ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HOC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG THÁI THU HƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỘT s ố ĐẶC ĐIỂM th i p h á p
CỦA CẤU TRÚC LÁY ĐÔI TIẾNG VIỆT
THỂ HIỆN QUA CÁC ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM
Ở PHỤ ÂM ĐẦU VÀ THANH ĐIỆU
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên Iĩ°ành: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 5.04.08
Người hướng dẫn khoa học:
PTS. HOÀNG CAO CƯƠNG
HÀ NỘI 1998
MỤC LỤC
■ ■
Trang
Mở đầu
.
2
Phần thứ nhất. Cơ sở phân loại
9
Chương I. Cấu trúc từ song tiết tiếng Việt
10
Chương II. Cơ sở dữ liệu và phân loại
14
Phần thứ hai. Tính quy luật của trật tự sáp xếp ngữ âm trong
một cấu trúc láy đôi (chứng cứ từ thanh điệu và phụ àm đầu) 17
(Nguyễn Kim Thản 1963), Đỗ Hữu Châu (Đỗ Hữu Châu 1962), Nguyễn
Tài Cẩn (Nguyễn Tài cẩn, 1975), Nguyễn Thiện Giáp (Nguyễn Thiện
Giáp, 1966), Đoàn Thiện Thuật (Đoàn Thiện Thuật, 1977), Hổ Lê (Hồ
Lê, 1976), Hoàng Văn Hành (Hoàng Văn Hành, 1985) cũng đã có
những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.
Vốn từ này không những được sử dụng rất nhiều trong đời sống
hàng ngày mà ngay trong thi ca cũng được khai thác khá triệt để (Tô
Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Duy ).
Với một đối tượng có nhiều nét đặc thù như vậy thì việc luôn xuất
hiện những kết quả mới trong khảo sát là một điều đương nhiên. Theo ý
nghĩa này, luận án của chúng tôi xin được tiếp tục bàn về các quan hệ
ngữ âm vốn được tồn tại trong vốn từ này. Theo GS. Nguyễn Tài cẩn
vốn từ này có tên sọi riêng là láy đôi: "Láy đôi là biểu hiện của loại từ
3
ghép mà các :hành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu là theo
quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ: các thành tố
trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu đoạn
tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính
giữa vần và âm cuối vần)" (Nguyễn Tài cẩn 1978, tr. 107 - 111). Trung
thành với quan niệm nàv, chúng tôi sẽ tiến hành phân loại và khảo sát
vốn từ láy đổi. Tuy nhiên, trong một vài ý tưởng quan trọng, chúng tôi
có tiếp ihu thêm những kết quả mới của các tác giả khác. Những ý tưởng
đó thường rơi vào trong nhữns trường hợp để giải thích hoặc khi thấy
thật cần thiết.
Cơ sở thứ hai cũng rất quan trọng được coi là những tri thức có tính
chất ngôn ngữ học đại cương được cập nhật từ các thành tựu gần đây
nhất của ngôn ngữ học cuối thế kỷ X X mà cụ thể là các thành tựu về "âm
vị học giải thích" (P. Kiparsky 1983, T. Gamkrelidze 1978, L. Hyman
1975 ) và "ngôn ngữ học thi pháp" (R. Jakobson 1960,1. Levý 1971 ).
Sự kết hợp giữa Việt ngữ học cùng các tư tưởng ngôn ngữ học hiện đại
biểu hiện của quy luật chung của thế giới về cái đẹp: sự đối xứng, tính
cân bằng, sự hài hoà và những kiểu trật tự "đẹp" (R. Jakobson, 1963).
5
3. TÍNH ĐÁNH DAU v à k h ô n g đ á n h d ấ u
N. Trubetzkoy (N. Trubetzkov 1939) trong cuốn sách của mình về
cơ sở âm vị học đã nói đến tính đánh dấu và khônơ đánh dấu âm vị học
của các nét khu biêt. Ôn£ cho rằns, bàn đến vấn đề này thưc chất là dưa
trên mối tương quan giữa cái "khó" và "dễ" trong nội dung âm vị học
của các nét khu biệt nằm trong một đối lập được gọi là đối lập có/khôns.
Điều này được thể hiện rõ nhất khi trong ngổn ngữ xuất hiện hiện tượng
trung hoà hoá âm vị học. Tuy nhiên, lv thuyết này vẫn mang tính định
tính hơn định lượng và người ta cũng khó xác định được nét khu biệt nào
trong một ngôn ngữ là bị đánh dấu và ngược lại.
Vào nhữns năm cuối 60, với tác phẩm "Mô hình âm thanh tiếng
Anh",.N. Chomsky và M. Halle đã đưa khái niệm đánh dấu và không
đánh dấu vào nội dung của một nét khu biệt. Những thành tựu xã hội
cùng với cách nhìn mở rộng có tính liên ngành đã cấp cho âm vị học sản
sinh một hướng tiếp cận mới: nét đánh dấu và không đánh dấu không chỉ
dừns lại ở nét khó và dễ mà còn được định lượng hoá. Tiếp cận này cho
phép có thể khách quan hoá được trong khi nghiên cứu những tương tác
giữa các nét khu biệt vốn tồn tại trong các cấu trúc ở bậc cao hơn. Như
vậy, nếu ở chức năng người ta chú trọng đến thi tính như là một biểu
hiện của chất liệu thì ở cấu trúc người ta sẽ nói về tính tự nhiên hay
không tự nhiên của chính chất liệu đó. Sự nối kết giữa tính tự nhiên của
lời nói và cái đẹp trong chính bản thân nó sẽ được bộc lộ ra qua sự sắp
xếp các nét khu biệt có bản chất tự nhiên hay khồng tự nhiên. Sự sắp xếp
đó có thể được hiểu qua trục liên tưởng hay theo trục cú đoạn. Tính tự
nhiên đồng nhất với cái đẹp qua sự phân tích về bản chất đánh dấu và
không đánh dấu của một hiện tượng.
6
ngữ học, phin loại và mồ tả các đặc điểm ngữ âm về cấu trúc từ theo các
kiến thức nsôn ngữ học hiện đại và tất nhiên là theo khuynh hướns Thi
pháp học của trường phái Praha. Trên cơ sở những kiến thức về ngữ pháp
và từ vựns học, chúng tôi xử lý, phân loại các từ điển để đưa ra một danh
sách láy đôi cho nguồn tư liệu để làm việc. Dựa trên các kiến thức về
ngôn ngữ học hiện đại, chúng tôi so sánh tìm những điểm tương hợp và
không tương hợp giữa cấu trúc và chức năng. Bằng phương pháp thống
kê, chúng tôi xác định mức độ chính xác của tư liệu đã được thực hiện và
tiến hành thiết lập các hàm tương quan giữa cấu trúc và chức năng.
Ngoài ra, yếu tố mẫn cảm của người bản ngữ cũng được tận dụng.
Những kiến thức từ Phương ngữ học, Văn hoá dân gian học và thực tiễn
văn học cũng như đời sống giao tiếp hàng ngày là những kiến thức bổ trợ
rất cần thiết khi làm luận án.
5. BỐ CỤC LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, luận án gồm bốn phần:
Phần thứ nhất. Cơ sở phân loại.
Phần thứ hai. Tính quy luật của trật tự sắp xếp ngữ âm trong
một cấu trúc láy đôi (chứng cứ từ thanh điệu và
phụ âm đầu).
Phần thứ ba. Thảo luận vể các ngoại lệ.
Phần thứ tư. Kết luận.
Nhằm mục đích minh hoạ cho các vấn đề đã nêu ra trong luận án,
ngoài chính văn, chúng tồi còn đính thêm một số phụ lục và bảng biểu
khi thấy thật cần thiết.
8
PHẦN THỨ NHẤT
Cơ sở PHÂN LO61
CHƯƠNG MỘT
CẤU TRÚC TỪ SONG TIÊT TIẾNG VIỆT
1.1 .1. VẤN ĐỂ
mặt ngữ âm và ít nhiều nội dung thể hiện mang ý nghĩa biểu trưng, biểu
cảm Nhưng láy khác với lặp xét cả về quan hệ ngữ âm lẫn quan hệ ngữ
nghĩa. Một cấu trúc lặp chỉ có thể được coi là láy khi ngữ nghĩa của nó
cũng nằm trong c ấ u trúc ngữ nghĩa chung của từ láy. Và đương nhiên về
mặt hình thức, hai yếu tố trong lặp khi đã trở thành yếu tố của từ láy thì
tuy giống nhau về cấu trúc ngữ âm (âm vị, thanh điệu) nhưng thật ra là
khác nhau trong thể hiện (vì có yếu tố trọng âm xen vào). Mặt khác, một
cấu trúc có hai yếu tố dẫu thoả mãn về mặt hài âm và hài thanh, nhưng
nếu trong tri nhận mỗi một yếu tố này vẫn còn chứa một nghĩa thực nào
đó (hoặc có thể được cảm nhận ngav cả khi đứng độc lập), thì cấu trúc
đó cũng không thể được xếp vào láy. GS Nguyễn Tài cẩn coi những cấu
trúc này là các từ song tiết đẳng lập có hình thức hài âm ngẫu nhiên.
1.1.2. CẤU TRÚC
Khi làm việc với láy đôi, chúng ta phải xét đến 2 tiêu chí: tiêu chí
nôi dung v à tiêu chí hình thức.
Vé tiêu chí hình thức: Chúng ta xét tiêu chí ngữ âm trùng hợp và
ti‘êu chí ngữ âm khác biệt. Và chúng ta sẽ để ý đến tiêu chí khác biệt bởi
11
trong một cấu trúc láv đôi, nếu phần khác biệt lại trội hơn phần trùng
hợp thì khó có thể nhận ra được tính chất láv của nó. Theo chúng tôi cấu
trúc âm tiết tiếng Việt gồm ba thành tố. Đó là: Phụ âm đầu, Vần và
Thanh điệu. Việc chia tiếp Vần thành các thành tố nhỏ hơn là việc làm
rất phức tạp và chưa chắc đã phản ánh được đặc điểm thi pháp riêng của
tiếng Việt (ss. Các hiện tượng vần thơ và các lối chơi chữ trons tiếng
Việt).
Vậy, cho tiện phân tích về hiện tượng láy đôi, chúng ta có thể mô
hình hoá cấu trúc ârn tiết Việt như sau:
1. ATI (TI - 1 - R), AT2 (T2 - 1 - R).
2. A T I (T - II - R), AT2 (T -12 - R).
3. ATI (T - 1 - Rl), AT2 (T - 1 - R2).
người ta có thể dễ dàng tạo lập ra được một cấu trúc có vẻ như láy từ một
yếu tố độc lập. V í dụ như: xanh —> xanh xanh, mập —» mầm mập, ngừng
—> ngập ngừng, lửng —» lơ lửng, vuông —> vuông vắn Việc cấu tạo một
cách dễ dàng như thế các cấu trúc kiểu này sẽ làm tăng rất nhanh số
lượng.các mục từ trong từ điển chuyên biệt về láy và cũng thật khó để
phân biệt được đâu là hiện tượng lời nói, đâu là hiện tượng ngôn nsữ.
Chính vì vậy, cũng nên đặt câu hỏi là thật cần thiết không việc phải liệt
kê tất cả các đơn vị như: xanh xanh, mầm mập, ngập ngừng, lơ lửng,
vuông vắn này vào một danh sách làm việc về từ láy. Trong quá trình
làm việc, chúng tôi cho rằng nên loại bớt các từ được cấu tạo một cách
dễ dàng như vừa trình bày và nên chỉ lấy các từ tiêu biểu. Việc chọn từ
tiêu biểu này cần chú ý một cách thích đáng đến tỷ lệ tương quan của
các tiểu loại. Ngoài ra, cũng cần chú ý đến hiện tượng các nhà làm từ
điển trong khi sưu tập vốn từ đã không để ý thích đáng đến các đặc điểm
phương ngữ. V í dụ: một số từ láy có cùng gốc nhưng lại được họ coi là
các từ láy khác nhau chỉ do lối phát âm địa phương khác nhau như:
nhằng nhịt/dằng dịt, làu bàu/lầu bầu hay những sai biệt về hình thức
chính tả như: đàng hoàng, đường hoàng Trong trường hợp này, tốt nhất
là nên chọn đại diện. Cũng cần phải có một thái độ linh hoạt trong đối
CHƯƠNG HAI
Cơ SỞ DỮ LIỆU VÀ PHÂN LOẠI
14
xử với các từ vay mượn. Trong quá trình lịch sử, sự vay mượn tiếp xúc
giữa tiếng Việt và các tiếng Hán, Nga hav Pháp là điều khó tránh khỏi.
BỜI vậy cần phải loại ra khỏi danh sách những từ có kết cấu kiểu như hài
âm nhưng không thoả mãn các tiêu chí về nội dung như đã trình bày ở
trên. V í dụ các từ như: ảo não, bàng hoàng hoặc loong toong, pinh
pỏng Trong thực tế các từ điển còn xuất hiện các từ kiểu như: bì boạp,
ngoam ngoáp, bia thia, hê hủm Đây là những từ rất đặc biệt xét về mặt
cấu trúc (hiện tượng giới âm kết hợp với âm môi, các âm tiết thực chỉ
ỉ 1 í j
I
%
In
1009 1092 619 739
3459
%
29.17
29.74
17.89 21.36
100
Bảng 1
Nhân xét sơ bỏ: Các từ láy đôi có một hình vị thực chiếm tỷ lệ cao
hơn hai loại còn lại (ss. 58.91%/4 1.09%). ở hai loại còn lại, từ láy đôi
gồm hai thành tố đều là hình vị hư (vô nghĩa) chiếm tỷ lệ cao hơn so với
loại cả hai thành tố đều là hình vị thực (ss. 21.36 % /17.89 % ). Phân bố
này thể hiện các tương quan có thực trong vốn từ láy đôi tiếng Việt giữa
các tiểu loại. Những vấn đề thuộc về chi tiết của các phân bố này sẽ
được xem xét cụ thể ở hai phần tiếp theo.
16
PHẦN THỨ HAI
TÍNH QUY LU6T củfĩ TRỢT Tự sổp XẾP NGỠ m
TRONG MỘT CÂU TRÚC LÁY t)ÔI
(CHỨNG Cứ Tử THANH ĐIỆU VÀ PHU ÂM ĐẤU)
17
CHƯƠNG MỘT. THANH ĐIỆU
Theo quan niệm truyền thống, chúnơ tôi sử dụng khuôn 8 thanh vị
cho các đơn vị được thống kê. Các thanh "sắc" và "nặng" ở nhữns vần có
kết thúc bằng các yếu tố phụ âm được thể hiện bằng các chữ "p", "t",
"ch", "c" được coi không phải là những biến thể của thanh sắc và nặng.
176 17.44
ngã
6
44
9 21 13
95
9.41
hòi
59 8 1
10
29
1
30 138
13.67
sắc
51 6 2
21 43
16
2
141 13.97
nặng
12
39
15
5
23
2
21
117
11.59
tính.
18
- Thanh không và thanh huyền có sự trao đổi về vị trí tần số xuất
hiện (TSXH). Thanh khôns trong hệ thống thanh điệu tiếng Việt là thanh
không bị đánh dấu (ss. thống kê tỷ lệ tần xuất của các thanh trên tổng số
các âm tiết thực có trong từ điển cho thấy thanh không chiếm 26%,
thanh huvền chiếm 24%). Sự trao đổi vị trí này ở ATI và AT2 cho ta
thấy vị trí được ưa thích của thanh không là ở ATI. Điều đó có nghĩa là
ở ATI thanh ưa thích là thanh dễ phát âm, không bị đánh dấu âm vị học.
- Các thanh "nhập" như đã nói ở trên, là những thanh ít có sự khác
biệt về vị trí tuyến tính. Tuy nhiên trong tương quan với thanh nsã thì
chúng vẫn là những thanh ít tính đánh dấu hơn. Do vậy, chúng có xu
hướng được phân bố ở A T I nhiều hơn so với AT2.
khong huyen nga hoi sac nang "sac" "nang"
Biểu đồ 1. Tỷ lệ TSXH các thanh điệu của các từ láy loại
19
2.1.2 CÁC Tư LÁY ĐÔI LOẠI
1. Dữ ỉiệu: (Bảng 3 và Biểu đồ 2)
\AT2
khỏng
huyền
ngã hòi sắc nặng "sắc" "nặng"
I n
%
A T K ^
(1)
(2)
(3) (4)
(5) (6) (7)
(8)
nặng
1 44
1 3 3 28 80 7.32
'sắc"
95 1
6 14 42 158 14.46
"n ặn g"
2
99
1 1 13 6 45
167
15.29
In
■ 363 295
18 77 109 46 103 81 1092
%
33.24 27.01
1.64 7.05
9.98
4.21
9.43 7.41 100
Bảng 3
35-1
nga
nang
nang
□ AT1
□ AT2
khong huyen
Biểu đổ 2. Tỷ lệ T S X H các thanh điệu của các từ láy loại
không đánh dấu) thì ờ A T2 dường như có sự phá vỡ quy luật này (tạo
nên nét bị đánh dấu). Phải chăng đàv là một đặc điểm riêng của loại hình
láv đôi
2.1.3. CÁC LÁY ĐỒI LOẠI ■ ■
1. Dữ liệu: (Bảng 4 và Biều đổ 3)
V AT2
khòng huyền ngã
hỏi
sắc nặng "sác"
"nặng”
I n
%
A T K
(1)
(2)
(3) (4) (5)
(6) (7)
(8)
không
124
3 18 12 1
6 2
164
26.49
huvền
6
124
5 8 4
1
7 154
64 10.33
"nặng"
2 23
2
1 6
9
6
42 6.78
In
214 196 17
31
66
28
45 22 619
%
34.57 31.66 2.74
5.00
10.66
4.52
7.26 3.55
100
Bảng 4
2. Nhận xét:
- So sánh TSX H của một số thanh có tần số cao nhất theo hai vị trí
A T I và A T2 thấy một sự chênh lệch khá lớn: thanh không:
34.57%/26.49%; thanh huyền: 3 1.66%/24.87%. Điều này có nghĩa là
AT2 vẫn bị tác động bởi quy luật san đều TSXH. Sự quan sát về chênh
lệch TSXH giữa nhóm thanh có TSX H cao và nhóm thanh có TSXH thấp
ở A T I và AT2 cũng đưa đến một kết luận như kết luận đã được rút ra ở
2. 1. 2.