BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thanh Vân
HÀNH ĐỘNG CẢM THÁN TRONG
TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Dư Ngọc Ngân Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả được đưa ra
MỤC LỤC
4TLỜI CAM ĐOAN4T 2
4TLỜI CẢM ƠN4T 3
4TMỤC LỤC4T 4
4TQUY ƯỚC VIẾT TẮT4T 6
4TDẪN NHẬP4T 7
4T1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu4T 7
4T2. Lịch sử vấn đề4T 7
4T2.1. Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống4T 7
4T2.2. Quan điểm ngữ nghĩa- ngữ dụng học4T 10
4T3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu4T 12
4T4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu4T 12
4T4.1. Phương pháp nghiên cứu4T 12
4T4.2. Nguồn ngữ liệu4T 12
4T5. Cấu trúc luận văn4T 12
4TChương 1: TỔNG QUAN VỀ HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ VÀ HÀNH ĐỘNG CẢM THÁN4T
14
4T1. Hành động ngôn từ4T 14
4T1.1. Khái niệm hành động ngôn từ4T 14
4T2.4. Phương thức sử dụng các phương tiện gián tiếp biểu thị ý nghĩa cảm thán4T 75
4T2.4.1. Hành động cảm thán được thực hiện gián tiếp bằng hình thức của hành động hỏi4T 75
4T2.4.2. Hành động cảm thán được thực hiện gián tiếp bằng hình thức của hành động thông báo4T 79
4TKẾT LUẬN4T 83
4TTÀI LIỆU THAM KHẢO4T 85
4TNGUỒN NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN4T 88
4TPHỤ LỤC4T 89
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Sp1: người nói 1 (speaker 1)
Sp2: người nói 2 (speaker 2)
IFIDs: Phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời
[2, tr18]: 2 số thứ tự tài liệu tham khảo, tr.8 số trang trong tài liệu
[5, 345]: 5 là số thứ tự tác phẩm làm tư liệu, 345 số trang trong tác phẩm
DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Khái niệm cảm thán trong tiếng Việt đã được biết đến từ rất sớm qua kết quả “phân loại
câu theo mục đích phát ngôn”, theo đó trong tiếng Việt có bốn loại câu: trần thuật, cầu khiến,
nghi vấn, cảm thán.
Tuy nhiên, từ những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây, khi lí thuyết về hành động ngôn
từ của J.L.Austin, H.P.Grice, J.R. Searle phát triển mạnh mẽ, thì giới Việt ngữ học nhận thấy
rằng xung quanh “câu phân loại theo mục đích phát ngôn” còn rất nhiều điều mới mẻ và hữu
ích khi soi chiếu bằng lí thuyết trên. Chính vì vậy mà thời gian qua đã có khá nhiều công trình
nghiên cứu tiếng Việt chuyên sâu về nội dung này. Các tác giả nhận thấy có sự phân biệt giữa
câu nghi vấn và hành động hỏi, giữa câu trần thuật và hành động xác nhận, câu cầu khiến và
hành động cầu khiến, giữa câu cảm thán và hành động bày tỏ cảm xúc và nhiều điều thú vị
khác. Mặc dù vậy đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về hành
động cảm thán trong tiếng Việt, vốn là một trong những hành động ngôn từ có tần số xuất hiện
cao trong giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Còn Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1983) xếp câu cảm
thán (thuật ngữ sách dùng là câu biểu cảm) vào kết quả phân loại dựa vào thuyết tính, bao
gồm: khẳng định và phủ định, tường thuật, nghi vấn, cầu khiến và biểu cảm. Tác giả của cuốn
sách cũng nhận định rằng: Trong câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến đều có sự biểu
thị cảm xúc. Nhưng câu biểu cảm vẫn có thể có hình thức riêng. [55, tr.205]
Tác giả Hồ Lê (1992) quan niệm rằng mỗi câu phát ra đều phải theo một trong bốn định
hướng: trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán, người thụ ngôn phải cảm nhận được định
hướng của từng câu để có phản xạ thích hợp. Đối với câu cảm thán, anh ta không phải hiểu
được nội dung ấy mà còn phải nhận ra điểm cảm thán trong câu (thường được diễn đạt hiển
ngôn nhưng cũng có khi ẩn mặc) và chuẩn bị hành động phản ứng. [26, tr.417]
Tác giả Nguyễn Thị Ly Kha (2008) căn cứ vào mục đích giao tiếp, phân chia câu thành
những loại quen thuộc đã có trong ngữ pháp truyền thống: câu trần thuật, câu cầu khiến, câu
nghi vấn, câu cảm thán. Tuy nhiên, tác giả cũng đi theo khuynh hướng của lí thuyết hành động
ngôn từ khi cho rằng các câu trần thuật, nghi vấn, hoặc cầu khiến đều có thể thực hiện cả
nhiệm vụ bộc lộ tình cảm và thái độ. [25, tr.202-218]
Thực tế trong khuynh hướng của ngữ pháp truyền thống khi phân loại các kiểu câu
tiếng Việt theo mục đích nói, bên cạnh đa phần là các quan niệm cho rằng có bốn kiểu câu như
đã nói- trong đó luôn có cảm thán, thì cũng có một số cách phân loại khác. Ở đây chúng tôi xin
mở rộng để có được cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Bùi Đức Tịnh (1954) không đề cập đến câu cảm thán mà chỉ có sự phân loại như sau:
câu xác định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu khuyến lệnh và câu tỏ sự mong ước hay hối tiếc.
[46, tr.376-383]
Các tác giả Lê Cận- Phan Thiều- Diệp Quang Ban- Hoàng Văn Thung (1983) trong
Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2 có ý kiến như sau: xét về mục đích nói năng, tất cả các câu nói đều
có thể quy về ba loại: câu kể, câu hỏi và câu cầu khiến. Tuy nhiên, trong phần Thành phần phụ
của câu, sách có đoạn viết trong những ngữ cảnh nhất định, phụ ngữ cảm thán có thể trở
thành một câu (…) và phụ ngữ cảm thán là thành phần phụ biểu thị tình cảm của người nói
đối với người nghe, làm cho người nghe thông cảm với mình (…) [7, tr.239]. Như vậy rõ ràng
nếu chiếu câu được hình thành từ phụ ngữ cảm thán theo kết quả phân loại trên thì có vẻ như
đó là sự phân loại chưa thực sự bao quát, vì không rõ các tác giả sẽ xếp những câu dạng này
phân loại cùng thời còn nhập nhằng về tiêu chí thì cách phân loại của hai ông là dựa vào dấu
hiệu hình thức một cách thuần nhất.
2.2. Quan điểm ngữ nghĩa- ngữ dụng học
Tiêu biểu cho khuynh hướng này trong nghiên cứu cảm thán tiếng Việt có thể kể đến
các tác giả sau: Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thiện Giáp,
Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Đỗ Hùng Việt,…
Diệp Quang Ban (2004, 2008) theo định hướng ngữ pháp chức năng hệ thống của
M.A.K Halliday, tác giả cho rằng câu phân loại theo mục đích nói là hiện tượng nằm trên
đường biên giới của câu xét theo cấu tạo hình thức và câu xét ở phương diện sử dụng. Với tiêu
chí lấy hình thức làm cơ sở phân loại và lấy mục đích nói làm tên gọi, câu xét theo mục đích
nói được chia thành bốn kiểu sau đây: câu trình bày, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm
thán [5, tr.108-109]. Và ở đây tác giả cũng quan tâm đến cảm thán một cách khái lược, song
cũng chỉ với tư cách là một kiểu câu chứ chưa phải là một hành động ngôn từ.
Tác giả Cao Xuân Hạo (1991) khẳng định đối với tiếng Việt căn cứ vào một số thuộc
tính về cấu trúc cú pháp có thể phân loại các câu ra làm hai loại lớn: câu trần thuật và câu nghi
vấn. Tác giả cho rằng “câu cảm thán” chỉ là câu trần thuật có màu sắc cảm xúc được đánh
dấu mà thôi [21, tr.384]. Còn về những hành động ngôn từ, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức
năng liệt kê một bảng khá dài những hành động ngôn trung trong đó có kể đến than phiền và
mừng vốn là những hành động cảm thán cụ thể và có đề cập đến câu nghi vấn có giá trị cảm
thán [21, tr.388- 389, 412]. Như vậy trong quan điểm của Cao Xuân Hạo, mặc dù trình bày
không thật chi tiết, nhưng chúng ta thấy có sự tách bạch giữa hai khái niệm: câu cảm thán và
hành động cảm thán.
Nguyễn Thị Lương (2005) quan tâm đến cả hai vấn đề: hành động cảm thán và câu cảm
thán. Tác giả có viết: Trong hoạt động giao tiếp, con người sử dụng rất nhiều hoạt động nói
trực tiếp như: trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán, hứa, dọa, thề, khen, chê, thách, đố,… Mỗi
hành động như vậy đều được thực hiện bằng những kiểu câu có hình thức, chức năng phù hợp
với đích ở lời của chúng. Trong số các hành động nói, thực tế cho thấy, các hành động trần
thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán, khẳng định, phủ định được sử dụng nhiều hơn cả trong hoạt
động giao tiếp. Phương tiện ngôn ngữ để thực hiện các hành động đó là các kiểu câu tương
ứng: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm thán và câu phủ định. [30, tr.190-191].
thực hiện nhu cầu đó con người có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó chủ yếu
là ngôn từ. Nói khác đi cảm thán là một hành động ngôn từ, một hành động ngôn từ độc lập và
có tư cách ngang bằng với các hành động ngôn từ khác.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hành động cảm thán trong tiếng Việt thể hiện nhiều giá trị ở lời cụ thể khác nhau, như:
than phiền, rên rỉ, mừng, vui, sướng, trầm trồ…. Giữa các hành động ấy, điểm khác nhau cơ
bản chính là tình cảm, cảm xúc của người nói được thể hiện. Để tạo được sự đa dạng ấy, tiếng
Việt có thể sử dụng nhiều phương thức biểu đạt khác nhau. Trong giới hạn luận văn, chúng tôi
dành phần lớn sự quan tâm cho các phương thức ấy. Chúng tôi tiếp nhận và vận dụng những
kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học về vấn đề cảm thán để từ đó đặc trưng hóa các phương
thức thể hiện hành động cảm thán trong tiếng Việt. Cụ thể là:
- Phương thức thể hiện trực tiếp hành động cảm thán trong tiếng Việt
- Phương thức thể hiện gián tiếp hành động cảm thán trong tiếng Việt
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung
như thu thập, phân loại, khảo sát ngữ liệu,…luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa- ngữ dụng kết hợp với phân tích ngữ nghĩa- cú pháp của
các biểu thức biểu đạt các loại hành động cảm thán chủ yếu trong tiếng Việt.
- Phương pháp miêu tả: được dùng để khảo sát, miêu tả các loại hành động cảm thán chủ yếu
và những phương thức thể hiện chúng trong tiếng Việt.
- Phương pháp thống kê: để định lượng các phương tiện thể hiện các hành động cảm thán chủ
yếu trong tiếng Việt.
4.2. Nguồn ngữ liệu
Các ngữ liệu được khảo sát và trình bày trong luận văn được chúng tôi thu thập từ lời ăn
tiếng nói hàng ngày và trong một số tác phẩm văn chương Việt Nam.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Phần Nội dung chính của luận văn gồm hai chương
như sau:
ĐỘNG CẢM THÁN
1. Hành động ngôn từ
1.1. Khái niệm hành động ngôn từ
Thuật ngữ hành động ngôn từ (speech act) do nhà triết học Anh là J.Austin khởi xướng
và được một nhà triết học khác là J.Searle phát triển. Các tác giả này nhận ra rằng ngôn ngữ
không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó mà còn được dùng để thực hiện các
hành động. Chẳng hạn khi ai đó nói “Tôi cảm ơn…”, “Tôi xin lỗi…” thì những phát ngôn đó
đã thực hiện hành động “cảm ơn” và “xin lỗi”. Tương tự ta có thể có các hành động: đề nghị,
bác bỏ, tuyên bố, mời mọc, ra lệnh… Các hành động thực hiện bằng lời nói được gọi là hành
động ngôn từ. Chúng ta chỉ có thể nhận diện ra hành động ngôn từ do một phát ngôn nào đó
thực hiện khi chúng ta biết được ngữ cảnh mà phát ngôn đó diễn ra. Hành động ngôn từ chính
là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn.
1.2. Những hành động ngôn từ
Trong giao tiếp, mỗi phát ngôn được tạo ra thường có 3 loại hành động.
- Hành động tạo lời (locutionary act )
Hành động tạo lời là hành động cơ sở của phát ngôn. Đó là hành động được thực hiện bởi
sự vận động của các cơ quan phát âm (hoặc cử động tay để tạo ra các nét chữ) vận dụng các từ
và kết hợp các từ theo quan hệ cú pháp thích hợp thành các câu…Nhờ vào hành động tạo lời,
chúng ta hình thành nên các biểu thức có nghĩa.
Nếu gặp một trở ngại nào đó ở cơ quan phát âm hoặc không tìm ra từ thích hợp, hoặc
không nắm được các quan hệ cú pháp, cách thức tổ chức các biểu thức của một ngôn ngữ thì
chúng ta không thực hiện được hoặc thực hiện không hoàn chỉnh hành động tạo lời.
- Hành động ở lời ( illocutionary act )
Đây là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói ra
(viết ra). Chính cái đích này phân biệt các hành động ở lời với nhau. Hành động tại lời hỏi có
đích là bày tỏ mong muốn được giải đáp điều người nói chưa rõ nên khác hành động ở lời hứa
vì hứa có mục đích là (người nói) tự ràng buộc mình vào một hành động sẽ thực hiện trong
tương lai.
Đích của hành động ở lời được gọi là đích ở lời nếu đích đó được thỏa mãn thì ta có
hiệu quả ở lời.
điều kiện bên ngoài của một đối tượng hoặc hoàn cảnh chỉ bằng cách tạo ra phát ngôn, như: từ
bỏ, đặt tên, sa thải, khai mạc, … Đặc trưng của hành động tuyên bố là từ ngữ làm thay đổi
thực tại, người nói gây ra tình huống.
- Hành động biểu kiến (representative)
Hành động biểu kiến là hành động thể hiện cái mà người nói tin tưởng. Hành động này
thể hiện ở những câu mà người nói phải chịu trách nhiệm về giá tri chân lí mà mệnh đề được
biểu đạt. Nhóm biểu kiến có thể bao gồm các hành động như: khẳng định, quả quyết, phỏng
đoán, miêu tả, thông báo, từ chối, tán thành, phản đối, giả định, gợi ý, tranh cãi, hưởng ứng,
giải thích,… Đặc trưng của hành động biểu kiến là: làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói tin
vào tình huống.
- Hành động biểu cảm (expressive)
Với hành động này, người nói thể hiện trạng thái tâm lí của mình đối với sự tình trong
nội dung mệnh đề, như xin lỗi, phàn nàn, chúc mừng, cảm ơn, hoan nghênh. Đặc trưng của
hành động biểu cảm là: làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói cảm thấy tình huống.
- Hành động cầu khiến (directive)
Đây là hành động mà người nói nhằm làm cho người nghe thực hiện điều gì đó, chẳng hạn:
hỏi, yêu cầu, ra lệnh, nài ép, thỉnh cầu. Đặc trưng của hành động cầu khiến là làm thực tại
khớp với từ ngữ, người nói muốn tình huống xảy ra.
- Hành động ước kết (commissive)
Người nói cam kết một hành động tương lai nào đó, chẳng hạn: bảo đảm, hứa hẹn, cam
đoan, thề, tuyên thệ. Đặc trưng của hành động ước kết là làm thực tại khớp với từ ngữ, người
nói dự định tình huống.
J. Searle phân loại hành động trên dựa vào các tiêu chí cơ bản sau:
- Đích ở lời:
Đích ở lời của một hành động ngôn từ là mục đích của hành động đó. Chẳng hạn đích ở
lời của hành động hứa hẹn là tự gán trách nhiệm tinh thần về sự thực hiện việc gì. Đó là điều
kiện thiết yếu của hành động hứa hẹn. Đích ở lời không trùng với hiệu lực ở lời. Hai hành
động khác nhau có thể cùng một đích ở lời nhưng hiệu lực ở lời lại khác nhau. J.Searle nêu ví
dụ sau: Hai hành động ra lệnh và thỉnh cầu đều cùng một đích ở lời là người nghe sẽ nhận
thực hiện (hoặc không thực hiện) một việc gì đó nhưng hiệu lực ở lời lại khác nhau, ra lệnh là
hành động hứa và hành động cảnh báo thì nội dung của phát ngôn phải nói về một sự kiện
tương lai, hành động hứa đòi hỏi cái sự kiện tương lai đó sẽ là hành động của người nói.
- Điều kiện chuẩn bị: Điều kiện này liên quan tới những hiểu biết của người thực hiện
hoạt động về những tri thức nền của người tiếp nhận hành động, về quyền lợi, về trách nhiệm,
về năng lực tinh thần và vật chất của người tiếp nhận hành động. Cũng thuộc điều kiện chuẩn
bị là lợi ích, trách nhiệm, năng lực vật chất, tinh thần cũng như quyền lực của người nói đối
với hành động ở lời mà mình đưa ra.
- Điều kiện tâm lí: Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lí của người thực hiện hành
động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra. Điều kiện tâm lí còn có nghĩa là
người nói thực sự chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của hành động ở lời mà mình thực hiện.
- Điều kiện căn bản: Theo điều kiện này thì người thực hiện hành động ở lời nào đó khi
phát ngôn ra biểu thức ngôn hành tương ứng bị ràng buộc ngay vào kiểu trách nhiệm và hành
động ở lời tạo ra biểu thức ngôn hành đó đòi hỏi. Chẳng hạn, khi hứa hẹn bằng lời, người nói
đã gắn vào mình trách nhiệm thực hiện lời hứa. Khi ra lệnh, trách nhiệm và sự ràng buộc lại
gắn vào người nghe, nghĩa là người nghe phải thực hiện nó hoặc bị ràng buộc phải thực hiện
nó.
1.3.3. Phương thức thực hiện các hành động ở lời
Hành động ở lời là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Ngữ dụng học. Từ đây luận văn
xin dùng thuật ngữ hành động ngôn từ để chỉ hành động ở lời.
Các hành động ngôn từ có thể được thực hiện bằng hai phương thức: trực tiếp và gián
tiếp, được gọi tên tương ứng là hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp.
- Hành động ngôn từ trực tiếp:
Hành động ngôn từ trực tiếp là hành động mà người nghe có thể nhận diện ra đích ở lời
dựa vào chính câu chữ biểu thị chúng (không phải suy ý, không phải dựa vào ngữ cảnh). Trong
trường hợp này, hình thức từ ngữ và mục đích nói có sự thống nhất. Hành động ngôn từ trực
tiếp còn được gọi là hành động câu chữ.
Các dấu hiệu nhận diện hành động ngôn từ trực tiếp:
+ Dựa vào các động từ ngôn hành (động từ ngữ vi)
Động từ ngôn hành là những động từ nói năng mà khi nói ra ở ngôi thứ nhất, thời hiện
tại (bây giờ) và không có bất kì một yếu tố hình thái nào liên quan tới thái độ, cách đánh giá…
Sở dĩ chúng tôi đề cập đến hành động ngôn từ trực tiếp và gián tiếp là vì hành động cảm
thán trong tiếng Việt cũng được thực hiện bằng cả hai phương thức này.
1.4. Mối quan hệ giữa cảm thán và tình thái trong tiếng Việt
Thường thì khi đề cập đến cảm thán người ta hay liên tưởng đến khái niệm tình thái.
Đôi khi chúng ta còn gặp quan điểm cho rằng tình thái và cảm thán giống nhau, cùng đều thể
hiện tình cảm, cảm xúc. Quả thực, cảm thán và tình thái có quan hệ khá gắn bó, tuy nhiên đây
là hai khái niệm khá tách bạch.
Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học hiện nay được các tác giả dùng để chỉ một
phạm trù ngữ nghĩa rộng lớn, xoay quanh mối quan hệ giữa người nói, nội dung miêu tả trong
phát ngôn và thực tế. Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tình thái trong ngôn
ngữ học.
Vinogradov xem tình thái như một phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song song với
phạm trù vị tính, biểu thị những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế. Tác giả cho
rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái như dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan
hệ đối với hiện thực”. Nội dung thông báo, có thể được người nói hiểu như là hiện thực hay
phi hiện thực, là đã tồn tại trong quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ được thực hiện trong
tương lai, là điều mà người nói mong muốn hay đòi hỏi với ai đó…
O.B. Xirotinina thì cho rằng tình thái nằm trong vị tính của câu. Đối với các ngôn ngữ
biến hình thì “Thời tính, tình thái vị tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính và cùng nhau
tạo nên cái gọi là vị tính mà thiếu nó thì không thể có thông báo”.
Với Gak thì tình thái phản ánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn
và nội dung phát ngôn đối với thực tế. Tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn, đó
là sự khúc xạ của một phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói. (Gak, 1986)
Ngoài ra còn có một số định nghĩa khác như:
Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của
phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều được thông
báo. (Liapol, 1990).
Tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự
tình mà mệnh đề đó miêu tả. (Lyons, 1977).
Những định nghĩa trên đây về tình thái chúng tôi kế thừa từ kết quả nghiên cứu của tác
- Các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường của người nói đối với nội
dung thông báo: người nói đánh giá nội dung thông báo về độ tin cậy, về tính hợp pháp của
hành động, xem nó là điều tích cực (mong muốn) hay tiêu cực (không mong muốn), là điều bất
ngờ ngoài chờ đợi hay bình thường, đánh giá về tính khả năng, tính hiện thực của điều được
thông báo…
- Các ý nghĩa đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình, liên quan đến
khung ngữ nghĩa- ngữ pháp của vị từ cũng như mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong
câu và vị từ (ý nghĩa về thời, thể và các ý nghĩa được thể hiện bằng vị từ tình thái cho biết chủ
thể có ý định, khả năng, mong muốn thực hiện hành động…)
- Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác của phát ngôn và hành động phát ngôn có liên quan
đến ngữ cảnh xét theo quan điểm đánh giá của người nói. Chẳng hạn như sự đánh giá của
người nói về mức độ biểu hiện của người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan
điểm, ý kiến khác…
- Các ý kiến thể hiện phát ngôn của người nói, hay nói theo lý thuyết hành động ngôn từ, là thể
hiện kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (xác nhận, bác bỏ, thề, hỏi, ra lệnh, yêu cầu,
khuyên, mời,…) xét ở bình diện liên nhân, thể hiện sự tác động qua lại giữa người nói và
người đối thoại.
Tác giả Nguyễn Văn Hiệp cũng đã nhận định rằng: “Phạm trù tình thái bao gồm tất cả
những kiểu ý nghĩa gắn với sự thực tại hóa câu, biến các nội dung mệnh đề ở thế tiềm năng trở
thành các phát ngôn trong giao tiếp.” [23, tr.92]
Ở Việt Nam, quan niệm rộng về tình thái như trên đây có thể thấy ở: Đỗ Hữu Châu,
Hoàng Tuệ, Cao Xuân Hạo và nhiều tác giả khác về sau như Lê Đông, Phạm Hùng Việt,
Nguyễn Văn Hiệp,…
Tiếng Việt có các phương tiện biểu thị của tình thái cụ thể như sau:
- Các phó từ làm thành phần phụ của ngữ vị từ: đã, sẽ, đang, từng, vừa, mới,…
- Các vị từ tình thái làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ: toan, định, cố, muốn, đành, được, bị,
bỏ, hãy, đừng, chớ…
- Các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề: tôi e rằng, tôi sợ rằng, tôi
nghĩ rằng,…
- Các quán ngữ tình thái: ai bảo, nói gì thì nói, ngó bộ, thảo nào, tội gì, đằng thằng ra, kể ra,
- Cảm thán được nhìn nhận dưới góc độ là một kiểu câu trong quan niệm của ngữ pháp truyền
thống được thể hiện ở một số quan niệm tiêu biểu sau đây:
Theo tác giả Lê Văn Lý (1968), câu cảm thán là một câu diễn tả tình cảm xen lẫn vào
một ý tưởng như: vui, buồn, ngạc nhiên, đau đớn, lo sợ, tức giận, phẫn uất… [29, tr.188]
Nguyễn Kim Thản (1963) định nghĩa như sau: Câu cảm thán nhằm mục đích nói lên
các thứ tình cảm, các trạng thái tinh thần của người nói (… ) nhờ những ngữ điệu ấy mà ta
nói lên được những tình cảm như: vui mừng, sợ hãi, căm giận, âu yếm, nũng nịu, nói lên được
sự ca tụng, tiếc rẻ, khiến trách, khinh bỉ, dằn dỗi, thờ ơ, miễn cưỡng … v.v [40, tr.264]
Diệp Quang Ban (1996) cho rằng câu cảm thán được dùng khi cần thể hiện một mức độ
nhất định những tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá, những trạng thái tinh thần khác
thường của người nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hoặc ám chỉ. [1, tr.237]
- Quan niệm ngữ dụng học:
Các tác giả Diệp Quang Ban ( 2004) (2008), Nguyễn Thị Lương (2005) miêu tả rõ nét
hơn các tác giả cùng quan điểm về cảm thán song các tác giả này cũng chỉ dừng lại ở việc xem
xét biểu hiện hình thức của hành động của ngôn từ này (tức câu cảm thán) mà thôi.
Câu cảm thán (hay câu cảm) là câu sử dụng các từ ngữ chuyên biệt để biểu thị những
cảm xúc mạnh, đột ngột, có tính bộc phát tức thì của người nói thường dùng trong những ngôn
ngữ sinh hoạt và trong ngôn ngữ văn chương. [30, tr.190-191]
Nói chung cả quan điểm truyền thống và quan điểm ngữ dụng học đều có điểm thống
nhất trong quan niệm về cảm thán là về bộc lộ tình cảm, cảm xúc. Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu cảm
thán là bộc lộ tình cảm, cảm xúc thì e rằng khó có sự khu biệt với các hành động ngôn từ khác
(vì thực ra một phát ngôn bao giờ cũng gồm nội dung mệnh đề và nội dung tình thái ). Cho nên
cần thấy rằng cảm thán là hành động thể hiện tình cảm, cảm xúc trong những tình huống có
vấn đề, thường là bất ngờ, đột ngột, ngoài sự tiên liệu của người nói.
Qua khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy rải rác ở một số những
công trình nghiên cứu Việt ngữ thời gian gần đây đã có những định nghĩa về các hành động
ngôn từ được sử dụng phổ biến, như: trần thuật, hỏi, cầu khiến,…Ở đây, với việc định nghĩa
khái niệm hành động cảm thán, chúng tôi cũng tham khảo quan điểm của các tác giả Đặng Thị
Hảo Tâm (2003) và Chu Thị Thanh Tâm (1995), Hà Thị Hải Yến (2004) trong những công
trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến hành động cảm thán. Từ đó luận văn xin đưa ra định
đạt hiệu lực tại lời của một hành động ngôn từ khác.
Ví dụ:
(13) A: Ui cha, tự nhiên tớ thấy đau chân quá!
B: Để tớ chở cậu.
A thông qua hành động cảm thán than thở để “gợi ý”- thực hiện hành động cầu khiến: nhờ
B chở mình.
Ngoài ra, khi sử dụng ngôn ngữ nói, nhất là khi đối thoại trực tiếp, chúng ta còn có thể
căn cứ vào ngữ điệu (giọng nói to, mạnh, gằn thường là để biểu thị sự giận dữ; giọng nhỏ,
thấp, kéo dài thường là lời than thở, rên rỉ,….), hoặc các yếu tố phi ngôn ngữ như nét mặt, thái
độ, dáng điệu,… để nhận ra thái độ, tâm trạng, tình cảm cụ thể mà người nói muốn bộc lộ
1.5.3. Phân loại hành động cảm thán
Chúng tôi phân loại hành động cảm thán theo hai cách, với hai tiêu chí sau: theo đặc
điểm cấu trúc của biểu thức ngôn hành cảm thán và theo thang độ cảm xúc của hành động cảm
thán.
3.3.1. Theo đặc điểm cấu trúc của biểu thức ngôn hành cảm thán
Hành vi cảm thán thường được biểu thị bởi các động từ: than, than thở, rên, la, reo,
trầm trồ, nức nở…. Nhưng những động từ này đều mang chức năng miêu tả mà không phải
chức năng ngôn hành. Ví dụ: Muốn thực hiện hành động trầm trồ, người nói không thể dùng
phát ngôn “Tôi trầm trồ vẻ tráng lệ của tòa lâu đài.” mà phải bằng cách khác, có thể là “Ôi, tòa
lâu đài đẹp quá!” hay “Tòa lâu đài mới đẹp làm sao!”. Cho nên nói biểu thức ngôn hành cảm
thán là nói tới biểu thức ngôn hành nguyên cấp mà không phải biểu thức ngữ vi tường minh.
Theo đó, xét về cấu trúc hình thức, hành động cảm thán được chia làm hai loại: hành động cảm
thán không có cấu trúc cú pháp biểu thị nội dung mệnh đề và hành động cảm thán có cấu trúc
cú pháp biểu thị nội dung mệnh đề.
- Hành động cảm thán không có cấu trúc biểu thị nội dung mệnh đề
Tạo nên dạng hành động này là những từ/cụm từ tự thân biểu lộ được tình cảm, trạng
thái cảm xúc quá mức, cực đoan của chủ thể biểu cảm, như: ối, ối giời ơi, trời ơi, trời đất ơi,…
Đây chính là các IFIDs (illocutionary force indicating devices- Phương tiện chỉ dẫn
hiệu lực ở lời) của biểu thức ngôn hành nguyên cấp của hành động cảm thán. IFIDs này đồng
thời là biểu thức ngôn hành nguyên cấp cảm thán.