27
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 68, 2010
ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ TỪ VỰNG Ở MỘT SỐ ĐỘNG TỪ CHỈ
HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG TIẾNG VIỆT
Nguyễn Thị Thu Hà
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức cơ bản thể hiện sự mở rộng ngữ nghĩa của từ và
có thể thấy đây là hiện tượng ngữ nghĩa phổ quát đối với mọi ngôn ngữ. Bài viết này sẽ xem xét
sự chuyển nghĩa theo hướng ẩn dụ và hoán dụ của một số động từ biểu thị hoạt động vật lí sang
biểu thị ho
ạt động tinh thần – nhận thức trong tiếng Việt. Qua đó, phần nào chúng tôi phác thảo
cách tri nhận và cách biểu đạt hoạt động nhận thức trừu tượng của người Việt bằng ngôn ngữ.
1. Đặt vấn đề
Hoạt động nhận thức là hoạt động bản chất và đặc thù của con người. Nhưng nó
hoàn toàn trừu tượng, diễn ra không có một dấu vết nào, nhờ phương tiện ngôn ngữ mà
được di chuyển ra bên ngoài. Chính ở đây, con người đã có nhu cầu gọi tên hoạt động
này bằng một số các động từ gọi chung là động từ nhận thức. Đó là những từ ngữ không
biểu thị hoạt động vật chất của thế giới cụ thể - hữu hình như xây, rơi, đóng, mở, kéo,
ngược lại, là những từ ngữ biểu thị hoạt động tinh thần của con người trong thế giới
trừu tượng - vô hình, song cũng không phải là thế giới của hoạt động tâm lí - tình cảm -
ý chí như yêu, ghét, nhớ, mong, muốn, toan, định, mà là những từ ngữ gọi tên các
hành động, các quá trình, các trạng thái tinh thần diễn ra trong bộ óc con người khi con
người nghĩ về thế giới và hiểu biết như thế nào đó về thế giới.
Với trường từ vựng biểu thị hoạt động nhận thức mà chúng ta đang xem xét, căn
cứ vào nguồn gốc ý nghĩa của các từ, ta có thể chia làm hai nhóm: nhóm từ ngữ có
nghĩa gốc và nhóm từ ngữ có nghĩa phái sinh.
trung vào sự hình thành động từ nhận thức từ con đường ẩn dụ và hoán dụ trong sự liên
hệ với quá trình thu hẹp và mở rộng ý nghĩa của từ.
2. Nội dung
2.1. Quá trình mở rộng, thu hẹp ý nghĩa
2.1.1. Quá trình mở rộng ý nghĩa
Mở rộng ý nghĩa là quá trình phát triển nghĩa của từ đi từ cái riêng đến cái chung,
từ cái cụ thể đến cái trừu tượng. Lúc này, tính khái quát của nghĩa tăng lên, phạm vi
biểu vật tăng lên, nét nghĩa cụ thể bị loại bỏ hay mờ nhạt đi.
Có thể kể
đến các từ phái sinh biểu thị hoạt động nhận thức như: hấp thu, hấp
thụ, tiêu hóa, mổ xẻ, nảy, lóe, mò mẫm, mở mang, mở mắt, nắm, nắm bắt, tỏ, thủng, lẫn,
lẫn lộn, quanh quẩn, luẩn quẩn, rối…
Tiêu hóa lúc đầu có nghĩa hẹp, chỉ quá trình biến thức ăn thành chất nuôi dưỡng
cơ thể người và động vật, sau đó mở rộng thêm phạm vi biểu vật, nó chỉ quá trình (con
người) biến kiến thức chung thành hiểu biết của riêng bản thân, cũng như quá trình tiêu
hóa, nó cần có thời gian thẩm thấu, đi theo các khâu, các giai đoạn xử lí, chuyển hóa
kiến thức nhất định.
Mổ xẻ vốn là động từ chỉ hoạt động mổ nói chung (do bác sĩ tiến hành) để chữa
bệnh. Đây là hoạt động hết sức ph
ức tạp, khó khăn, vì gắn liền với tính mạng con người
nên đòi hỏi phẫu thuật viên phải đầu tư công sức, sự tập trung chú ý, tính thận trọng, 29
kinh nghiệm và trình độ chuyên môn. Hướng mở rộng ngữ nghĩa đã cấp thêm cho hình
thức ngữ âm này ý nghĩa: phân tích tỉ mỉ, cặn kẽ, để hiểu thật thấu đáo (một điều gì
đấy). Tính chất tỉ mỉ, thận trọng, đòi hỏi sự đầu tư công sức của hoạt động gốc được giữ
lại trong nghĩa chuyển.
Tương tự, nảy với nghĩa gốc là hoạt động nhú ra (của chồi non, của hạt). Ví dụ:
hạt nảy mầm, đâm chồi nảy lộc. Thường khó thấy tính quá trình của hoạt động này
phép tính để biết, để thấy ra (nói khái quát), ví dụ: tính toán sổ sách, sau đó nghĩa gốc
này mở rộng sang nghĩa thứ hai: chỉ suy tính, cân nhắc trước khi làm việc gì (Làm việc
gì cũng nên tính toán cho cẩn thận!) nhưng từ nghĩa mở rộng này, tính toán lại thu hẹp 30
ý nghĩa vào nghĩa thứ ba: chỉ suy tính thiệt hơn cho cá nhân mình (hàm ý chê). Vậy nên,
khi xuất hiện thêm nét nghĩa đánh giá là chê, phạm vi biểu vật của tính toán bấy giờ bị
thu hẹp lại, không còn là suy tính, cân nhắc trước khi làm việc gì một cách chung chung
nữa mà được cụ thể hóa vào những suy tính, cân nhắc trước khi làm việc gì để có lợi
cho bản thân, vì bản thân. Ví dụ: Đó là một cuộc hôn nhân có tính toán hay Nó luôn
tính toán thiệt hơn.
2.2. Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ, hoán dụ
2.2.1. Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ
Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện
tượng được so sánh với nhau. Có nhiều kiểu giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng
được đem ra so sánh nên có nhiều kiểu ẩn dụ, tác giả Đỗ Hữu Châu phân chia ẩn dụ từ
vựng làm hai loại lớn là: “ẩn dụ cụ thể - cụ thể và cụ thể - trừu tượng” [1, tr.157]. Trong
hai kiểu ẩn dụ nói trên, chúng tôi nhận thấy, hiện tượng chuyển nghĩa theo kiểu ẩn dụ từ
cụ thể đến trừu tượng đặc trưng cho sự chuyển nghĩa của động từ nhận thức trong tiếng
Việt. Sở dĩ có hiện tượng này là bởi qui luật tiết kiệm của ngôn ngữ, thêm vào đó, hoạt
động nhận thức vốn trừu tượng lại đa dạng và phức tạp, mà ngôn ngữ luôn có nhu cầu
cụ thể hóa chúng để phần nào dễ hình dung, muốn vậy, phương thức khả quan nhất là
bắt đầu từ những hoạt động cụ thể với nghĩa gốc, sau đó chuyển nghĩa chúng theo
hướng trừu tượng, nghĩa cuối cùng thu được sẽ có tính trừu tượng nhưng nếu người sử
dụng có năng lực nhất định về ngôn ngữ, thì họ vẫn nhận thức và duy trì được mối liên hệ
ít nhiều với tính cụ thể của nghĩa gốc ngay cả khi nó đã được chuyển nghĩa.
Có thể kể đến những động từ nhận thức chuyển nghĩa theo hướng này:
vốn áp dụng cho những sự vật hết
sức cụ thể, có thể tri giác bằng mắt, sờ thấy bằng tay nhưng khi đi vào kết hợp vướng
mắc thì chúng đã có tính thành ngữ về nghĩa, biểu thị ý nghĩa: trạng thái tư tưởng, nhận
thức không thoải mái do có điều làm phải băn khoăn, phải suy nghĩ. Nghĩa của nó
không đơn giản là tổng số
nghĩa của vướng + mắc mà đã có sự chuyển đổi theo hướng
trừu tượng hóa.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, những động từ nhận thức chuyển nghĩa theo
hướng này - ẩn dụ tính - thường trùng với bộ phận từ ngữ nhận thức phái sinh theo
hướng mở rộng ý nghĩa. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì phần lớn các từ phái sinh theo
hướng mở rộng ý nghĩa bao giờ cũng dựa vào nghĩa ban đầu, nghĩa cơ sở (có tính cụ
thể) rồi sau đó mới thực hiện việc chuyển đổi, kết quả của sự chuyển đổi cho ra nghĩa
trừu tượng nhưng vẫn bảo đảm giữ lại ít nhiều nghĩa gốc, hoặc ít ra vẫn có sự liên hệ về
nghĩa với nghĩa gốc. Căn cứ cho sự chuyển đổi này là những điểm giống nhau giữa hai
quá trình, hai hành động (có khác chỉ là ở chỗ từ cụ thể đến trừu tượng) mà đây vốn
cũng là cơ sở cho sự chuyển nghĩa theo hướng ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng.
2.2.2. Chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ
Hoán dụ là hiện tượng chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tương cận giữa các sự vật,
hiện tượng, hoạt động. Có nhiều kiểu hoán dụ khác nhau: hoán dụ dựa trên mối quan hệ
giữa nguyên liệu và sản phẩm, vật chứa - vật bị chứa, toàn thể - bộ phận, bộ phận - toàn
thể, cơ quan - chức năng của cơ quan đó, tư thế - nguyên nhân của tư thế. Trong số 38
trường hợp hoán dụ chỉ hoạt động nhậ
n thức có chứa các yếu tố liên quan đến bộ phận
cơ thể (bộ phận hữu hình và trừu tượng) mà chúng tôi thống kê được thì nhóm từ
chuyển nghĩa để chỉ hoạt động nhận thức theo lối hoán dụ dựa trên mối quan hệ giữa cơ
quan - chức năng của cơ quan chiếm đa số: 35 từ /38 từ, trong khi đó kiểu hoán dụ dựa
vào quan hệ giữa tư th
ế và nguyên nhân của tư thế chỉ có 3 từ/38 từ.
* Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tư thế và nguyên nhân của tư thế
Đó là các từ: cắm đầu, bù đầu, vùi đầu.
ầm, nhận thức được sai lầm (mà trước đó chưa thấy do nhắm mắt) và nhiều
lúc, mở mắt nhưng mờ mắt thì nhận thức sự việc cũng dễ sai lầm, chỉ sáng mắt mới có
hi vọng nhìn ra bản chất của sự vật, sự việc.
Các yếu tố đầu, óc, não, bụng, ruột, lòng, trí, thần chỉ nơi chốn thể hi
ện của
hoạt động, của trạng thái nhưng là những nơi chốn đặc biệt. Nó được phân công chức
năng nhận thức. Cùng một bộ phận cơ thể hữu hình, có thể đảm nhiệm những chức năng
tâm lí khác nhau. Chẳng hạn, lòng hay tâm, hay dạ được coi là biểu trưng của thế giới
nội tâm con người, không kể là trạng thái tâm lí tình cảm (não lòng, hởi dạ, yên tâm)
hay hoạt động nhận thức (thuộc lòng, sáng dạ, chú tâm).
Theo quan niệm dân gian, bụng và dạ là nơi định vị hay chứa trí tuệ con người,
là cơ quan suy nghĩ như não hay óc vậy. Cho nên mới nói: nghĩ thầm trong bụng, định
bụng đi ngay. Như vậy, "theo lối nghĩ của ông cha ta thì mọi tri thức của con người đều 33
tích chứa trong bụng, vì vậy mới có chuyện nằm phơi bụng cho khỏi ẩm mốc các thiên
kinh sử(!)" [Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn].
Dạ cũng biểu trưng cho tư duy, song nếu bụng được dùng để nói về mặt ý nghĩ,
suy nghĩ, thì dạ biểu trưng cho khả năng nhận thức. Dễ hiểu vì sao chỉ có thể nói: nghĩ
bụng, nhẩm tính trong bụng mà không nói nghĩ
dạ, nhẩm tính trong dạ và ngược lại nói
sáng dạ mà không nói sáng bụng.
Ruột ngoài ý nghĩa biểu trưng quan hệ gia đình máu mủ còn được dùng để biểu
trưng cho trí nhớ: lú ruột, rối ruột.
Phạm vi hoạt động nhận thức với nét nghĩa chú ý đặt địa bàn hoạt động ở tâm
(tim): để tâm, chú tâm, lưu tâm.
Thần, theo Trần Ngọc Thêm, trong quan niệm của ph
ương Đông là yếu tố vô
hình, nhưng biểu hiện cho sự sống nói chung, vận hành trong cơ thể là thần tính, thần
điều đó được phản ánh vào ngôn ngữ với những biểu hiện khác nhau: vò đầu bứt tai,
đau đầu, đầu bã đậu, mệt óc, nghĩ nát óc, căng óc, nặn óc, động não, nhức não, đau
não - đây là cơ sở để người Việt tạo ra những đơn vị từ vựng biểu thị hoạt động nhận thức
theo lối hoán dụ.
Nếu động từ nhận thức được hình thành theo phương thức hoán dụ chỉ nơi thực
hiện, nơi xuất phát của hoạt động nhận thức, phản ánh cách nhìn "thơ ngây" có tính dân
tộc thì phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ lại cho thấy năng lực cụ thể hóa của con người
trong việc sáng tạo ngôn ngữ mà ở đây là năng lực gọi tên cho hoạt động nhận thức -
hoạt động tưởng như quá ư trừu tượng và phức tạp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội,
1996.
[2]. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998.
[3]. Nguyễn Thị Qui, Vị từ hành động tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995.
[4]. Shanor Karen Nesbitt, Trí tuệ nổi trội, Những phát hiện mới về nhận thứ
c, Nxb. Tri
thức, Hà Nội, 2007.
[5]. Nguyễn Đức Tồn, Tìm hiểu đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở
người Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002.
[6]. Lý Toàn Thắng, Ngôn ngữ học tri nhận. Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt,
Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005.
LEXICAL METAPHOR AND METONYMY
IN THE CASE OF CERTAIN VIETNAMESE MENTAL VERBS
Nguyen Thi Thu Ha
College of Sciences, Hue University
SUMMARY
Metaphor and metonymy are two basic ways to indicate word extension meanings and it
can be said that these are univesal semantic situations for all languages. This article examines
the semantic changes in verbs from the physical to mental thought actions based on metaphor