Báo cáo nghiên cứu khoa học: " NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA CỦA HOÁN DỤ TRONG BÁO TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

133
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA CỦA HOÁN DỤ
TRONG BÁO TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
A STUDY ON SOME SEMANTIC FEATURES OF METONYMY IN ENGLISH
AND VIETNAMESE NEWSPAPERS

Lưu Quý Khương
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
Nguyễn Thị Yến Hồng
Trường THPT Vạn Tường, Quảng Ngãi

TÓM TẮT
Hoán dụ (metonymy) có vai trò rất quan trọng đối với con người trong việc nhận thức
thế giới xung quanh cũng như làm giàu thêm kiến thức ngôn ngữ. Có thể tìm thấy ví dụ của

biện pháp tu từ này ở hầu hết các diễn ngôn trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Tuy
nhiên, hoán dụ vẫn chưa được đề cập đến nhiều trong dạy và học tiếng Anh dù rằng nó là một
trong những cách hữu hiệu giúp học sinh phát triển từ vựng và nâng cao kỹ năng giao tiếp
ngôn ngữ, đặc biệt là kỹ năng viết. Với mục đích giúp người học ngôn ngữ hiểu được bản chấ
t
tri nhận của hoán dụ, bài báo tập trung nghiên cứu một số đặc điểm ngữ nghĩa của hoán dụ
thông qua những dữ liệu về cách sử dụng hoán dụ trong các bài báo tiếng Anh và tiếng Việt.
Đó là việc mở rộng nghĩa, thu hẹp nghĩa của các cụm từ hoán dụ và việc sử dụng các cụm từ
hoán dụ như một hiện tượng đa nghĩa
. Từ đó, bài viết rút ra những điểm giống nhau và khác
nhau trong việc sử dụng biện pháp tu từ này ở hai ngôn ngữ. Những kết quả nghiên cứu của
bài báo có thể góp phần nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy từ vựng tiếng Anh cũng như
giúp người Việt Nam học tiếng Anh phát triển vốn từ vựng cho cho bản thân.
ABSTRACT

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu về hoán dụ. Galperin [2],
nghiên cứu mối tương quan giữa nghĩa của hoán dụ trong từ điển và trong ngữ cảnh,
Lakoff và Johnson [4], Kovecses và Radden [3] xem xét hoán dụ bằng ngôn ngữ học tri
nhận, Nguyễn Thiện Giáp [5] đề cập đến sự chuyển đổi của hoán dụ dựa trên các mối
quan hệ giữa các vật thể. Đỗ Hữu Châu [1] đã chỉ ra một loạt các mối quan hệ của hoán
dụ. Võ Thu Duyên [6] đã nghiên cứu về ngữ nghĩa, cú pháp và ngữ dụng học của hoán
dụ trong các truyện ngắn. Bài báo này đề cập đến sự mở rộng nghĩa và thu hẹp nghĩa
của các biểu đạt hoán dụ cũng như việc sử dụng hoán dụ như một hiện tượng đa nghĩa
trong các bài báo tiếng Anh và tiếng Việt.
3. Khái niệm về hoán dụ
Theo Galperin [2, p.140] "Hoán dụ được dựa trên một kiểu quan hệ khác nhau
giữa nghĩa từ điển và nghĩa ngữ cảnh, một mối quan hệ không dựa trên sự tương đồng
mà dựa trên sự liên tưởng nào đó kết nối 2 khái niệm mà những ý nghĩa này biểu thị.”
Trong khi đó với quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, Kovecses và Radden
[3, p.39] cho rằng "Hoán dụ là một quá trình tri nhận mà một thực thể khái niệm, mang
nghĩa phương tiện, quy định ý nghĩ đến một thực thể khái niệm khác, mang nghĩa đích,
trong cùng một mô hình tri nhận được lý tưởng hoá".Ví dụ:
(1) There are a lot of good heads in this university. [4]
(Có nhiều người giỏi ở trường đại học này.)
Trong ví dụ này, từ “heads" (những cái đầu) được sử dụng theo hình thức hoán
dụ. Người viết đã sử dụng một bộ phận của cơ thể để chỉ toàn bộ người. Trong đó
"heads" là một thực thể khái niệm có mối quan hệ đến "people" nên nó được xem là
m
ột phương tiện quy định cho nét nghĩa "người" trong ví dụ này. Vì vậy, người ta phải
hiểu "good heads" chính là "intelligent people" trong ngữ cảnh này.
Xét ví dụ trong Tiếng Việt:
(2) Nhiều cây viết khác thì nổi giận vì tổng thống cúi người trước con trai của Nhật
hoàng Hirohito, từng lãnh đạo nước Nhật trong Thế chiến II. [11]
Nghĩa hoán dụ của ví dụ trên được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa vật

Head → leader → action of leading
Ví dụ này đã minh hoạ cho sự mở rộng nghĩa trong hoán dụ. Chúng ta nhận thấy
"head", một bộ phận cơ thể được dùng để biểu đạt cho một con người có khả năng kiểm
soát người khác hoặc là có vai trò lãnh đạo. Thông qua phép chuyển từ một danh từ
sang động từ, từ này được dùng để chỉ đến một hành động lãnh đạo: nghĩa của từ "head"
đã được mở rộng từ nghĩa gốc của nó.
Ngoài việc dùng phép chuyển để mở rộng nghĩa của từ hay cụm từ hoán dụ,
trong các bài báo tiếng Anh nghĩa của từ hoán dụ được mở rộng qua việc miêu tả những
đặc tính cụ thể.
(4) They are there to offer a friendly, neutral ear for any problems
. [9]
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

136
(Họ ở đấy để đóng vai trò một người lắng nghe thân thiện và trung lập đối với bất cứ
vấn đề nào.)
Chúng ta biết rằng "ear" (tai) là cơ quan thính giác và khi chúng ta muốn để tâm
đến một câu chuyện nào đó thì chúng ta cần phải vận dụng đôi tai một cách tối đa để
nghe những gì người khác nói. Chính vì thế "ear" có thể được dùng để thay thế cho một
chức năng mang tính chất trừu tượng, đó là sự chú ý. Xét ví dụ trên ta thấy rằng nghĩa
của cụm từ "a friendly, neutral ear" có thể được hiểu là "a person who friendly listens
to any problem".
Trong các bài báo tiếng Việt, chúng tôi không tìm thấy việc dùng phép chuyển
đổi từ loại để mở rộng nghĩa như trong tiếng Anh mà chỉ thấy sự mở rộng nghĩa được
dùng trong việc miêu tả những đặc tính cụ thể của từ hoán dụ.
(5) Viên bảo vệ này là cánh tay đắc lực của lãnh đạo áo đỏ Khattiya Sawasdipol vừa
qua đời hôm 17.5 vì bị bắn trước đó.
[12]
Cánh tay → người → người trợ lý
Hoán dụ trong ví dụ trên mang tính mở rộng nghĩa thể hiện trong việc miêu tả

Việt Nam (quốc gia) → cơ quan → người lãnh đạo của cơ quan này
“Nước Việt Nam” với tư cách là một không gian địa lý, một dải giang sơn gấm
vóc không thể ký hợp đồng dầu khí trong trường hợp này mà phải là một tổ chức, một cơ
quan ở Việt Nam được Nhà nước cho phép ký hợp đồng này. Như vậy, trong khuôn khổ
giao thương với các nước trên thế giới thì thay vì nói đến một tổ chức hay một cơ quan
của Việt Nam thì người ta thường dùng tên "Việt Nam" để thay thế. Ở ví dụ trên hoán
dụ được sử dụng dựa vào mối quan hệ giữa tổng thể là "Việt Nam" với bộ phận "Tổng
công ty xây lắp dầu khí Việt Nam" và công ty không phải đứng ra ký hợp đồng với đối
tác mà là những người có trách nhiệm của công ty làm việc này. Từ mối quan hệ dây
chuyền này, "Việt Nam" ở ví dụ trên đã bị thu hẹp nghĩa thành "những người lãnh đạo
của tổng công ty xây lắp dầu khí Việt nam".
(9) Capello thuộc số ít HLV tại vị bất chấp kết quả không như ý ở Nam Phi. [21]
Nam Phi (quốc gia) → sự kiện có liên quan đến Nam Phi → Giải vô địch
bóng đá thế giới năm 2010
Nghĩa của "Nam Phi" đã bị thu hẹp. Với nghĩa gốc là tên của một quốc gia,
người ta đã sử dụng từ này để chỉ một sự kiện nổi bật đang xảy ra: giải bóng đá thế giới
năm 2010.
4.3 Hoán dụ là một hiện tượng đa nghĩa
Ngoài những đặc điểm mở rộng nghĩa và thu hẹp nghĩa, hoán dụ còn được xem
là một hiện tượng đa nghĩa. Với lý do có rất nhiều mối quan hệ giữa tổng thể và bộ phận
trong cùng một mô hình tri nhận được lý tưởng hoá và một bộ phận có thể có mối liên
hệ với nhiều tổng thể khác nhau nên hoán dụ có thể được xem là một hiện tượng đa
nghĩa. Xét các ví dụ sau:
(10) Some heads admitted that this was attractive in a time of austerity, but others said
the details must be clarified before they would commit themselves. [18]
(11) A strong head and committed staff insist on good behaviour, provide expert
teaching and inspire high aspirations.
(12) There is the one in which his team are comprehensively outplayed for long periods
before an opponent is persuaded to head the ball into his own net in the fifth minute.[7]
(13) A chief minister who was a former LTTE child soldier headed a provincial council.

ngữ đều có sử dụng sự mở rộng nghĩa, thu hẹp nghĩa và hiện tượng đa nghĩa. Chúng tôi
đã thống kê số lượng của các cụm từ hoán dụ xét trên các đặc trưng về ngữ nghĩa ở 200
ví dụ trong tiếng Anh và tiếng Việt theo bảng dưới đây:
Bảng 1. Đặc trưng ngữ nghĩa của hoán dụ trong Tiếng Anh và Tiếng Việt
Tiếng Anh (200) Tiếng Việt (200) Đặc trưng ngữ nghĩa
Số lượng % Số lượng %
Mở rộng nghĩa
102 51 87 43.5
Thu hẹp nghĩa
64 32 61 30.5
Hiện tượng đa nghĩa
34 17 52 26
Nhìn vào bảng ta thấy đặc trưng mở rộng nghĩa (51%) ở tiếng Anh và (43.5%) ở
tiếng Việt bộc lộ nhiều hơn cả so với 2 đặc trưng còn lại và hiện tượng đa nghĩa ở tiếng
Anh chỉ chiếm 17% và tiếng Việt là 20.5%. Lý do là trong quá trình nghiên cứu, chúng
tôi nhận thấy số lượng cụm từ hoán dụ thể hiện quá trình chuyển nghĩa từ cái bộ phận
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010

139
sang cái toàn thể nhiều hơn rất nhiều so với việc chuyển nghĩa từ cái toàn thể sang cái
bộ phận mà việc mở rộng nghĩa hầu như dựa trên việc chuyển nghĩa từ bộ phận sang
toàn thể, điều này được thể hiện cụ thể ở bảng so sánh dưới đây:
Bảng 2. Quá trình chuyển nghĩa của hoán dụ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Quá trình chuyển nghĩa Ngôn ngữ
Bộ phận → Toàn thể Toàn thể → Bộ phận
Tiếng Anh (200)
122 78
Tiếng Việt (200)
134 64
5.2 Khác nhau

luật sử dụng hoán dụ. Ngoài ra, việc giới thiệu những đặc tính ngữ nghĩa của hoán dụ
cho học sinh cũng rất quan trọng, học sinh sẽ biết sử dụng hoán dụ làm phương tiện mở
rộng nghĩa và thu hẹp nghĩa, sử dụng một từ trong nhiều trường hợp khác nhau với
nhiều nghĩa khác nhau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đỗ Hữu Châu (2007), Đỗ Hữu Châu tuyển tập, tập 1& 2, Nhà xuất bản Giáo dục.
[2] Galperin, I.R. (1971), Stylistics, High School Publishing House, Moscow.
[3] Kovecses, Z. and Radden, G. (1999), Toward a Theory of Metonymy, John
Benjamins
[4] Lakoff, G. and Johnson, M. (1980), Metaphor We Live By, University of Chicago
Press.
[5] Nguyễn Thiện Giáp (1997), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Giáo dục.
[6] Vo Thi Thu Duyen (2006), An Investigation into Metonymy in English and
Vietnamese Short Stories, M.A.Thesis, University of Danang.
[7] (30/4/2008)
[8]
[9] />children-at-risk
[10]
11] (5/11/2009)
[12]
[13] />hau-quoc-te.htm
[14]
[15]
[16]
[17]
[18]
(27/5/2110)
[19]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status