Đặc điểm của câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong tiếng Việt và một số nhận xét bước đầu về kiểu câu này trong thơ Xuân Diệu - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đặc điểm của câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong tiếng Việt và
một số nhận xét bước đầu về kiểu câu này trong thơ Xuân Diệu
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu cấu trúc nghĩa biểu hiện và các kiểu nghĩa biểu hiện của câu
là một trong những vấn đề trọng tâm của Ngôn ngữ học nói chung và của Việt
ngữ học nói riêng. Một trong những kiểu nghĩa biểu hiện của câu thu hút sự chú
ý của các nhà Việt ngữ học là các câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển có
hướng
- Nguyễn Kim Thản là người đầu tiên miêu tả đặc trưng của nhóm vị từ
hoạt động này. Ông cho rằng: “Trong những động từ thuần Việt có một nhóm từ
đặc biệt là những động từ vận động có phương hướng xác định như ra, vào, lên,
xuống, đến, tới, sang, qua, lại, về. Đứng về mặt phân phối, những động từ này
quả là rất giống với những động từ có ý nghĩa trừu tượng (làm lụng, yêu
thương...). Nhưng đứng về mặt cấu tạo, chúng có những đặc điểm khác. chúng
là những từ biểu thị vận động có phương hướng xác định, hay nói cách khác, tự
thân nó đã bao hàm ý nghĩa về phương hướng” (Nguyễn Kim Thản - 1967).
- Nguyễn Lai, trong cuốn “Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt”
thì tập trung vào việc nghiên cứu cách sử dụng một số vị từ chỉ hướng như đi,
ra, vào, lên, xuống, sang, qua, đến, tới, lại, về... trên ba trục không gian, thời gian
và tâm lý (sắc thái). Tuy nhiên, cũng giống như Nguyễn Kim Thản, tác giả
không đả động gì đến sự tình của câu mà các vị từ đó biểu thị.
- Trong cuốn “Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt - Vị từ hành động” ,
Nguyễn Thị Quy cũng nghiên cứu khá kĩ về hoạt động di chuyển nhưng tác giả
chủ yếu đi sâu về miêu tả các vị từ hành động di chuyển như đi, lên, vào, ra,
xuống, chạy, rời, trốn...hơn là miêu tả các kiểu sự tình. Tác giả chia ra làm hai
loại vị từ hành động di chuyển:
+ Vị từ hành động di chuyển một diễn tố:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chiếc xe phóng như bay

- Tư liệu văn bản thơ Xuân Diệu: Chúng tôi lấy tư liệu trong các tập thơ:
“Thơ thơ”, “Gửi hương cho gió” (giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945)
và “Riêng chung”, “Mũi Cà Mau”, “Cầm tay”, “Hai đợt sóng”, “Thanh ca” (giai
đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945).
4. Bố cục của của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bố cục của khoá luận gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý thuyết.
Chương II: Đặc điểm của câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong
tiếng Việt.
Chương III: Một số nhận xét bước đầu về kiểu câu biểu thị sự tình hoạt
động di chuyển trong thơ Xuân Diệu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Khái niệm nghĩa biểu hiện và các kiểu nghĩa biểu hiện của câu
1.1. Khái niệm nghĩa biểu hiện của câu
Kế thừa quan điểm của Moris (1936), S.Dik (1981) cho rằng có ba
bình diện phân tích câu dựa trên quan hệ về chức năng: cú pháp, ngữ
nghĩa, ngữ dụng.
1. Chức năng cú pháp chỉ định cái khung quy chiếu (prespective)
mà từ đó sự tình được thể hiện trong các biểu thức ngôn ngữ học: Chủ
ngữ (Subject) và Bổ ngữ (Object).
2. Chức năng ngữ nghĩa chỉ định ra các vai, mang sở chỉ của các từ
ngữ có liên quan, hiện diện trong cái sự tình được biểu thị bằng kết cấu vị
ngữ (predication): Tác thể (Agent), Đích (Goal), Tiếp thể (Recipent)...
3. Chức năng ngữ dụng chỉ định tình trạng thông tin của các thành
tố với một tình huống giao tiếp rộng hơn mà trong đó nó xuất hiện: Chủ
đề (Theme) và Hậu đề (Tail), Đề (Topic) và Tiêu điểm (Focus).
Theo Dik, ở bình diện ngữ nghĩa, câu bao giờ cũng biểu thị một sự
tình (state of affairs) nhất định. Xét về mặt cấu trúc, kết cấu vị ngữ hạt

Jack fell down and broke his crown.
Actor MP MP Goal
(Jack ngã và làm vỡ chiếc mũ miện của mình)
2. Quá trình tinh thần (mental processes) trong đó có nghiệm (Senser) và
có nhân tố gây cảm giác.Ví dụ:
Mary like the gift. (Mary thích món quà)
3. Quá trình quan hệ (relational processes) trong đó có trả lời câu hỏi: cái
gì, của ai, ở đâu mà tham tố có chức năng mang một thuộc tính xác định, đồng
nhất. Ví dụ:
Tom is a leader. (Tom là lãnh tụ)
4. Quá trình hành vi (behavioural processes) như nghe, nhìn, cử động và
tham tố duy nhất là người thực hiện hành vi. Ví dụ:
Fortune is smiling on you. (Vận may mỉm cười với chúng tôi)
5. Quá trình nói (verbal processes) trong đó có người nói (Sayer) nói ra
Website: Email : Tel : 0918.775.368
điều gì và người tiếp nhận (Receiver). Ví dụ:
Responding, the minister implied that the policy had been changed. (Phản
ứng lại, ông bộ trưởng muốn nói rằng chính sách đã thay đổi).
6. Quá trình hiện hữu (existential processes) trong đó có tham tố là vật tồn
tại. Ví dụ:
There was a storm. (Có một cơn bão)
Trong sáu quá trình nêu trên Halliday phân biệt ba quá trình "Vật chất”,
“Tinh thần”, “Quan hệ” là 3 quá trình chính trong hệ thống chuyển tác trong
tiếng Anh". Còn ba quá trình còn lại được "định vị trên đường ranh giới của các
quá trình này từ cái này qua cái kia, không thật sự rõ ràng", đó là:
- Trên đường ranh giới giữa các quá trình vật chất và quá trình tinh thần là
các quá trình hành vi.
- Trên đường ranh giới giữa các quá trình tinh thần và quá trình quan hệ là
phạm trù của những quá trình phát ngôn.
- Trên đường ranh giới giữa quá trình quan hệ và quá trình vật chất là các

+ hướng
- hướng
cử động
ứng xử
Chuyển thái
Chuyển
vị
Tạo tác
Huỷ diệt
Chuyển thái
Chuyển
vị
nảy sinh
Chuyển
thái
diệt
vong
th. tính ( + sinh)
th. tính (-
sinh)
trí tuệ
cảm tính
vật trạng
thể trạng
ấn tượng
cảm xúc
tương
đối
tương
liên

Với
hoàn cảnh
+Chuyển tác
Tính chất
(+ thường
tồn)
Vật thể
Sự tình
Hành động
(+ chủ ý)
Quá trình
( - chủ ý)
Trạng thái
( + nội tại)
Quan hệ
( - nội tại)
Tồn tại
+ định vị
- định vị
Biến cố
( + động)
Tình hình
( - động)
SỰ TÌNH
-Chuyển tác
+Chuyển tác
-Chuyển tác
Tình trạng
( - thường
tồn)

cấu trúc đề - thuyết). Ở cấp độ khái quát, căn cứ vào kiểu sự tình mà câu biểu
thị, có thể phân chia nghĩa biểu hiện của câu thành ba loại:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Câu tồn tại, nhận định rằng trong một thế giới hay một nơi nào đó có
một cái gì
- Câu chỉ sự tình hay sự việc, biến cố
- Câu chỉ sự tình tĩnh hay tình hình
* Sự tồn tại của một sự vật được biểu hiện trong câu tồn tại có thể được
định vị hay không được định vị. Có những loại câu bắt buộc phải định vị như:
(a) Có chuột
(b) Trong nhà có tiền
(c) Trên tường treo một bức tranh
(d) Trên giường chễm chệ một thằng đáng ghét
Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào câu dùng vị từ có hay còn
cũng đều là câu tồn tại. Câu tồn tại không có chủ đề mà chỉ có thể có khung đề.
Những câu như: Nó có nhà, Nó có lỗi là những câu chỉ trạng thái chứ không phải
là câu tồn tại.
* Trong những câu chỉ biến cố hay sự việc có thể chia ra thành câu chỉ
hành động và câu chỉ quá trình. Hành động là một sự việc có chủ ý có thể do con
người hay động vật thực hiện. Quá trình là một biến cố không có chủ ý, chủ thể
của nó (thực thể trải qua nó) có thể là người, động vật hay bất động vật.
* Trong các câu chỉ tình hình có thể phân biệt câu chỉ trạng thái với câu
chỉ quan hệ. Trạng thái là một tình hình có mặt trong bản thân chủ thể (thực thể
mang nó, hay ở trong trạng thái đó). Quan hệ là một tình hình mà nội dung là
một cái gì ở giữa hai sự vật, dù đó là sự tiếp xúc, một khoảng cách, một mối dây
nhân quả hay sự so sánh.
Trong luận văn này, chúng tôi dựa trên bảng phân loại các kiểu nghĩa biểu
hiện trên của Cao Xuân Hạo để nhận diện và miêu tả các sự tình cần khảo sát.
2. Sự tình động và các kiểu câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển trong
tiếng Việt

động vô tác.
(a)Một hành động không tác động đến một đối tượng khác được gọi là
hành động không chuyển tác hay vô tác. Hành động này có thể chỉ có một diễn
tố duy nhất là hành thể, tuy đó có thể là một diễn tố phức hợp, gồm nhiều nhân
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vật cùng hành động. Trong các sự tình này ngoài diễn tố (argument) cũng còn có
các tham tố khác là các chu tố (circumstants).
- Đối với những vị từ như đi, chạy, bay, nhảy, ngoài hành thể (diễn tố duy
nhất) có thể có thêm các chu tố vị trí. Ví dụ:
Con chim bay trên trời
Diễn tố Vị từ Chu tố
Hành thể Hành động Vị trí
- Đối với các vị từ như đến, tới, vào, ra, rời, ngoài diễn tố hành thể còn
có thêm một diễn tố khác chỉ nguồn hay đích:
Cầu thủ vào sân
Diễn tố 1 Vị từ Diễn tố 2
Hành thể Hành động Đích
Với những hành động như xem, nhìn là hành động vô tác nhằm mục đích
tri giác đối tượng chứ không nhằm tác động đến đối tượng. Đối tượng của các
hành động như xem, nhìn là những diễn tố được coi là loại đối thể đặc biệt,
không bị tác động mà còn tác động lại người hành động. Đối thể này có thể
được gọi là đích hoặc là mục tiêu.Ví dụ:
Cậu bé nhìn cô bé
Diễn tố 1 Vị từ Diễn tố 2
Hành thể Hành động ứng xử Mục tiêu
(b) Một hành động cũng có thể tác động đến một đối tượng nào đó: đó là
hành động chuyển tác hay cập vật. Loại hành động này có hai diễn tố, là chủ thể
của hành động (hành thể) và vật hay người chịu sự tác động của hành động (đối
thể hay bị thể).
- Hành động không tác động vào vật có sẵn mà làm cho nó hình thành, là

làm bổ ngữ cũng được coi là hành động gây khiến. Ví dụ:
Khổng Minh sai Quan Vũ giết Tào Tháo nhưng Quan Vũ không làm.
Tào Tháo bắt Triệu Vân phải hàng nhưng Triêu Vân nhất định không hàng.
2.1.2. Sự tình [+động], [-chủ ý] được gọi là quá trình
Theo Cao Xuân Hạo: “một biến cố trong đó không có một chủ thể nào có
chủ ý được gọi là quá trình”.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tác giả chia ra làm hai loại quá trình: quá trình chuyển tác và quá trình vô
tác.
(a) Quá trình vô tác là một quá trình không tác động đến một đối tượng
nào khác ngoài cái đối tượng trực tiếp trải qua cái quá trình ấy. Một quá trình vô
tác có thể là một sự chuyển biến, cũng có thể là một sự nảy sinh hay huỷ diệt.
- Một quá trình chuyển biến có thể là một sự chuyển biến về vị trí (di
chuyển) hay một sự chuyển biến về trạng thái (chuyển thái).
+ Trong một quá trình di chuyển, sự di chuyển không chủ động có thể có
hướng và cũng có thể kết thúc ở một nơi hoặc một điểm nhất định. Những nơi,
điểm kết thúc này thường là chu tố. Ví dụ:
Hoa rơi trước thềm
Diễn tố Vị từ Chu tố
Quá thể Quá trình Vị trí
+ Ngoài ra trong quá trình di chuyển, điểm kết thúc cũng là một diễn tố
khi vị từ của những quá trình này là những vị từ biểu thị sự di chuyển có hướng
(đến, tới, vào). Ví dụ:
Mực bay vào mặt
Diễn tố 1 Vị từ Diễn tố 2
Quá thể Quá trình Đích
- Một quá trình chuyển thái khi một vật thay đổi vẻ bên ngoài hay (và)
trạng thái bên trong, hoặc một người hay động vật cũng thay đổi như vậy một
cách không chủ ý. Ví dụ:
Cô ấy tái mặt đi

thế giới của nhân loại. Chẳng hạn hướng đi lên là xa dần trung tâm của Trái Đất,
còn hướng đi xuống là ngược lại. Sự di chuyển đó không phụ thuộc vào nguồn
và đích của nó. Còn hướng ra và hướng đi thì chỉ cần căn cứ và nơi xuất phát,
không phải chú ý đến nơi hay vật làm đích đến.
Còn đích là một vật cụ thể mà sự di chuyển nhằm thẳng vào. Nếu sự di
chuyển ấy có chủ ý thì đích chính là nơi kết thúc mong muốn của sự di chuyển
đang được biểu hiện trong câu. Đích qui định hướng và cách thức của sự di
chuyển.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2.2. Đặc điểm chung
(tiêu chí nhận diện)
Một sự tình hoạt động di chuyển bao giờ cũng phải thoả mãn các tiêu chí
về: [+động], [+di chuyển] và [+chủ ý] hay [-chủ ý], [+hướng] hay [-hướng].
Về mặt nội dung (ngữ nghĩa), cấu trúc nghĩa biểu hiện của hoạt động di
chuyển bao gồm:
- Trung tâm là vị từ chỉ hoạt động di chuyển: được thể hiện bằng động từ
hay động ngữ: Ví dụ:
(1)
Con chó chạy trong sân
Diễn tố Vị từ Chu tố
Hành thể Hành động Vị trí
(2)
Con mèo chạy vào bếp
Diễn tố 1 Vị từ Diễn tố 2
Hành thể Hành động Đích
(3)
Thằng bé ngã dưới đất
Diễn tố 1 Vị từ Chu tố
Quá thể Quá trình Vị trí
(4)

Diễn tố Vị từ Chu tố
Hành thể Hành động Vị trí
+ Chu tố về thời gian:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(11)
Tàu đến lúc 5 giờ
Diễn tố Vị từ Chu tố
Hành thể Hành động Thời gian
+ Chu tố về công cụ:
(12)
Nam đi bằng xe máy
Diễn tố Vị từ Chu tố
Hành thể Hành động Công cụ
+ Chu tố về cộng cách:
(13)
Tôi đi với bạn gái
Diễn tố Vị từ Chu tố
Hành thể Hành động Cộng cách
Tuy nhiên trong một số trường hợp, người ta vẫn thường nhầm lẫn giữa
diễn tố 2 và chu tố dựa trên đặc điểm ngữ nghĩa mà vị từ biểu thị. Ví dụ:
(14)
Tôi đi Hải Phòng
Diễn tố Vị từ Chu tố
(15)
Tôi đến Hải Phòng
Diễn tố 1 Vị từ Diễn tố 2
Về mặt hình thức, câu biểu thị sự tình hoạt động di chuyển được biểu thị
bằng một hình thức cú pháp chung là :
D1 + V + D2
và D1 + V + g + D2

(b) Dựa trên những đặc điểm về [+chủ ý] và [-chủ ý], chúng ta chia ra làm
hai loại sự tình hành động di chuyển và sự tình quá trình di chuyển:
- Sự tình hành động di chuyển là sự tình mà chủ thể của hoạt động làm
một việc có chủ ý (chủ động, tự điều khiển):
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(22)
Tôi sang Paris
Diễn tố 1 Vị từ Diễn tố 2
Hành thể Hành động Đích
(23)
Tôi chạy trên sân
Diễn tố Vị từ Chu tố
Hành thể Hành động Vị trí
- Sự tình quá trình di chuyển là sự tình mà không một chủ thể nào có chủ
ý:
(24)
Mưa rơi bên thềm
Diễn tố Vị từ Chu tố
Quá thể Quá trình Vị trí
(25)
Bóng bay vào sân
Diễn tố 1 Vị từ Diễn tố 2
Quá thể Quá trình Đích
Tiểu kết: Trên đây chúng tôi đã trình bày sự tình động nói chung và sự
tình hoạt động di chuyển nói riêng. Trước khi khảo sát kiểu câu này trong tiếng
Việt, chúng tôi muốn giới thiệu sơ qua về thơ Xuân Diệu và lý do chọn thơ Xuân
Diệu để khảo sát kiểu câu này.
3. Lý do chọn thơ Xuân Diệu để khảo sát
3.1. Một vài nét về thơ Xuân Diệu
- Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Xuân Diệu - Hành trình nghệ

hộ). Năm sau 1936, ông vào Huế học tiếp Tú tài phần hai (Trường Khải Định).
Có thể nói rằng, sau những cảm xúc thơ trẻ tuổi cảnh trời xanh biển biếc của
“cái nôi lãng mạn Quy Nhơn”, hai lượt ra Hà Nội tiếp xúc với thiên nhiên xứ
Bắc và vô Huế tiếp xúc với cảnh vật kinh đô đã mang đến cho nhà thơ nguồn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cảm hứng sâu sắc về vẻ đẹp của thiên nhiên, của non sông đất nước và con
người. Bài thơ “trình làng” đầu tiên của Xuân Diệu có tên “Với bàn tay ấy”
đăng trên báo Phong hóa năm 1935. Tập thơ đầu tay “Thơ thơ” của ông ra đời
năm 1938 với lời đề tựa trang trọng của Thế Lữ. Năm 1945, Xuân Diệu cho ra
đời tập thơ thứ hai “Gửi hương cho gió” (Nxb Thời đại ấn hành).
Với “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” Xuân Diệu được đánh giá là một
trong những nhà thơ có tài năng và phong cách độc đáo vào hạng bậc nhất của
trào lưu thơ ca lãng mạn Việt Nam 1932 - 1945. Về nội dung ông đã mang đến
cho thi đàn những năm 30 một nguồn cảm hứng yêu đời trẻ trung sôi nổi, một
cái tôi tình yêu nồng nàn, say đắm và một nhịp sống gấp gáp, nhuốm màu sắc
hưởng thụ. Về hình thức, Xuân Diệu là người có nhiều cách tân vô cùng mới
mẻ: đã tìm ra nhiều kiểu cấu trúc mới lạ cho câu thơ Việt Nam và tạo ra một thế
giới nghệ thuật thơ phong phú, đa dạng với vô vàn những hình ảnh độc đáo và
những nét “nhạc điệu tân kỳ”. Chính nhà thơ Thế Lữ, người vẫn được mệnh
danh là có công sáng lập “khai sơn phá thạch” nên phong trào Thơ mới, người
đồng thời đã có công phát hiện đã phát hiện ra tài thơ Xuân Diệu đã hết lời ca
ngợi “nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng”.
“Nhà thi sĩ ấy …. Tóc như mây vương trên đài trán thơ ngây, mắt như bao
luyến mọi người và miệng cười mở rộng như một tấm lòng sẵn sàng ân ái”.
Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Vần thơ của ông
được xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Nhà phê bình danh tiếng
Hoài Thanh cũng đón chào Xuân Diệu hết sức nồng nhiệt: “Người đã đến giữa
chúng ta với một y phục tồi tàn và chúng ta đã rụt rè, không muốn làm thân với
con người có hình thức phương xa ấy”. Và đằng sau cái dáng dấp phương xa
kia, Hoài Thanh đã tinh tế nhận ra “Thơ Xuân Diệu là nguồn sống rào rạt chưa

Cận - bạn thơ tri âm tri kỷ tại số nhà 24 - phố Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ):
Nhà ta 24 Cột Cờ
Ai yêu thì tới ai lờ thì thôi…
Một lần nữa, Xuân Diệu lại mang cái say nồng của tâm hồn và nhiệt tình
nóng bỏng của trái tim để đi vào cuộc sống mới; chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và
dựng xây đất nước. Thời đại, đất nước, nhân dân đã đưa đến cho ông một nguồn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cảm xúc gắn bó máu thịt:
“Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi
Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu
Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
Của triệu người yêu dấu gian lao”
Từ một nhà thơ “Số 1 của cái tôi cá nhân”, Xuân Diệu đã hoà nhập với cái
ta chung của cuộc đời rộng lớn. Ông lại tiếp tục viết về sự sống với một tình yêu
vô bờ bến và một tinh thần nhân bản sâu xa: “Đã là sự sống thì chẳng bao giờ
chán nản” và: “Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non”… Ông hăm hở giang rộng
đôi cánh thơ để đón nhận những âm vang của cuộc sống mới “Hồn tôi cánh rộng
mở/ Hai bên gió thổi vào/ Nghĩ những điều hớn hở/ Như trời cao cao cao…”. Có
thể thấy đây là giai đoạn sáng tác sung sức nhất của Xuân Diệu - Ông đã đi đến
rất nhiều vùng quê trên miền Bắc thân yêu để ngợi ca công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, hết lòng yêu thương ủng hộ đồng bào miền Nam trong sự nghiệp
đấu tranh thống nhất đất nước, và dĩ nhiên là vẫn mê mải làm thơ tình để tặng
cho những người đang yêu. Với các tập thơ: “Riêng chung” (1960), “Hai đợt
sóng” (1967), “Tôi giàu đôi mắt” (1970), “Hồn tôi đôi cánh” (1976), “Thanh
ca” (1982)… Chúng ta cũng đủ hình dung về hành trình nghệ thuật và năng lực
sáng tạo dồi dào của một nhà thơ có phong cách độc đáo: Đối với Xuân Diệu
“Sống là đồng nghĩa với sự đam mê, đam mê cuộc sống, đam mê tình yêu, đam
mê nghệ thuật…”. Cả cuộc đời mình, Xuân Diệu đã sống, đã “cháy hết mình”
cho sự sống và cho thơ, một đời người của ông là cả một đời thơ, những trang
đời trùng hợp với những trang thơ…

dung và hình thức, cảm xúc và ngôn từ. Là một nhà thơ uyên bác, có “tầm tri
thức rộng rãi” và “am hiểu tường tận” nền thơ cổ điển dân tộc, nhưng ông đồng
thời luôn biết cách gạt ra ngoài tác phẩm của mình những vết tích gò bó, khuôn
sáo của thơ cũ để đạt tới sự mới mẻ về cả”ý tưởng” lẫn “văn thể”. Đề cập đến
quá trình sáng tạo thơ, ông chỉ ra rằng: “Nhà thơ hay, hay bằng tư tưởng, bằng
tình cảm… Nhưng tất cả những cái hay đó phải hay thông qua cảm xúc, cảm
giác… Một thi sĩ có tư tưởng, tình cảm rồi thì phải chứng tỏ cái bản lĩnh của
mình trong xúc cảm, cảm giác, hình tượng…”. Đi sâu hơn về ngôn từ, bằng con
mắt sắc sảo của một nhà nghiên cứu cộng với độ nhạy cảm tuyệt vời tinh tế về
*


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status