Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tìm hiểu một số kiểu câu liên quan đến tồn tại trong tiếng Việt - từ góc độ
ngữ nghĩa và ngữ dụng
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đối tượng nghiên cứu, lý do chọn đề tài
Từ lâu, các nhà Việt ngữ học trong và ngoài nước đã chú ý tới những kiểu
câu kiểu sau đây trong tiếng việt.
(1). Trên bàn có một lọ hoa.
(2). Dưới suối nhởn nhơ bơi những con cá bạc.
(3). Từ đằng xa, tiến lại một người con gái.
(4). Trên xe, chễm chệ ngồi một người to béo.
(5). Ngã bố, con! Cháy rừng U Minh Thượng rôi!
(6). Đông người quá! Nhiều muỗi ghê!…
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong bản khoá luận này là một số
kiểu câu nằm trong phạm vi đó. Cụ thể là, chúng tôi sẽ khảo sát bốn kiểu câu sau
đây, tồn tại với tính cách là những câu tách biệt, hoạt động trong các văn bản
trong giao tiếp.
Nhóm thứ nhất là những câu đã được thừa nhận là những câu tồn tại điển
hình, mà mô hình phổ biến nhất là: thành phần chỉ vị trí không gian + vị từ tồn
tại “có”+ phần danh chỉ đối tượng tồn tại.
Ví dụ:
Ngày xưa, ở làng nọ có một quả núi cao.
Trên núi có một cái hang
Trước cửa hang có một tảng đá hình con thỏ.
[Thỏ ngọc, NXB Kim Đồng, 1982]
Nhóm thứ hai là những câu có mô hình: thành phần có ý nghĩa không gian
có giới từ: Từ + cụm vị từ (liên quan tới sự vận động hoặc hàm ẩn sự vận động
trong không gian theo một cách nào đó, sự thay đổi vị trí theo một hướng nhất
định) + phần danh.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ngữ dụng và vai trò chung của cấu trúc. Đây đó, cũng đã có những bài báo đề
cập tới vấn đề theo hướng đó,chẳng hạn,bài viết của Lý Toàn Thắng. Song chủ
yếu vẫn là tổng kết để gợi mở một vấn đề, trên góc độ ngôn ngữ học đại cương.
Do vậy, thực ra các nhân tố nghĩa và ngữ dụng, đặc biệt là ngữ dụng vẫn chưa
thể có điều kiện để chú ý tới một cách tương đối hệ thống. Các hiện tượng vẫn
được xem xét trên cơ sở được quy vào một mô hình câu chung.
Trong khoá luận này, chúng tôi chủ trương tách ra một số nhóm câu để
phân tích. Cách làm đó là có định hướng và có lý do của nó.
Thứ nhất, phạm vi những câu tượng tự và biểu hiện của chúng khá đa
dạng, mặc dù, ở cấp độ cấu trúc hình thức trừu tượng nhất đều có chung một mô
hình.Theo đó, phần vị từ đứng trước, phần danh đi sau, mà Lý Toàn Thắng gọi
là những câu “P - N”.
Nếu tính đến những đặc trưng cấu tạo, ngữ nghĩa vầ ngữ dụng cụ thể hơn
và theo những tinh thần miêu tả các đơn vị thường được gọi là những cấu trúc,
theo cách hiểu gần đây trong ngôn ngữ học, thì cần phải tiếp tục chia nhỏ hơn
thành các kiểu câu để xem xét. Việc tìm hiểu diện mạo đầy đủ của các hiện
tượng như vậy vượt quá khả năng, trình độ và điều kiện thời gian của chúng
tôi.Vì vậy, cách tốt nhất là khoanh lại một vùng cụ thể để làm việc. Những kết
quả thu được là một bước góp phần vào việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề, tổng
hợp toàn bộ vấn đề.
Thứ hai, việc khoanh lại vấn đề như vậy,cho phép chúng tôi đi vào xem
xét sâu hơn, kỹ hơn những khía cạnh cụ thể nhưng đáng được lưu ý mà khi xem
xét trên góc độ chung hơn thường không để ý tới. Bản chất của hiện tượng nhiều
khi lại được bộc lộ ra qua các khía cạnh như thế, sự xem xét tỷ mỷ hơn kiểu như
thế.
Thứ ba, những nhóm câu mà chúng tôi lựa chọn xem xét vừa bao gồm
những câu tồn tại điển hình, vừa bao gồm những kiểu câu trung gian tập trung
tương đối rõ sự đa dạng, chưa thống nhất về ý kiến. Điều đó, đã tạo điều kiện
tích ngữ cảnh. Chúng tôi đặt các kiểu câu đó vào mối quan hệ với những câu đi
trước hay sau nó. Tức quan sát, phân tích nó trong ngữ cảnh rộng vượt ra ngoài
khuôn khổ phát ngôn hẹp hoặc tính tới các nhân tố khác nhau tác động tới sự
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hoạt động của phát ngôn như các thủ pháp thực nghiệm trong phân tích ngữ
cảnh: mở rộng ngữ cảnh; thay thế thêm bớt các yếu tố v.v. sẽ được sử dụng kèm
theo trong quá trình phân tích.
Ngoài việc sử dụng các phương pháp phân tích trên, trong khoá luận này
chúng tôi cũng tiến hành sử dụng các phương pháp xây dựng mô hình nguyên
mẫu, phương pháp so sánh đối chiếu (cụ thể ở đây là so sánh các kiểu câu với
câu tồn tại nguyên mẫu, và so sánh mức độ tồn tại giữa các kiểu câu với nhau… ).
Trong bài khoá luận này, chúng tôi cũng sử dụng một vài ký hiệu thường
dùng trong ngôn ngữ học, được qui ước như sau:
Dấu sao đi kèm các ví dụ:
(*) Ví dụ bất thường.
(**) Ví dụ trích dẫn theo nguồn tư liệu của thầy giáo hướng dẫn.
Dấu (?) đặt trước các ví dụ:
(?): ví dụ đáng hoài nghi.
(??): Ví dụ rất đáng hoài nghi
4. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khoá luận gồm hai chương với
những nội dung chính sau:
Chương I: Mối quan hệ của các kiểu câu được xét với đặc tính tồn tại và
câu tồn tại điển hình (nguyên mẫu).
Nhiệm vụ của chương này là tổng kết một số quan niệm xung quanh vấn
đề về câu tồn tại, đưa ra quan niệm về câu tồn tại nguyên mẫu. Từ đó đối chiếu,
so sánh với các đặc điểm của các kiểu câu được xét trong khoá luận về đặc tính
“tồn tại” của chúng. Cuối cùng đưa ra bảng tổng kết về mức độ gần xa các kiểu
câu so với mô hình nguyên mẫu.
các kiểu câu này và câu tồn tại điển hình trên các mặt, đặc biêt là các khía cạnh:
đặc tính của các thành phần tham gia vào cấu trúc (vị từ, thông tin ngữ nghĩa cảu
vị từ; đặc trưng chung nhất của câu, khả năng dẫn nhập đối tượng vào thế giới
diễn ngôn… ). Chính qua đó, cho chúng ta thấy mức độ gần xa của các kiểu câu
này với câu tồn tại điển hình.
2. Ý niệm về tồn tại và sự phản ánh của nó vào ngôn ngữ
Như ta đã biết, ý niệm về sự tồn tại của đối tượng và sự phản ánh của nó
vào ngôn ngữ là một vấn đề đã được quan tâm tới từ lâu cả trong logic-triết học
lẫn trong ngôn ngữ học. Sở dĩ như vậy là do ý nghĩa đặc biệt của nó, do mối
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quan hệ đa dạng của nó với hàng loạt sự kiện ngôn ngữ. Chẳng hạn sơ bộ có thể
nhắc tới các hiện tượng ngôn ngữ sau đây liên quan chặt chẽ với ý niệm về sự
tồn tại của sự vật trong thế giới.
a) Tồn tại, trước hết liên quan đến các biểu thức quy chiếu, bởi vì, để nói
một điều gì đó về đối tượng, để sử dụng những biểu thức chỉ ra đối tượng, người
ta phải coi sự tồn tại của đối tượng đó như là một tiền đề có trước của thông báo.
Thuật ngữ “quy chiếu” (reference) được các nhà ngôn ngữ học dùng để
chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ với các sự vật, biến cố hành động
và tính chất chúng thay thế. Quy chiếu cũng là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan
hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp với diễn ngôn. “Sự quy chiếu nhất thiết phải dựa
trên tiền đề về sự “tồn tại” phát sinh từ những kinh nghiệm trực tiếp của ta về
các đối tượng trong thế giới vật chất. Nói rằng một từ cụ thể ( hay một đơn vị
khác có nghĩa ) “quy chiếu một đối tượng ” túc là nói rằng cái quy chiếu của nó
là một đối tương “ tồn tại ” ( có thực ) theo từ một nghĩa như khi ta nói rằng
những con người, động vật và đồ vật cụ thể “ tồn tại ”, và cũng nói rằng trên
nguyên tắc có thể đưa ra một miêu tả về các đặc tính vật chất của các đối tượng
đang xét ”. [ JOHNLYONS, nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết, NXB GD,
1996,tr 667].
Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn ( Dụng học Việt ngữ) cũng “coi khái niệm
vua nước Pháp hói trán ). Trong đó có một mệnh đề tồn tại lại không được giới
nghiên cứu đồng tình. Cũng như vậy, điều lưu ý ở đây góp phần giải thích vì sao
khó có thể phủ nhận những câu có phần đề không xác định trong tiếng Việt bằng
cách coi những câu như vậy là sự hội nhập của hai câu. Trong đó, có một câu là
câu tồn tại.
3. Vài nét về tình hình nghiên cứu, những vấn đề và hệ luận
Câu tồn tại, trong các tài liệu nghiên cứu khác nhau, thường được định
nghĩa như là kiểu câu xác nhận (phủ nhận) sự tồn tại của người, vật, dối tượng
(kẻ tồn tại) trong một phạm vi nào đó. Vấn đề tưởng như đơn giản và hoàn toàn
sáng rõ. Tuy nhiên, khi đi vào xử lý các sự kiện ngôn ngữ cụ thể thì tình hình lộ
ra lại hết sức phức tạp. Trên cơ sở những hiểu biết và tham khảo còn rất hạn chế
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
của chúng tôi, cũng có thể nhận thấy những nét cơ bản, đáng lưu ý sẽ được trình
bày lần lựot dưới đây.
- Thứ nhất, giữa các tác giả khác nhau, kì thực không có một quan niệm
hoàn toàn thống nhất về câu tồn tại. Kết quả là, đi theo hướng quan niệm rộng,
sẽ có nội dung quan niệm ít nhiều khác biệt với quan niệm hẹp, chú ý nhiều đến
chức năng mà một kiểu câu có thể thực hiện được trong bối cảnh cụ thể thì kết
quả sẽ khác so với khi xem xét vấn đề trong một tổng thể và có sự phân biệt
giữa cái có trong ngữ cảnh, với cái như là đặc tính ngữ nghĩa chức năng ổn định
của kiểu câu, quy định vị trí của kiểu câu ấy trong ngôn ngữ. Xem xét tất cả các
câu trong một mô hình cú pháp hình thức trừu tượng sẽ khác với việc nghiên
cưú các câu cần xem xét trong những mô hình riêng.
Theo một quan niệm rộng nhất có thể thấy ở nhiều nhà nghiên cứu thì
khuôn hình chuyên dụng của câu tồn tại là :
Thể từ vị trí + vị từ + thể từ
Vị từ trong câu tồn tại có thể là :
Các từ chuyên dụng biểu thị ý nghĩa tồn tại như : có, còn …
Các từ chỉ lượng : nhiều, ít, đông, đầy …
lại loại nó ra khỏi phạm vi đó.
Còn những kiểu câu khác như :
Đừng nghịch ! Cháy nhà giờ
Rách áo tao!
Chạy hết cá của tao giờ !
Ngã bố, con !
Được Panfilov xếp vào phạm vi câu tồn tại và nếu xét trong mối quan hệ
của nó với các câu kiểu như:
Nhà cháy
Aó tao rách
Bố ngã
Thì chúng ta sẽ có một phép cải biến tồn tại. Điều đó có nghĩa là : những
câu như: nhà cháy, áo tao rách được xem như là những câu gốc từ đó sản sinh ra
những câu có trật tự đảo tương ứng, còn những câu có trật tự đảo tương ứng là
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
kết quả của một phép cải biến, gọi là phép đảo –tồn tại. Có thể hình dung qua sơ
đồ sau:
Nhà cháy đảo trí tồn tại Cháy nhà.
[ DT: Lê Đông, ghi chép về những vấn đề ngữ nghĩa –cú pháp, tr:15]
Trong khi đó, Nguyễn Tài Cẩn và các đồng tác giả lại xem những câu như
vậy là loại câu cảm thán có mô hình trật tự đảo. Các tác giả này viết :
“trật tự đảo có thể có ở một kiểu câu cảm thán. Kiểu câu này thường có ý
nghĩa ngăn chặn hay đánh giá : rách áo, ngã bố, bẩn vở… ”
[DT: Lê Đông, ghi chép về những vấn đề ngữ nghĩa – cú pháp,tr:17]
- Cuối cùng, có một tình hình cũng không thể không lưu ý đến là các tiêu
chuẩn sắp xếp, xây dựng mô hình và đi đến liền theo đó là nội dung quan niệm,
cấp độ xem xét ở các tác giả cũng khác nhau.
Lý Toàn Thắng xem xét các kiểu câu đang quan tâm ở đây xuất phát từ
mô hình chung, khái quát hai thành phần mà ông gọi là kiểu câu “P-N” trong
riêng, những kiểu câu khác liên đới cũng được táh thành những kiểu khác nhau
và trong nội dung quan niệm của tác giả, không bao hàm yếu tố ngữ nghĩa cách
thức tồn tại. Theo ông, “câu tồn tại khẳng định sự tồn tại của vật thể và sử dụng
khi vật thể lần đầu xuất hiện trong văn bản.[…]’’ việc “ cải biến để chứng minh
rằng đây (tức những kiểu câu gần gũi đã được nhắc tới trong khoá luận này của
chúng tôi –chúng tôi chú thêm ) là những biến thể của một kiểu câu như một số
người làm là sai lầm về phương pháp ”. Tuy nhiên, trong khi tách riêng ra nhiều
kiểu câu riêng biệt và xem xét nó trong mối quan hệ với câu tồn tại, chính tác
giả cũng dựa vào các hiện tượng tỉnh lược cấu trúc hay khả năng đảo (tức là
những hiện tượng liên quan đến cải biên ) nhiều hơn là xem xét các khía cạnh
khác.
[x: Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết văn bản tiếng
Việt,nxbgd,2000,tr:55-63]
- Tình hình đã phân tích trên đây, dẫn chúng tôi đi tới các kết luận
sau:
a) Trong ngôn ngữ, câu tồn tại là một hiện tượng phức tạp do sự tác động
của nhiều nhân tố, đặc biệt là vai trò của ngữ cảnh và sự chuyển hoá chức năng
giữa các kiểu câu trong hoạt động. Từ đó dẫn đến chỗ, tùy theo góc độ quan
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tâm, tùy theo tình huống sử dụng mà chức năng biểu thị sự tồn tại có thể được
biểu hiện bằng những phương tiện khác nhau.
Cho nên nếu ta đi từ nội dung đế hình thức,đến khả năng biểu hiện trong
sử dụng ngôn ngữ thì bức tranh sẽ khác so với khi xem xét vấn đề trên nhiều
bình diện đồng thời.
b) Chính vì vậy, nhiều tác giả đã nhận thấy có những trường hợp thực thụ
là câu tồn tại mang những đặc trưng điển hình của câu tồn tại. Nói khác đi,
chúng đã được ngữ pháp hoá cao. Đặc tính tồn tại của chúng độc lập với ngữ
cảnh chứ không phải là khả năng có trong những điều kiện ngữ cảnh nhất định.
Mặt khác, có những câu là đương lượng của tồn tại, mang tính tồn tại ở một
thuộc một kiểu nào đó, có thể quy định những đặc điểm nghĩa của vị từ. Nó đòi
hỏi và chế định một giới hạn. Theo đó, chỉ những vị từ nhất định, đảm bảo thích
ứng với việc hình thành ngữ nghĩa - ngữ dụng của cấu trúc mới có thể xuất hiện
trong cấu trúc. Nghĩa là, không phải lúc nào cũng có thể coi vị từ là trung tâm
hiểu theo nghĩa hẹp. Mà trong nhiều trường hợp, chính cấu trúc với nhiệm vụ
giao tiếp nhận thức của nó, quy định trở lại các vị từ. Mặt khác mặt ngữ nghĩa –
ngữ dụng của cấu trúc không thể là phép cộng giản đơn các thành tố trong đó.
(2) Tham gia vào việc hình thành cấu trúc cú pháp như như một chỉnh thể,
không phải chỉ có những mô hình hình thức khái quát, còn phải tính tới các dấu
hiệu ngữ nghĩa khác, các thành phần phụ, các hư từ, trật tự từ … Từ đó có thể
thấy, nhiều yếu trong cấu trúc câu trước đây có thể ít được chú ý tới thì nay, phải
được tính tới như một thành tố quan yếu, một bộ phận gắn liền hữu cơ với kiểu
câu.
(3) Từ đó, một bình diện không thể thiếu trong cấu trúc ngữ pháp là kiểu
mô hình ngữ nghĩa mà nó phản ánh. Sự phân bố các thông tin về nghĩa gắn với
những kiểu chức năng ngữ dụng đặc thù thường gặp.
Chính sự thống nhất của các nhân tố đó đảm bảo cho kiểu cấu trúc là sự
mã hoá, quan niệm hoá những mô hình tri nhận hoàn cảnh – và giao tiếp - ngữ
dụng với con người làm trung tâm.
Archiunova trong khi nghiên cứu những câu gắn với phạm trù so sánh
trong tiếng Nga, đã tách ra được bảy kiểu câu. Trong đó, tham gia vào cấu trúc,
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phải làm thành tố hữu cơ của nó, không chỉ là vị từ, và các tham tố, mà còn có
cả các tiểu từ tình thái : euse, gahce, bcehce, các liên từ a, ho…
[theo Lê Đông, ghi chép về những vấn đề ngữ nghĩa – cú pháp, tr 22]
4.2. Vài nét về quan niệm nguyên mẫu và phân tích nguyên mẫu
4.2.1. Khái niệm nguyên mẫu
- Trước hết, nguyên mẫu là một khái niệm trung tâm của phạm trù hoá.
Các phạm trù được xác định bởi những thuộc tính có ở các đối tượng mang tính
There is a book on the table.
There is a vase of flovers on the table.
Là những câu tồn tại điển hình, được tất cả các nhà nghiên cứu nói tới và
nhắc tới đầu tiên, đôi khi là chỉ nhắc tới các kiểu câu như vậy mà thôi khi họ bàn
về câu tồn tại. Trong tiếng Việt, đặc tính tồn tại của những câu vừa nhắc tới
không bị phụ thuộc vào ngữ cảnh cụ thể. Dù tách chúng khỏi ngữ cảnh, đặc tính
nghĩa đó vẫn giữ nguyên. Thêm nữa, đó cũng là cách diễn đạt về tồn tại phổ biến
và tự nhiên nhất trong các phạm vi giao tiếp khác nhau. Vậy đặc trưng quan yếu,
điển hình của chúng là gì ? Theo chúng tôi những đặc trưng quan yếu của chúng
có thể là những đặc trưng chung nhất điển hình nhất như sau:
a. Câu tồn tại điển hình chứa vị từ tồn tại điển hình. Thông tin ngữ nghĩa
của vị từ tồn tại điển hình không có gí khác ngoài việc biểu hịên trạng thái tồn
tại, ý niệm về sự tồn tại một cách chung nhất, thuần tuý nhất. Những đặc trưng
về cách thức, hình thức diễn tiến, về đánh giá có ở một số vị từ không phải là
đặc điểm của vị từ tồn tại thuần khiết. Ta thấy trong tiếng Việt, “ có “ chính là
một vị từ tồn tại điển hình như thế. Trong thông tin ngữ nghĩa mà nó truyền tải ở
kiểu câu trên, không có gì khác hơn là trạng thái tồn tại. Có thể so sánh một vài
định nghĩa lấy từ “ Từ điển từng giải “ do Hoàng Phê chủ biên như sau :
1.Có : Động từ, từ biểu thị trạng thái tồn tại nói chung.
2.Còn : Tiếp tục tồn tại, tiếp tục có không phải đã biết hoặc đã mất đi.
3.Tồn tại : ở trạng thái có thật, con người có thể nhận biết bằng giác quan.
4.Xuất hiện : Hiện ra, nảy sinh ra, hình thành ra.
Cũng cần nói rằng, vị từ tồn tại là hạt nhân của các câu tồn tại. Đó không
phải là một tác tử lượng hoá sự tồn tại, không phải là một lượng từ ( kiểu : một,
một vài, một số…). Vấn đề là ở chỗ, như đã nói ở trên, đặc tính tồn tại gắn với
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hàng loạt các sự kiện ngôn ngữ khác nhau đặc biệt là ở các lượng từ tồn tại,
không xác định kiểu như :
(1)Một người phụ nữ bước vào.
bản, các câu tồn tại có một tầm quan trọng đặc biệt. Chúng dùng để đưa đối
tượng mới vào văn bản. Đối tượng đó như đã nói ở các đặc trưng trên, được xem
như là cái chưa biết trong thế giới nhận thức của người tham gia giao tiếp. Và tự
bản thân câu tồn tại đã nói lên tính dẫn nhập đối tượng vào phạm vi chú ý, để
luận bàn về nó.
Trần Ngọc Thêm đã nhận xét rất đúng rằng: Câu tồn tại có vị trí ở đầ văn
bản thì nó làm nhiệm vụ đưa đối tượng, dẫn dắt đối tượng chính, nhân vật chính
vào văn bản.
Ví dụ: Ngày xưa có một người trẻ tuổi tên là Mai An Tiêm. Chàng là người
ở một nước đâu tận vùng biển phía nam…
(Nguyễn Đổng Chi, Sự tích dưa hấu, KTCTVN,tập I)
Còn khi câu tồn tại xuất hiện ở đầu đoạn văn thì nó làm nhiệm vụ dẫn
nhập những đối tượng phụ vào văn bản.
Ví dụ: Ở đầu xóm nhà Keng có cô Ngọ. Ngọ đang tuổi dậy thì béo khoẻ lại
khéo giữ nước da.
(Nguyễn Kiên , Anh Keng)
[x:Trần Ngọc Thêm,Hệ thống liên kết văn bản bằng tiếng Việt,tr:56]
e. Đặc trưng thứ năm, Câu tồn tại điển hình xác nhận sự tồn tại của đối
tượng trong một phạm vi không gian nhất định. Do đó nó gắn liền với vị trí
không gian, vị trí không gian là bộ phận hữu cơ của câu.
Về đặc điểm này John Lyon đã nhận xét, trong tiếng Anh: động từ tồn
tại…hiếm thấy khi không có bổ ngữ không gian hay thời gian. Sự xác nhận một
vật đang hay đã tồn tại cần được bổ túc bằng một biểu đạt định vị. Sự liên hệ
giữa kết cấu tồn tại và kết cấu định vị được bảo vệ bằng việc sử dụng cái mà
thoạt đầu là trạng ngữ định vị.
[DT:Lê Đông, ghi chép về những vấn đề ngữ nghĩa –cú pháp,tr30]
Bàn thêm về vấn đề này Diệp Quang Ban cũng đã nhận xét như sau:”từ
trước đến nay, ít người để ý đến việc phân biệt yếu tố ngôn ngữ chỉ vị rí không
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ý nghĩa chung
của câu tồn tại
Chức năng tổ
chức diễn ngôn
Đặc trưng của đối
tượng tồn tại và vị
trí tồn tại
+ Trung tâm cấu
trúc là vị từ tồn
tại điển hình
+ Thông tin
nghĩa vị từ chỉ
thuần tuý là sự
tồn tại,…
+ Xác nhận / phủ
nhận tồn tại là
trọng tâm thông
báo, thông báo
chính thức
+ Đối tượng là
cái chưa biết
chưa có trong
nhận thức, cái
cần được xác
nhận
+ Dẫn nhập đối
tượng vào thế
giới diễn ngôn,
lần đầu tiên đưa
đối tượng vào
chỗ dựa nào đó trên cao so với vùng không gian thấp hơn. “Tiến” là vận động
theo hướng tiếp cận, áp gần một vị trí hay đích không gian nào đó…
Do đó, cái thuộc tính tồn tại, nếu có, ở những kiểu câu này không phải là
do cái ý nghĩa ngôn ngữ hiển nhiên vốn có ở vị từ hạt nhân mà là một hệ quả
ngữ nghĩa chung của toàn cấu trúc gắn với những điều kiện , những hoàn cảnh
dùng nhất định…Điều này cũng sẽ ảnh hưởng quan trọng tới cách thức, phạm
vi, định hướng..tri nhận thế giới của người nói, và các nhân tố khác nữa ta sẽ nói
tới ssau.
- Thứ hai, điểm khác biệt lớn thứ hai cần được đưa ra xem xét ở đây là:
Trong các kiểu câu đang xét, chỉ có những câu kiểu như:
Từ đằng xa tiến lại một người con gái.
Dưới suối lững lờ mấy con cá nhỏ.
…..
Là thường gắn với một phạm vi người, vật không xác định và có thể được
dùng như là câu có tác dụng đưa đối tượng vào văn bản. Song vai trò hiển ngôn
của người –vật được được nói tới, không phải là kẻ tồn tại, kẻ ở trạng thái tồn tại
mà là những vai nghĩa khác. Chẳng hạn, chủ thể của hành động (tiến lại…cô
gái), đối tượng ở vào tư thế hay vị thế (treo: bức tranh, một người :ngồi chễm
chệ)v.v.Những câu kiểu như: Ngã bố,con! Cháy nhà! Bay mất con chim hoạ mi
của tao rồi! Thì không những không dẫn nhập đối tượng mới nào mà cũng
không đòi hỏi gắn với đối tượng không xác định, các đối tượng được nói đến ở
đây cũng không phải là kẻ mang trạng trạng thái tồn tại, mà là người, vật ở vào
trạng thái, quá trình, biến cố hoàn toàn khác.
- Thứ ba, điểm khác biệt thứ ba cần nói tới ở đây đó là cái phạm vi không
gian trong các kiểu câu được xét trong khóa luận.
Trong một số kiểu câu được xét cũng có mối liên hệ rất rõ với cảnh huống
không gian.Nhưng mối liên hệ đó đã có phần khác biệt so với câu tồn tại nguyên
mẫu.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Thứ tư, một nét khác biệt nữa cần đề cập tới ở đây dó là mục đích thông
báo chính thức của các kiểu câu được xét.
Mục đích thông báo chính thức của các kiểu câu được xét đến trong mục
này không phải là xác nhận sự tồn tại của đối tượng như các câu tồn tại điển
hình.Vấn đề là ở chỗ, ở những kiểu câu khác nhau thì thông tin nằm trong mục
đích thông báo chính thức cũng có những mối quan hệ ít nhiều khác nhau đối
với những thông tin đã nằm trong tiền giả định hoặc có thể coi là đã lui vào hậu
trường ở những mức độ khác nhau.
Con người khi thực hiện một hành động phát ngôn, phát ra một phát ngôn
trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, thường xuất phát từ một số thông tin có trước
làm tiền đề của thông báo hoặc giản đơn được anh ta trình diễn như, coi như là
tiền đề có trước, không phải là cái trực tiếp quan tâm, trực tiếp khẳng định trong
phát ngôn. Hiển nhiên nhất, dễ thấy nhất là những kiểu câu như:
Ngã bố, con !
Rơi rau, kìa!
Chạy mất cá của tao giờ !
Ở đây, các đối tượng-chủ thể của hành động như: người bố, bó rau, cá của
tao…được thừa nhận là đã tồn tại từ trước đó. Người nói-người nghe dường như
đã ngầm hiểu, thừa nhận sự tồn tại của đối tượng đó rồi.
Cho nên nếu xét về phương diện vị từ tồn tại thì nó là kiểu câu khác xa so
với những câu tồn tại nguyên mẫu.
Còn những kiểu câu như:
Từ đằng xa tiến lại một người con gái.
Trên tường treo một bức tranh.
Vẳng lên tiéng la hét của đám lính nguỵ trang trúng đạn bị thương.
Thì tình hình có phần phức tạp hơn. Bởi lẽ những vị từ trong những câu
trên đều không phải là vị từ tồn tại nhưng ít nhiều chúng đều mang nét nghĩa tồn
tại. Chúngcũng có thể được dùng để dẫn dắt đối tượng vào thês giới luận bàn.
Ví dụ:
Ở đây có muỗi ! nhiều muỗi lắm !
Chợ thì lúc nào chả có người, nhưng hôm nay đông người lắm !
25