức điển hình tương ứng để khảo sát đặc điểm ngữ nghóa ngữ dụng (các hành
động tại lời) của các phát ngôn. Từ đó, chúng tôi xác đònh phương thức thể hiện
phù hợp với hành động cầu khiến trong tiếng Việt. Hướng đi của chúng tôi là
tập hợp các phát ngôn có hiệu lực tại lời cầu khiến xuất hiện chủ yếu trong
phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách văn chương nghệ thuật, phong
cách chính luận để khảo sát, khái quát hoá đặc trưng về hình thức cấu tạo và
nội dung ý nghóa của từng phương thức.
Về mặt lý luận, luận văn hy vọng góp phần làm rõ thêm về khái niệm
hành động cầu khiến, phân loại các hành động cầu khiến, miêu tả một số tình
thái cầu khiến lòch sự, những vấn đề mà xưa nay đã đề cập đến nhưng chưa
được quan tâm đúng mức và chưa được lý giải đầy đủ.
Về mặt thực tiễn, việc miêu tả các phương thức thể hiện hành động cầu
khiến trong tiếng Việt có thể đóng góp thêm cho việc miêu tả, phân tích và lý
giải cụ thể, thiết thực cho vấn đề dạy và học tiếng Việt.
2.Lòch sử nghiên cứu vấn đề
Trong ngữ pháp truyền thống ở châu Âu, vấn đề nghóa cầu khiến hay
câu theo mục đích”, “Phân loại câu theo mục đích nói”,…hay cũng có tác giả
không sử dụng những thuật ngữ này như Lê Văn Lý (1977), Bùi Đức Tònh
(1995)…nhưng quan điểm của hai ông thì phù hợp với khuynh hướng vừa nêu
trên.
Trước hết là quan điểm của Trần Trọng Kim (1940) trong Việt Nam văn
phạm. Qua khảo sát, tác giả nhận thấy có bốn loại câu: câu xác đònh, câu phủ
đònh, câu nghi vấn, câu hoài nghi. Nhưng sự tách bạch hai loại câu nghi vấn với
câu hoài nghi có phần chưa thoả đáng (có thể coi câu hoài nghi thể hiện ý nghóa
tình thái của câu nghi vấn - hỏi nhưng dường như đã biết ít/ nhiều chỉ “hoài
nghi” chứ chưa hẳn không biết hoàn toàn). Mặt khác trong đònh nghóa về câu
phủ đònh tác giả nêu: câu phủ đònh là câu có dùng tới phủ đònh trạng từ (trạng từ
là tiếng dùng phụ thêm nghóa cho một tiếng động từ; một tiếng tính từ, một
tiếng trạng từ khác hay cả một mệnh đề) như không, chưa, chẳng, chớ,…Các từ
này thường đặt trước động từ. Và tác giả đưa ra thí dụ minh hoạ:
Anh đừng đùa cợt.
Tác giả cho rằng đừng là phủ đònh trạng từ, đặt trước động từ, có tác dụng
nhận diện loại câu.
Nguyễn Kim Thản (1977) trong Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cũng chú
ý phân biệt loại câu nghi vấn chân chính với các loại câu nghi vấn khác như câu
nghi vấn tu từ học, câu nghi vấn khẳng đònh, câu nghi vấn phủ đònh, câu nghi vấn
cầu khiến. Đồng thời tác giả còn nhận diện động từ khi mang ý nghóa ngữ pháp
mệnh lệnh thì biểu thò ý chí, tức lời yêu cầu đề nghò hay mệnh lệnh của người
nói (người viết) đối với người nghe (người đọc), đòi hỏi người này phải thực
hiện quá trình do động từ biểu thò.
Hành động cầu khiến trong tiếng Việt
Trang 5
Lê Văn Lý (1968) trong Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam khảo sát câu tiếng
Việt và phân làm 13 loại câu: câu danh từ, câu động từ, câu khẳng đònh, câu
phủ đònh, câu nghi vấn, câu khuyến lònh, câu biểu cảm, câu tự loại, câu đơn
giản, câu đặt cạnh nhau, câu liên kết, câu phụ thuộc, câu phức tạp. Trong đó,
Trang 6
Tác giả Diệp Quang Ban (2002) trong Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Câu
phân loại theo mục đích nói đã phân thành câu tường thuật, câu nghi vấn, câu
mệnh lệnh, câu cảm thán. Quan niệm của tác giả về câu mệnh lệnh (còn gọi là
câu cầu khiến) là dùng để bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc người nghe thực hiện
điều được nêu lên trong câu và có những dấu hiệu hình thức nhất đònh. Tác giả
lưu ý khi khảo sát câu mệnh lệnh thì ta cần xét xem đó là câu mệnh lệnh đích
thực hay câu mệnh lệnh lâm thời.
Câu mệnh lệnh đích thực của tiếng Việt có cấu tạo nhờ những phụ từ tạo
ý mệnh lệnh, ngữ điệu mệnh lệnh hoặc đảm bảo điều kiện là chỉ chứa những từ
(phụ từ, vò từ) liên quan đến nội dung của lệnh.
Câu mệnh lệnh lâm thời là những câu không phải là câu mệnh lệnh đích
thực nhưng mang nội dung mệnh lệnh. Muốn xác đònh được nội dung này, ta
cần lưu ý đến những dấu hiệu hình thức như ngữ điệu, phụ từ (dùng đi kèm),
hoặc một tình huống nói năng.
Như vậy vấn đề về “phân loại câu theo mục đích phát ngôn” đã gặp một
số rắc rối giữa lý thuyết và thực tiễn bởi những lý do sau đây:
Theo lý thuyết về hành động ngôn từ của J. L. Austin (1962) có tới hàng
trăm mục đích phát ngôn; không phải trong trường hợp nào kiểu câu cũng phù
hợp với mục đích phát ngôn; và muốn xác đònh được nhiều mục đích phát ngôn
trong nhiều trường hợp đó thì phải dựa vào ngữ cảnh; cần thiên về việc tìm ra
các dấu hiệu hình thức để phân loại câu. Tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học
truyền thống như tác giả Diệp Quang Ban khi “phân loại câu theo mục đích
phát ngôn” cũng nhận thấy rằng chưa đặt câu vào đời sống hiện thực của nó đối
với những câu lân cận hay tình huống nói. Sự phân loại câu có liên quan đến
vấn đề dấu hiệu hình thức. Và theo tác giả, phân loại câu theo mục đích nói là
cách phân loại theo công dụng, ngữ pháp. Khi xem xét câu theo mục đích nói, ta
nhận diện được câu đó là câu đích thực, câu giả hay câu lâm thời. Cuối cùng
tác giả đưa ra kết luận: Quan điểm vấn đề về phân loại câu dựa theo công dụng
và ngữ pháp mới chỉ thể hiện là những nhận đònh mang tính chất khái quát,
Hồ Lê (1992) trong cuốn Cú pháp tiếng Việt quyển 2 cho rằng mỗi câu
phát ra đều phải theo bốn đònh hướng: trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán.
Người thụ ngôn phải cảm nhận cho được đònh hướng của từng câu để có phản
xạ thích hợp. Đối với câu cầu khiến, anh ta không những phải hiểu được nội
dung ấy mà còn phải nhận ra điểm cầu khiến trong câu (thường được diễn đạt
hiển ngôn nhưng cũng có khi ẩn mặc) và chuẩn bò hành động phản ứng. Các
sách ngữ pháp trước đây đều quan niệm bốn loại câu trên là kết quả của sự
phân loại câu theo mục đích nói năng. Ông cho rằng mục đích nói năng không
thể nào là một phạm trù rõ và được xác đònh bằng quan hệ ngữ nghóa – cú pháp
cả.
- Mục đích ngôn ngữ là ý đònh sâu kín của người phát ngôn, là phạm trù
thuần tuý chủ quan, nó cần đo lường bằng những phương tiện ngữ nghóa cú
pháp. Do đóù, cần phải trả bốn loại câu này về đúng vò trí của nó bởi nó ra đời
do sự đối lập của bốn kiểu đònh hướng phát ngôn, mà đònh hướng phát ngôn lại
là một biểu hiện tình thái bắt buộc, phải hiện diện trong mỗi câu.
Hành động cầu khiến trong tiếng Việt
Trang 8
- Tác giả căn cứ vào đặc điểm ngữ nghóa – cú pháp phân câu cầu khiến
ra làm bốn kiểu.
+ Câu mệnh lệnh
Xét về mặt ngữ nghóa, nó buộc người khác phải thực hiện điều nó nói ra.
Còn về mặt cú pháp, câu thường do động từ hoặc từ tổ động từ đảm nhiệm, chủ
ngữ trong câu thường bò tỉnh lược, câu rất ít sử dụng trợ từ mà nếu dùng thì trợ
từ thích hợp là “đi” đặt ở cuối câu, ngữ điệu thường được xướng cao và mạnh.
VD : Bên trái quay!.
+ Câu yêu cầu
Về ngữ nghóa, nó đòi hỏi làm hoặc không làm một điều gì đó. Về mặt cú
pháp, câu thường có kết cấu đề – thuyết, và thường sử dụng những từ tình thái
như: hãy, đừng, chớ, đi nào…
VD : Ông hãy đi khỏi đây.
đề phân loại câu theo mục đích phát ngôn” đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2
(2003) cho rằng trong cấu trúc của câu bao giờ cũng có phương tiện ngôn ngữ
giúp ta quy câu về một kiểu nhất đònh gắn với một mục đích phát ngôn (lực ngôn
trung) điển hình. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc của ngôn ngữ học. Tác
giả thay cho thuật ngữ “phân loại câu theo mục đích phát ngôn” của ngữ pháp
truyền thống “phân loại câu theo lực ngôn trung” của Cao Xuân Hạo là “phân
loại câu theo dấu hiệu hình thức gắn với mục đích phát ngôn điển hình”. Khi xác
đònh kiểu câu tác giả dựa trên ba nguyên tắc.
1. Không xét một câu nào đó vào hai kiểu câu khác nhau.
2. Mỗi một kiểu câu có một hình thức riêng mà kiểu câu khác không có
(hình thức riêng có thể biểu hiện chỉ qua một phương tiện ngôn ngữ mà cũng có
thể biểu hiện qua những phương tiện ngôn ngữ cùng một lúc)
3. Không coi ngữ điệu là phương tiện đánh dấu các kiểu câu.
Không dựa vào công dụng/ chức năng/ mục đích phát ngôn của toàn câu
để phân loại. Cũng từ những nguyên tắc này mà tác giả cho rằng câu cầu khiến
không nhất thiết phải được xác lập thành một kiểu câu riêng có được đích ngôn
trung là cầu khiến có thể diễn đạt bằng kiểu câu trần thuật hay nghi vấn (đây
chính là phương thức gián tiếp thể hiện hành động cầu khiến). Tuy nhiên có lẽ
do hành động yêu cầu, đề nghò, ra lệnh,… là hành động thường xuyên và quan
trọng đến mức không có ngôn ngữ nào trên thế giới thiếu kiểu câu này, vì vậy
tác giả đưa ra khái niệm về câu cầu khiến như sau:
Câu cầu khiến là câu có từ cầu khiến như hãy / đừng / chớ và chủ thể của
hãy / đừng / chớ bao giờ cũng ở ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ nhất số nhiều; có khả
năng thêm từ hãy / đừng / chớ vào những câu đã nêu trên
Hành động cầu khiến trong tiếng Việt
Trang 10
Như vậy là có sự khác biệt rạch ròi giữa câu cầu khiến và hành động cầu
khiến. Câu cầu khiến dựa vào dấu hiệu hình thức để xác đònh còn hành động cầu
khiến thì căn cứ vào lực ngôn trung.
Ngoài ra rải rác trên các tạp chí chuyên ngành có khá nhiều bài viết đề
Hành động cầu khiến trong tiếng Việt
Trang 11
! Phương pháp phân tích ngữ nghóa – ngữ dụng học: có kết hợp với phân
tích ngữ nghóa cú pháp của các biểu thức biểu hiện các loại hành động
cầu khiến chủ yếu trong tiếng Việt .
4.2. Nguồn ngữ liệu
Các ngữ liệu đã khảo sát và trình bày trong luận văn được thu thập chủ yếu
từ lời ăn tiếng nói hàng ngày mà người viết quan sát được và từ một số văn bản
viết, đặc biệt là các tác phẩm văn chương.
5. Cấu trúc của luận văn
Luận văn bao gồm 110 trang chính văn, một danh mục các tài liệu tham
khảo. Phần nội dung chính của luận văn được chia làm hai chương:
Chương Một có tiêu đề là Tổng quan về hành động ngôn từ và hành động
cầu khiến trong tiếng Việt. Trong chương này, luận văn trình bày hai vấn đề lớn
hành động ngôn từ và hành động cầu khiến trong tiếng Việt. Trong vấn đề thứ
nhất, luận văn trình bày về khái niệm hành động ngôn từø, các hành động ngôn
từ, điều kiện sử dụng hành động ngôn từ, nghóa tường minh nghóa hàm ẩn và
phương thức biểu hiện hành động ngôn từ. Trong vấn đề thứ hai, luận văn trình
bày về khái niệm cầu khiến, các loại hành động cầu khiến chủ yếu và cầu khiến
lòch sư.ï
Chương Hai có tiêu đề là Phương thức thể hiện hành động cầu khiến
trong tiếng Việt. Trong chương này, luận văn trình bày hai phương thức phương
thức thể hiện trực tiếp và phương thức thể hiện gián tiếp hành động cầu khiến
trong tiếng Việt. Phương thức thể hiện trực tiếp bao gồm phương thức tỉnh lược
chủ ngữ ở ngôi thứ hai, phương thức dùng tiểu từ tình thái, phương thức dùng vò
từ, phụ từ tình thái và phương thức dùng câu ngôn hành. Phương thức gián tiếp
thể hiện ở dạng khẳng đònh và dạng nghi vấn.
Hành động cầu khiến trong tiếng Việt
Trang 12
! Hành động tạo lời
: J.L.Austin đặt tên cho hành động này là “nói một
điều gì đó”. Đây là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp để tạo nên một câu nói
! Hành động tại lời
: Hành động tại lời là nói một điều gì đó và thực
hiện điều đó như thế nào. Và thực hiện hành động ấy phải ngay khi
phát ra câu nói.
Ví dụ
: – Lớp ồn quá! (Hành động tại lời là nhận xét lớp ồn)
– Không nói chuyện riêng. (Hành động tại lời là đề nghò học sinh không
nói chuyện riêng trong lớp)
Vì vậy hành động tại lời chính là lực ngôn trung, là đích phát ngôn. Nó
bò chi phối bởi các quy tắc hình thành tự nhiên theo cộng đồng với những điều
kiện sử dụng được thực hiện. Cốt lõi của hành động ngôn từ chính là hành động
tại lời.
! Hành động mượn lời
: Hành động mượn lời là hành động thông qua
việc phát ngôn câu nói, người nói tác động đến tư tưởng, tình cảm…
của người tiếp nhận. Với một hành động mượn lời, người nghe có thể
không nhận ra ngay mặc dù hiểu được hành động tại lời. Một hành
động tại lời có thể có nhiều hành động mượn lời khác nhau.
VD
: Một hành động tại lời là người nói không muốn tiếp chuyện với
người nghe và đưa ra một lời yêu cầu trực tiếp: Anh về cho em đi ngủ.
Hành động mượn lời có thể là một trong những trường hợp sau :
1. Mấy giờ rồi anh?
2. Ngày mai em phải đi dạy sớm .
3. Anh à ! Mẹ thường nhắc nhở em đi ngủ sớm có lợi cho sức khoẻ,…
J.R. Searle với lý thuyết về hành động ngôn từ: J. R. Searle đặc biệt quan
điều được nói ra.
(2) Cầu khiến
(Directive)-Mệnh lệnh
* Mục đích của hành động tại lời: nhằm để người tiếp nhận làm một việc
gì đó.
* Hướng thích nghi từ lời lẽ đến hiện thực: Lời lẽ có trước, hiện thực thay
đổi theo lời lẽ, do người tiếp nhận thực hiện
* Trạng thái tâm lý: Người nói mong muốn điều cầu khiến sẽ được thực
hiện
J.R. Searle phân loại hành động cầu khiến như sau:
Hành động cầu khiến trong tiếng Việt
Trang 15
Hành động cầu khiến bao gồm những hành động như cầu khiến, ra lệnh,
van nài, đề nghò, cảnh báo, cho phép, hỏi... Riêng với hành động cảnh báo thì
J.R. Searle khái quát một số ngôn ngữ qua biểu thức:
Khéo kẻo x: Khéo kẻo ngã; khéo kẻo vỡ …
Coi chừng x: Coi chừng mất xe; coi chừng móc túi; coi chừng thắng gấp
,…
Hay dùng câu ngôn hành:
Tôi cảnh báo cho anh biết nếu lần sau còn tái phạm tôi sẽ đuổi việc.
(3) Hứa hẹn
(
Commissive)
* Mục đích của hành động này là người nói tự gán trách nhiệm cho mình
là phải thực hiện một hành động nào đó.
* Hướng thích nghi: Từ lời nói đến hiện thực đều do người nói thực hiện
* Trạng thái tâm lý: Khi hứa hẹn trạng thái tâm lý không xác đònh, phụ
thuộc vào từng hành động hứa cụ thể
Hành động hứa hẹn bao gồm: hứa, thề, cam đoan, cho, tặng, biếu… Tuy
nhiên hành động cho, tặng, biếu không phải là hành động ngôn từ thuần tuý
dụng âm thanh ngôn ngữ để bộc lộ một nội dung thông báo nào đó. Và để đạt
được hiệu quả trong giao tiếp, người nói cần quan tâm đến các điều kiện sử
dụng của các hành động ngôn từ. Bởi lẽ để hành động được thực hiện thì mỗi
hành động ngôn từ đòi hỏi phải có những điều kiện nhất đònh. Muốn cho người
nghe thực hiện một hành động nào đó như yêu cầu, đề nghò, sai bảo, khuyên
răn… mà người nói mong muốn thì phía người nói phải lựa chọn cách nói làm
sao để người nghe không chỉ hiểu điều mình nói ở bề mặt ngôn từ mà còn tri
nhận đích ngôn trung.
Một em bé chưa biết nói nếu khát sữa không thể thực hiện được một
hành động ngôn từ. Hay khi ta muốn ra lệnh cho một em bé người ngoại quốc
làm một điều gì đó thì ta phải biết ngôn ngữ của quốc gia đó hoặc người ra lệnh
hoặc người nhận lệnh cùng biết một ngôn ngữ thì cuộc hội thoại bằng ngôn ngữ
mới được diễn ra và hành động đó mới được thực hiện. Chính vì vậy mà đối với
hành động ngôn từ tạo lời, các điều kiện sử dụng của nó là vềø ngữ âm, từ ngữ,
ngữ pháp của một ngôn ngữ để cấu tạo nên lời nói. Người nói cần phải tôn
trọng về mặt ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp của ngôn ngữ đó. Đồng thời các phía
người nói lẫn người nghe không bò hạn chế về mặt sinh lý như câm (phía người
nói) và điếc (phía người nghe).
Các hành động tại lời cũng đòi hỏi những điều kiện nhất đònh. Các hành
động tại lời bò chi phối bởi các quy tắc hình thành tự nhiên theo cộng đồng vì
vậy mà mỗi loại hành động tại lời có những điều kiện sử dụng của nó mà
Hành động cầu khiến trong tiếng Việt
Trang 17
Austin gọi tên chúng là những điệu kiện thuận lợi. Về vấn đề này Searle chia
làm 3 loại chính như sau:
− Điều kiện ban đầu
− Điều kiện chân thực
− Điều kiện thiết yếu (điều kiện căn bản)
* Điều kiện ban đầu
VD
chân thực của hành động mời mọc. Khác hẳn với lời mời gián tiếp bằng hình
thức một câu hỏi Tối mai H có tới nhà tôi dùng bữa được không? S đã đặt H vào
tình huống lựa chọn có/không. Trong một hoàn cảnh nào đó thì có thể coi đây là
lời mời lơi, mời cho có mời.
Như vậy điều kiện chân thành tập trung chủ yếu nói đến trạng thái tâm
lý của hành động mà người nói thực hiện. Thông báo một điều gì đó cho người
khác thì phải tâm niệm rằng thông tin đó là sự thật. Ra lệnh không chỉ là ép
buộc mà phải thực sự mong muốn người nhận lệnh chấp hành. Dùng câu hỏi để
tìm hiểu thông tin, người hỏi chân thành khi hoàn toàn chưa biết gì và thật sự
muốn biết về thông tin đó chứ không phải là hỏi xã giao, lấy lệ… hay thực hiện
hành động mời mọc thì phải mong muốn người nghe nhận lời mời của mình…
Còn điều kiện thiết yếu (điều kiện căn bản) là nói về trách nhiệm, sự
ràng buộc với người nói hoặc người nghe khi hành động đã được thực hiện. Đối
với hành động ra lệnh thì trách nhiệm ấy thuộc về người nhận lệnh. Điều kiện
thiết yếu của hành động mời mọc là người nghe sẵn lòng nhận lời mời, của
hành động khuyên răn là người nghe nhận thấy được giá trò của lời khuyên và
thực hiện lời khuyên ấy hay của hành động yêu cầu đề nghò là người nghe chấp
nhận lời yêu cầu, đề nghò…
Ngoài ra lý thuyết hành động ngôn từ của Searle còn có các điều kiện
khác như: điều kiện xuất phát và tới đích, điều kiện về nội dung mệnh đề… có
tác động không nhỏ vào hiệu quả giao tiếp trong hội thoại.
Điều kiện sử dụng hành động tại lời là những điều kiện mà những hành
động tại lời phải đáp ứng để nó có thể thích hợp với hoàn cảnh phát ngôn.
Chúng tôi chỉ nói đến điều kiện sử dụng hành động tại lời chân thực, không
phải của hành động ngôn ngữ không chân thực, không phái sinh.
Austin cho rằng điều kiện sử dụng hành động tại lời là những điều kiện
“may mắn” nếu chúng được bảo đảm thì hành động mới đó được “ thành công”
tức là mang lại hiệu quả trong giao tiếp và ngược lại.
Chẳng hạn như khi ta biết anh B mắc bệnh gan nặng, mời anh đến nhà
dùng cơm ta không thể cứ rót rượu bia mời anh uống bởi vì ta biết chắc rằng
rằng người nhận lệnh có khả năng thực hiện hành động quy đònh trong lệnh,
đồng thời cũng phải biết chắc rằng mối quan hệ giữa mình và người nghe có vò
thế xã hội có lợi cho chính mình. Khi ta hứa với ai về một điều gì đó thì ta phải
thực sự mong muốn ta thực hiện được lời hứa đó và người nghe cũng tin tưởng
vào lời hứa của ta. Những mệnh đề đơn giản với sự khảo nghiệm, xác tín không
những đòi hỏi người nói đưa ra những vấn đề đúng mà còn phải có những bằng
chứng xác thực.
Điều kiện chân thành : Chỉ trạng thái tâm lý tương ứng của người nói
phát ngôn. Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín: lệnh
đòi hỏi lòng mong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý đònh của người nói…
VD
: Đừng bao giờ “thử một lần cho biết”.
Hành động cầu khiến trong tiếng Việt
Trang 20
(Báo Công an TPHCM, số 136)
Đây là hành động khuyên nhủ. S nghó rằng hành động không “thử một
lần” có hại cho H.
Điều kiện căn bản: Điều kiện này đưa ra trách nhiệm mà người nói hoặc
người nghe bò ràng buộc khi hành động tại lời đó được phát ra. Chẳng hạn như
hành động ra lệnh, hứa hẹn, đề nghò, mời mọc,…được thực hiện hoặc đối với tính
chân thực của nội dung. Nghóa là một lời xác tín buộc người nói phải chòu trách
nhiệm về tính đúng đắn của điều được nói ra.
VD: Hãy bắt đầu một ngày mới bằng cách tập thể dục.
Đây là lời khuyên. Điều kiện căn bản của hành động ngôn ngữ này là
nhằm đảm bảo rằng tập thể dục có lợi cho sức khoẻ (mang lợi lại cho H)
1.4. Nghóa tường minh, nghóa hàm ẩn
Nghóa tường minh: Khi đánh giá về nghệ thuật ngôn từ trong các tác phẩm
văn chương nói riêng, của phát ngôn trong hoạt động giao tiếp nói chung, người
xưa đã nhận diện được nghóa tường minh được gọi là “ý tại ngôn trung”, ý ở
trong lời và nghóa hàm ẩn “ý tại ngôn ngoại”, ý ở ngoài lời. Sau này bộ môn
cần đặt từ ngữ vào mẫu câu để xác đònh ý nghóa ấy. Như ở ví dụ trên từ “chứ”
có nghóa phủ đònh hành động B chứ không phải hành động A nghóa là ông mua
là hành động ông thực hiện chứ không có hành động ngược lại là xin. Chính vì
vậy ông mua thì mày phải đưa nếu như ông xin thì mày đưa hay không thì tuỳ
mày tóm lại là phải đưa.
Nghóa hàm ẩn: Nghóa hàm ẩn là ý nghóa không lộ ra trên mẫu câu, từ
ngữ. Muốn lónh hội được ý nghóa đó, người tiếp nhận phải trải qua một quá trình
suy ý từ nghóa tường minh, căn cứ vào tình huống phát ngôn, cách thức sử dụng
mẫu câu, từ ngữ và quy tắc hợp logic. Đây chính là đối tượng nghiên cứu của
ngôn ngữ học và ngữ dụng học. Người đầu tiên nghiên cứu và đưa ra những cơ
sở lý luận về nghóa hàm ẩn là H.P. Grice. Ông đối lập giữa ý nghóa tự nhiên
(natural meaning) và ý nghóa không tự nhiên (non – natural meaning) Grice xác
đònh về ý nghóa không tự nhiên như sau : Người nói A muốn truyền báo ý nghóa
không tự nhiên bằng phát ngôn U khi và chỉ khi mà
+ A có ý đònh thông qua phát ngôn U gây ra hiệu quả ở người nghe B.
+ A muốn (có ý đònh) rằng điều kiện gây hiệu quả ở người nghe B có
hiệu lực đơn giản chỉ là nhờ chỗ B nhận ra được ý đònh mà A gởi gắm. Và như
vậy ý nghóa hàm ẩn (không tự nhiên) theo quan niệm của Grice là phải nằm
trong ý đònh của người nói và cái ý đònh đó phải được người nghe nhận biết. Ví
như:
A: (Mẹ nói với con gái) Đã 6 giờ rồi mà con vẫn còn ngủ hả?
Hành động cầu khiến trong tiếng Việt
Trang 22
B: Hôm nay con được nghỉ dạy mẹ ạ.
Ở phát ngôn A
Ý nghóa tường minh: Người mẹ hỏi cô con gái đã 6 giờ rồi mà sao vẫn
còn ngủ.
Ý nghóa hàm ẩn.
+ Tiền giả đònh
pp’1: Trong nhà có cô con gái.
tiếp. Còn ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán và một số nhà ngôn ngữ
khác nghiên cứu tiếng Việt trên lập trường phân tích diễn ngôn. Cuối cùng các
nhà ngôn ngữ học đưa ra hai kết luận về phương thức thể hiện hiệu lực tại lời
với hai phương thức là trực tiếp và gián tiếp.
– Phương thức thể hiện hiệu lực tại lời trực tiếp: Thông qua các yếu tố
ngôn từ và các hành động ngôn từ được thực hiện đúng với các điều kiện sử
dụng , chẳng hạn đích ở lời là cầu khiến thể hiện trong các phát ngôn sau :
VD: Đừng nói chuyện nữa .
Làm bài đi,…
– Ngược lại với phương thức thể hiện hiệu lực tại lời trực tiếp là phương
thức thể hiện hiệu lực tại lời gián tiếp. Theo lý thuyết hành động ngôn từ thì
một hành động ngôn từ được coi là gián tiếp nếu hành động ngôn trung của nó
được hiểu bằng một dạng thức cú pháp của một hành động ngôn trung khác. Và
trong thực tế sử dụng ngôn ngữ có nhiều lý do, người nói sử dụng hành động
ngôn từ này nhưng lại nhằm đạt đến hiệu lực ở lời của một hành động ngôn từ
khác.
VD: (Mẹ nói với con gái)Trời mưa rồi phải không con ?
Thay cho cách nói: Trời mưa rồi con cất quần áo đ i.
Tóm lại
: Việc lựa chọn phương thức thể hiện hành động ngôn từ trực tiếp
hay gián tiếp là tuỳ thuộc vào người nói sao cho đạt được hiệu quả trong giao
tiếp . Dùng phương thức gián tiếp nhưng làm sao để người nghe tri nhận được
hiệu lực ở lời , người nghe hiểu được hiệu lực ở lời của nó hoàn toàn không
phải là sự lựa chọn giữa một hành động ngôn từ này hay một hành động ngôn từ
khác mà là một phản ứng hết sức tự nhiên từ phía người nói . Điều này phụ
thuộc vào các nhân tố tâm lý xã hội của các nhân vật tham gia giao tiếp cũng
như các điều kiện giao tiếp cụ thể. Theo Đỗ Hữu Châu thì: “ …có nhiều hiệu lực
tại lời gián tiếp đã trở thành quy ước, trở thành một thứ nghi thức phi ngôn
ngữ”mà người Việt sử dụng. Như khi hỏi về thời gian giờ giấc người Việt
thường dùng câu: Anh có đeo đồng hồ không? ; hỏi mượn tiền thì : Anh (chò) có
Câu cảm thán: Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi!
Xét về mặt cấu trúc mỗi loại câu trên có những đặc điểm riêng.
– Câu hỏi (nghi vấn): được cấu tạo bởi các từ ngữ những từ nghi vấn
thường dùng trong câu hỏi là.
+ Đại từ nghi vấn: ai, gì, nào (như thế nào), sao, bao nhiêu, bao giờ, mấy,
bao lâu… để tạo câu hỏi bộ phận (hỏi về một chi tiết trong sự việc) Trả lời cho
dạng câu hỏi này cần căn cứ vào điểm chứa đại từ nghi vấn.
VD
: - Bao giờ các bạn trở lại đây?
- Sao anh không về chơi thôn Vó?