Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ ngữ xưng hô tiếng Hán trong sự so sánh với tiếng Việt - Pdf 26


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM NGỌC HÀM
ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁCH SỬ DỤNG
CỦA LỚP TỪ NGỮ XƯNG HÔ TIẾNG
HÁN
(TRONG SỰ SO SÁNH VỚI TIẾNG
VIỆT)

CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 5 04 08

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
(Tr151)
Bảng 3.2 : Bảng kê đối tƣợng khảo sát về sự sử dụng từ ngữ xƣng hô (Tr 156)
Bảng 3.3 : Bảng thống kê kết quả điều tra phạm vi sử dụng của các từ xƣng
hô thông dụng trong tiếng Hán (Tr 157)
Bảng 3.4 : Bảng thống kê khả năng kết hợp của ―đại‖, ―lão‖, ―tiểu‖ với các từ
xƣng hô khác (Tr 161)
Bảng 4.1 : Bảng kê kết quả khảo sát bài tập 1 (xƣng hô giữa trò với thầy)
(Tr188)
Bảng 4.2 : Bảng kê kết quả khảo sát bài tập 1 (xƣng hô giữa thầy với trò)
(Tr183)
Hình 4.1 : Biểu đồ khảo sát sự hiểu biết của sinh viên trong cách lựa chọn từ
ngữ xƣng hô để chào hỏi (Tr 183)

4
Bảng 4.3 : Bảng kê kết quả khảo sát khả năng đối dịch từ xƣng hô (Tr184)
Hình 4.2 : Biểu đồ khảo sát về tình hình đối dịch cách chào hỏi giữa thầy và
trò, giữa trò và thầy (Tr184)
Bảng 4.4 : Bảng kê kết quả khảo sát tình hình nắm bắt từ chỉ quan hệ thân tộc
(Tr187)
Hình 4.3 : Biểu đồ khảo sát sự hiểu biết của sinh viên về từ biểu thị quan hệ
thân tộc (Tr187)
Bảng 4.5 : Bảng kê kết quả khảo sát khả năng sử dụng từ xƣng hô để chào
mời (Tr188)
Một số quy ước
- Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ Hán, có những từ ngữ mới
nảy sinh, dùng phiên âm Hán Việt để phiên âm sẽ không phù hợp. Do đó,
ngoài việc sử dụng âm Hán Việt ra, Luận án có một số trƣờng hợp phiên âm
theo chữ cái La-tinh để tiện theo dõi.
- Luận án có so sánh với tiếng Việt, nhƣng để cho tên các tiểu mục
trong từng chƣơng gọn hơn, có so sánh với tiếng Việt xin đƣợc chỉ ghi trên

6. Cấu trúc của luận án
6
CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ XƯNG HÔ VÀ TỪ NGỮ XƯNG HÔ
TRONG GIAO TIẾP NGÔN NGỮ
7
1.1. Lịch sử vấn đề
7
1.1.1. Điểm qua vài nét về lịch sử nghiên cứu xưng hô tiếng Hán
7
1.1.2. Điểm qua vài nét về lịch sử nghiên cứu xưng hô tiếng Việt
12
1.1.3. Nghiên cứu so sánh xưng hô Hán - Việt
14
1.2. Quan niệm về xưng hô và phương thức biểu hiện xưng hô
15
1.3. Sự xuất hiện tất yếu của từ xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ
22
1.4. Xưng hô với đặc trưng văn hoá dân tộc
23
1.5. Tính lịch sự với vấn đề xưng hô
35
1.6. Nghĩa quyền lực và kết liên trong xưng hô
41
Tiểu kết chương I
50
CHƯƠNG 2: NHỮNG PHƯƠNG TIỆN DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG TIẾNG HÁN
( CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT )
52

2.1. Khái quát về từ xưng hô trong tiếng Hán

2.2.3.1. Khái niệm về họ tên
98
2.2.3.2. Đặc điểm họ tên của người Hán
100
2.2.3.3. Khả năng kết hợp của họ tên trong tổ hợp xưng

102
2.2.4. Xưng hô bằng từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, học hàm, học
vị
103
2.2.4.1. Khái niệm về từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, học vị
104
2.2.4.2. Thống kê một số danh từ chỉ nghề nghiệp, chức
vụ, học vị
105
2.2.5. Xưng hô bằng những từ xưng hô thông dụng (đồng chí,
thái thái, tiên sinh, tiểu thư…)
112
Tiểu kết chương 2
119
CHƯƠNG 3 : HOẠT ĐỘNG CỦA TỪ NGỮ XƯNG HÔ TIẾNG HÁN ( CÓ SO
SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
12
1
3.1. Xưng hô trong gia đình
121
3.1.1. Xưng hô giữa vợ và chồng
121
3.1.1.1. Xưng hô giữa những cặp vợ chồng trẻ
121

Tiểu kết chương 3
166
CHƯƠNG 4 : ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀO VIỆC DẠY HỌC TIẾNG
HÁN CHO NGƯỜI VIỆT NAM
16
8
4.1. Sự giống và khác nhau giữa cách xưng hô trong tiếng Hán và cách
xưng hô trong tiếng Việt
168
4.1.1. Sự giống nhau
168
4.1.2. Sự khác nhau
172
4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy học tiếng Hán
cho người Việt Nam
176
4.2.1. Cơ sở lí luận của việc ứng dụng
176
4.2.2. Một số khảo sát về việc học tiếng Hán của sinh viên Việt
Nam
178
4.2.3. Một số kiến nghị về phương pháp khắc phục lỗi sử dụng
từ ngữ xưng hô trong công tác dạy học tiếng Hán cho người Việt Nam
188
+ Về phía người dạy
188
+ Về phía người học
189
Tiểu kết chương 4
190


9 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của luận án
Giao tiếp bằng ngôn ngữ là thuộc tính bản chất của xã hội loài ngƣời,
không thể có xã hội loài ngƣời nếu không có giao tiếp bằng ngôn ngữ. Thông
qua quá trình giao tiếp mang tính chất đặc thù này của xã hội loài ngƣời mà
ngôn ngữ đồng thời đƣợc củng cố và không ngừng phát triển. Trong quá trình
đó, xƣng hô là bộ phận hợp thành quan trọng, có ý nghĩa xác định vai giao
tiếp và quyết định hiệu quả giao tiếp. Xƣng hô thể hiện sinh động mối quan
hệ giữa ngƣời với ngƣời trong từng bối cảnh giao tiếp cụ thể. Đó chính là lí
do mà việc nghiên cứu từ ngữ xƣng hô nói chung và quá trình hành chức của
nó luôn luôn là mối quan tâm, trƣớc hết là của các nhà ngôn ngữ học, văn hoá

thiết với văn hoá, tập quán dân tộc, rất lí thú nhƣng cũng vô cùng phức tạp.
1. 2. Vấn đề xƣng hô liên quan mật thiết với đối tƣợng giao tiếp và ngữ
cảnh giao tiếp. Đặc trƣng giao tiếp xã hội của dân tộc Trung Hoa và dân tộc
Việt Nam là đều chịu sự chi phối sâu sắc của các quan niệm truyền thống về
tôn ti, trật tự, lễ giáo phong kiến từ ngàn xƣa. Cho đến nay, trải qua bao nhiêu
thăng trầm của lịch sử, những nét đặc sắc về văn hoá dân tộc thể hiện trong
mỗi gia đình và xã hội đã có nhiều đổi thay, song quan hệ gia đình, xã hội với
những chuẩn mực, nghi thức giao tiếp truyền thống của nó vẫn đƣợc gìn giữ.
Trong những biểu hiện cụ thể của vấn đề văn hoá đó, nổi trội lên là vấn đề
cách xƣng hô. Vì thế, nghiên cứu tiếng Hán và tiếng Việt, không thể bỏ qua
vấn đề xƣng hô, bao gồm xƣng hô gia đình và xƣng hô xã hội, đồng thời phải
đặt chúng trong bối cảnh giao tiếp ngôn ngữ - văn hoá của cả hai dân tộc mới
thấy hết đƣợc sự tinh tế của nó.
1.3. Khảo sát cách sử dụng của lớp từ ngữ xƣng hô phải gắn với hoạt
động giao tiếp, chủ yếu là trong các cuộc thoại. Sở dĩ nói nhƣ vậy là vì, trong

11
diễn tiến của quá trình giao tiếp, cách xƣng hô trở nên rất sinh động, phong
phú, phụ thuộc vào thói quen văn hoá cộng đồng. Sự hoạt động của các từ
ngữ xƣng hô trong tiếng Hán hiện đại đã phức tạp, trong tiếng Việt lại càng
phức tạp hơn (nhƣ sẽ trình bày ở các chƣơng sau). Thực tế giảng dạy tiếng
Hán cho ngƣời Việt và tiếng Việt cho ngƣời Hán cho thấy, sự nhầm lẫn trong
việc sử dụng từ ngữ xƣng hô là khá phổ biến. Để khắc phục những hạn chế
đó, đòi hỏi phải có một công trình khảo sát cấu trúc tĩnh cũng nhƣ quá trình
hoạt động của từ ngữ xƣng hô trong giao tiếp tiếng Hán và đặt nó trong
tƣơng quan với lớp từ ngữ xƣng hô tiếng Việt, nhằm đáp ứng yêu cầu giao
lƣu ngôn ngữ nói chung, nhất là việc dạy và học tiếng Hán ở Việt Nam nói
riêng.
1.4. Trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ ngữ văn, chúng tôi hy
vọng tìm ra đƣợc những phƣơng thức cấu tạo và quy luật sử dụng của lớp từ

3.2. Thống kê, miêu tả lớp từ ngữ xƣng hô trong môi trƣờng giao tiếp gia
đình và xã hội của tiếng Hán, làm nổi rõ đặc điểm những phƣơng tiện dùng để
xƣng hô của tiếng Hán trong sự so sánh với tiếng Việt.
3.3. Khảo sát sự hoạt động của lớp từ ngữ xƣng hô tiếng Hán dƣới ảnh
hƣởng của những đặc trƣng văn hoá dân tộc, cụ thể là các nhân tố ảnh hƣởng
đến sự lựa chọn từ ngữ xƣng hô. Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ
đi sâu khảo sát cách xƣng hô trong gia đình hạt nhân của ngƣời Hán, bao
gồm: xƣng hô giữa vợ và chồng, xƣng hô giữa cha mẹ và con cái. Về xƣng hô
xã hội, chúng tôi tập trung khảo sát xƣng hô nơi công sở, bao gồm: xƣng hô
giữa nhân viên và thủ trƣởng, xƣng hô giữa các đồng nghiệp với nhau. Hy
vọng sự khảo sát tập trung đó sẽ làm cho vấn đề không dàn trải mà vẫn đạt
đƣợc độ thuyết phục cao.
3.4. Đối chiếu, tìm ra sự giống và khác nhau về phƣơng diện hệ thống
cấu trúc cũng nhƣ cách sử dụng của lớp từ ngữ xƣng hô tiếng Hán và tiếng
Việt trong giao tiếp gia đình cũng nhƣ giao tiếp xã hội. Trên cơ sở kết quả

13
nghiên cứu, kết hợp với khảo sát lỗi khi sử dụng từ ngữ xƣng hô, vận dụng
trƣớc hết vào quá trình dạy, học tiếng Hán cho ngƣời Việt, góp phần nâng cao
hiệu quả sử dụng từ ngữ xƣng hô trong giao tiếp ngôn ngữ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu theo hƣớng :
Thông qua điều tra xã hội bằng phƣơng thức phỏng vấn trực tiếp và
phát phiếu điều tra có định hƣớng (phụ lục 1,2,3 ) để có những cứ liệu thực tế,
đủ độ tin cậy về phạm vi sử dụng của các từ ngữ dùng để xƣng hô và những
nhân tố văn hoá, xã hội tác động đến việc lựa chọn từ ngữ xƣng hô.
Vận dụng phƣơng pháp thống kê, miêu tả để tiến hành khảo sát hệ
thống xƣng hô tiếng Hán ; phƣơng pháp phân tích thành tố nghĩa để thấy đƣợc
cấu trúc ngữ nghĩa của từ; phân tích ngữ nghĩa giao tiếp qua những thí dụ điển
hình để làm nổi bật vấn đề dụng học trong xƣng hô ; phƣơng pháp đối chiếu

tiễn giảng dạy, trƣớc hết là tiếng Hán cho ngƣời Việt. Cụ thể là đƣa ra các lỗi
thƣờng gặp khi sử dụng từ ngữ xƣng hô và cách khắc phục lỗi, nhằm tạo điều
kiện cho ngƣời tham gia giao tiếp lựa chọn cách ứng xử phù hợp với bối cảnh
giao tiếp và đặc trƣng văn hoá dân tộc, thực hiện chiến lƣợc giao tiếp, tránh
đƣợc những sự hiểu lầm không đáng có.
6. Cấu trúc của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo,
gồm 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về xƣng hô và từ ngữ xƣng hô trong
giao tiếp ngôn ngữ.
Chƣơng 2: Những phƣơng tiện dùng để xƣng hô trong tiếng Hán. (có
so sánh với tiếng Việt)
Chƣơng 3: Hoạt động của lớp từ ngữ dùng để xƣng hô trong tiếng Hán
(có so sánh với tiếng Việt).

15
Chƣơng 4: Ứ ng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy tiếng Hán
cho ngƣời Việt Nam.
Chương 1 :
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ XƯNG HÔ VÀ TỪ NGỮ XƯNG HÔ
TRONG GIAO TIẾP NGÔN NGỮ

1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
1.1.1. Điểm qua vài nét về lịch sử nghiên cứu xưng hô tiếng Hán

đó, vấn đề xƣng hô trong tiếng Hán càng đƣợc quan tâm nghiên cứu, và đƣợc
coi là chiến lƣợc giao tiếp ngôn ngữ. Những công trình nghiên cứu tiêu biểu
có: Điền Huệ Cƣơng với ―Hệ thống xƣng hô tiếng Hán và các ngôn ngữ
khác‖, Mã Hồng Cơ - Thƣờng Khánh Phong với ―Xƣng vị ngữ‖, Phó Thành
Cật với ―Cách xƣng hô của tiếng Hán và tiếng Việt với văn hoá truyền thống
của hai nƣớc Việt Trung ‖. Năm 1989, công trình nghiên cứu về tính lịch sự
trong giao tiếp ngôn ngữ của tác giả Trần Tùng Sầm đã đƣợc nhà in Thƣơng
vụ xuất bản lần đầu và tái bản năm 2001. Công trình dành 68/108 trang nói về
xƣng hô. Điều đó chứng tỏ xƣng hô góp một phần đáng kể vào việc thể hiện
tính lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ. Dựa vào tính chất khác nhau của các
phƣơng thức sử dụng từ xƣng hô, tác giả đã chia từ xƣng hô tiếng Hán thành 6
loại: xƣng hô thân tộc, xƣng hô nghề nghiệp, xƣng hô chức vụ, xƣng hô thông
thƣờng, miệt xƣng và xƣng hô bằng họ tên. Riêng với đại từ nhân xƣng, tác
giả lại chia thành ba loại: xƣng hô thông thƣờng, tôn xƣng và khiêm xƣng.

17
Tiếp đó, tháng 1 năm 2001, nhà xuất bản Đại học Ngôn ngữ Văn hoá Bắc
Kinh lần đầu tiên cho ra mắt bạn đọc cuốn ―Kính khiêm từ trong tiếng Hán
hiện đại‖ của tác giả Lƣu Hồng Lệ cũng đề cập nhiều đến vấn đề xƣng hô, coi
nhƣ một phƣơng tiện quan trọng để biểu thị tính lịch sự trong giao tiếp ngôn
ngữ. Tác giả đã đƣa ra 5 nguyên tắc sử dụng kính khiêm từ. Đó là nguyên tắc
lịch sự, nguyên tắc tình cảm, nguyên tắc cự ly, nguyên tắc thăng cấp và
nguyên tắc độ thích nghi. Đồng thời, tác giả còn đề cập đến tính đa chức năng
của của việc biểu đạt kính khiêm từ, nhƣ : tính khách khí, tính châm biếm,
tính trịnh trọng… Các vấn đề đặc điểm, nguyên tắc sử dụng cũng nhƣ chức
năng của kính khiêm từ mà Lƣu Hồng Lệ đƣa ra đều có liên hệ mật thiết đến
từ ngữ xƣng hô.
Trong các công trình nghiên cứu xƣng hô của các học giả Trung Quốc
kể trên, nổi bật nhất là ―Hệ thống xưng hô tiếng Hán và các ngôn ngữ khác”
của Điền Huệ Cƣơng- công trình nghiên cứu về xƣng hô tiếng Hán đầu tiên ở

Nha và Hán - Nhật. Nhƣng vì ngoài xƣng hô thân tộc ra, các góc độ khác nhƣ
xƣng hô xã hội, xƣng hô bằng họ tên, tính chất lịch sự trong xƣng hô… cũng
đƣợc đề cập trên diện rộng, do dó không khỏi có những vấn đề còn chƣa sâu
sắc. Mặt khác, các ví dụ nêu ra chƣa đƣợc phân tích thấu đáo để làm nổi bật ý
nghĩa ngữ dụng của xƣng hô trong chiến lƣợc giao tiếp.
Sau Điền Huệ Cƣơng phải nói đến công trình đồng tác giả Mã Hồng
Cơ - Thƣờng Khánh Phong với tiêu đề ― Xƣng vị ngữ‖, cũng là một công
trình thú vị. Với công trình này, các tác giả đã cố gắng đặt tiêu đề cho từng
đặc trƣng của xƣng hô tiếng Hán bằng các thành ngữ. Ví dụ, ―Tứ hải chi nội
giai huynh đệ‖ [89,.45] để nói về phƣơng thức mô phỏng xƣng hô thân tộc
vào xƣng hô xã hội, ―Nhân quá lƣu danh, nhạn quá lƣu thanh‖ [ 89, 54] để nói
về xƣng hô bằng họ tên, ―Huyết nồng ƣ thuỷ‖ [89, 77] để nhấn mạnh quan hệ
huyết thống…
Tháng 3 năm 2001, tác giả Hoàng Đào cho ra đời công trình nghiên cứu

19
về ―Ngôn ngữ - tập tục với văn hoá Trung Quốc‖ dài 318 trang, trong đó
nghiên cứu văn hoá xƣng hô chiếm 169 trang. Đặc điểm của công trình chủ
yếu là nghiên cứu về các yếu tố văn hoá dân tộc nhƣ dặc điểm cƣ dân, địa lí,
tƣ tƣởng truyền thống ảnh hƣởng đến vấn đề giao tiếp xƣng hô nhƣ thế nào.
Tác giả lấy văn hoá dân tộc làm xuất phát điểm, đồng thời cũng là nội dung
trọng tâm của công trình nghiên cứu, tất cả đều xoay quanh vấn đề tập tục dân
tộc. Tác giả đã thống kê khá tỉ mỉ về hệ thống xƣng hô thân tộc gồm 98 từ.
Trong đó, với TÔI làm trung tâm, có 45 từ thuộc nhóm xƣng hô dòng tộc 13
thế hệ, bao gồm 4 thế hệ trên TÔI và 8 thế hệ dƣới TÔI.
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Hoàng Đào không đi
sâu nghiên cứu hệ thống cấu trúc, cách sử dụng của lớp từ xƣng hô dƣới góc
độ ngôn ngữ học, mà chỉ chú ý đến góc độ văn hóa dân tộc ảnh hƣởng qua
xƣng hô. Các nội dung điều tra xã hội học cũng chủ yếu tập trung vào vấn đề
quan hệ kinh tế giữa các thế hệ, các thành viên trong gia đình và vấn đề dân

- anh/
ậỷ t

- anh ấyÊâ+ họ, tên ‖, Doãn Di - Vi Nhân với ―Xƣng hô- sự mở đầu
của cuộc thoại‖, Tƣởng Minh với ―Xƣng hô và vấn đề lịch sự‖, Lý Giám Định
với ―Phép tỉnh lƣợc của đại từ xƣng hô‖, Chu Minh với ―Đặc trƣng ngữ dụng
của ngữ xƣng hô tiếng Hán và việc chuyển dịch ý nghĩa ngữ dụng của nó ‖,
Lƣu Á Linh với ―Những biến đổi của văn hoá xã hội và vấn đề xƣng hô Anh
- Hán‖, Lƣu Chiêu Ban với ―Bàn về tính chất mở của xƣng hô thân tộc tiếng
Hán‖…
Từ kết quả mà các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã đạt đƣợc trên góc độ
xƣng hô tiếng Hán, có thể thấy đƣợc các công trình đã chú ý đến hai phƣơng
diện: ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của vấn đề. Về mặt lí luận, các học
giả đã tập trung phân tích, chứng minh cho lớp từ xƣng hô tiếng Hán là một hệ
thống hoàn chỉnh. Không ít ý kiến đã chứng tỏ tính chất mở của nó có tác dụng
tạo nên sự đa dạng, phong phú và không kém phần phức tạp của lớp từ này
trong giao tiếp ngôn ngữ. Đồng thời khẳng định đặc trƣng văn hoá Trung Hoa
phản ánh qua việc lựa chọn từ xƣng hô trong giao tiếp tiếng Hán.
Về mặt sử dụng, lớp từ xƣng hô tiếng Hán chịu ảnh hƣởng sâu sắc của
các yếu tố văn hoá, tập quán dân tộc và các nhân tố khác, nhƣ ngữ cảnh giao

21
tiếp, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học thuật, trạng thái tâm lí… Một
số công trình đã tiến hành nghiên cứu dƣới góc độ so sánh ngôn ngữ học.
Nhiều nhất là so sánh Hán - Anh, Hán - Nga, Hán - Nhật, Hán - Pháp… Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu này chƣa đi sâu phân tích, làm nổi bật ý
nghĩa ngữ dụng của từ ngữ xƣng hô trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ, nhất là
chƣa chú ý đúng mức đến việc phân tích sắc thái biểu cảm của từ ngữ xƣng hô
qua từng ví dụ cụ thể để có thể làm sáng tỏ vai trò của xƣng hô trong việc thực
hiện chiến lƣợc giao tiếp.

Ngoài ra, phải kể đến hàng loạt công trình nghiên cứu xƣng hô tiếng
Việt khác nhƣ: Hoàng Thị Châu với ―Vài đề nghị về chuẩn hoá cách xƣng hô
trong xã giao‖, Trƣơng Thị Diễm với ―Từ xƣng hô có nguồn gốc danh từ thân
tộc trong giao tiếp tiếng Việt‖, Nguyền Thị Ly Kha với ―Nét nghĩa chỉ quan
hệ của danh từ thân tộc trong tiếng Việt‖, Nguyễn Văn Khang với ―Ngôn ngữ
học xã hội - những vấn đề cơ bản‖, Nguyền Minh Thuyết với ―Vài nhận xét
về đại từ và đại từ xƣng hô‖, Hoàng Anh Thi với ―So sánh nghi thức giao
tiếp tiếng Nhật và tiếng Việt qua từ ngữ xƣng hô‖, Bùi Minh Yến với ―Xƣng
hô trong gia đình ngƣời Việt‖ Trƣơng Thị Diễm với ―Từ xƣng hô có nguồn
gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt‖, Phạm Ngọc Thƣởng với
―Xƣng hô trong tiếng Nùng‖, Dƣơng Thị Nụ với ―Ngữ nghĩa nhóm từ chỉ
quan hệ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt‖ …
Các công trình nghiên cứu xƣng hô tiếng Việt đã chú ý vận dụng lí
thuyết ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp. Cụ thể là các vấn đề ngữ dụng
nhƣ sắc thái biểu cảm, vai giao tiếp, cấu trúc xƣng hô đã đƣợc làm sáng tỏ,
vấn đề xƣng hô đƣợc coi nhƣ một chiến lƣợc trong giao tiếp ngôn ngữ. Trong
các Luận án tiến sĩ mà đề tài liên quan đến xƣng hô mới đƣợc bảo vệ thành
công gần đây, nổi bật nhất là nghiên cứu ―Từ xƣng hô có nguồn gốc danh từ
thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt‖ của Trƣơng Thị Diễm. Tác giả đã khảo sát
và làm sáng tỏ vấn đề trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng. Đặc

23
biệt là tác giả đã dành 48 trang viết về cơ sở của việc chuyển hoá danh từ thân
tộc thành từ xƣng hô, bao gồm cơ sở ngôn ngữ học và cơ sở văn hoá xã hội,
để chứng tỏ xƣng hô là vấn đề ngôn ngữ có nội hàm văn hoá sâu sắc. Những
thành tựu nghiên cứu đó là cứ liệu đáng tin cậy để chúng tôi tiến hành so sánh
giữa từ ngữ xƣng hô tiếng Hán với từ ngữ xƣng hô tiếng Việt, rút ra những
điểm giống và khác nhau giữa chúng mà không cần phải khảo sát lớp từ ngữ
xƣng hô tiếng Việt.
1.1.3. Nghiên cứu so sánh xưng hô Hán - Việt

Trong cuốn ― Mác-Ănghen -Lênin bàn về ngôn ngữ‖, Mác nói: ―Sự
sản sinh ra tƣ tƣởng, biểu tƣợng và ý thức trƣớc hết là gắn liền một cách trực
tiếp và mật thiết với hoạt động vật chất và giao dịch của con ngƣời… Ngôn
ngữ cũng tồn tại cho những ngƣời khác … Nhƣ vậy cũng là tồn tại đầu tiên
cho bản thân tôi nữa… Ngôn ngữ chỉ sản sinh ra do nhu cầu cần thiết phải
giao dịch với ngƣời khác.‖ Do đó, ngôn ngữ là sản phẩm tất yếu của quá trình
giao tiếp giữa ngƣời với ngƣời nhằm thoả mãn một trong những nhu cầu thiết
yếu bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời. Ngoài những
đặc điểm chung của cả nhân loại, mỗi dân tộc đều có những tập quán và thói
quen mang đậm nét đặc thù của riêng mình. Với tƣ cách là tổng thể các giá trị
vật chất và tinh thần do loài ngƣời sáng tạo ra trong đời sống xã hội của mình,
văn hoá trƣớc hết là một kiểu lựa chọn của một tộc ngƣời hoặc của cá nhân,
xuất phát từ cái bất biến để đi đến cái vạn biến. Trong các yếu tố văn hoá,
cách ứng xử khi giao tiếp xã hội mà nổi bật là vấn đề lựa chọn phƣơng thức
xƣng hô thế nào để tạo ra quan hệ giao tiếp là vấn đề có ý nghĩa nhân văn sâu
sắc. Nó giúp cho con ngƣời biết vận dụng tri thức văn hoá vào trong giao tiếp
mà mở đầu là xƣng hô với nhau nhƣ thế nào để tạo ra đƣợc một môi trƣờng
giao tiếp nhƣ ý muốn (hoặc trang trọng, hoặc thoải mái, thân mật…). Từ ngàn
xƣa, nét đẹp văn hóa trong giao tiếp ngôn ngữ của ngƣời Việt Nam đã đƣợc
khẳng định nhƣ một nghệ thuật ứng xử:
―Lời nói không mất tiền mua,

25
Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.‖ (Việt Nam Tự điển- Hội
khai trí Tiến Đức khởi thảo. 1954)
Tuy vậy, ―liệu‖ nhƣ thế nào là cả một quá trình trau dồi, lựa chọn tinh
hoa ngôn ngữ - văn hoá trên lĩnh vực giao tiếp, giúp con ngƣời đạt đến đỉnh
cao của nghệ thuật ứng xử.
1.2.1. Nếu khái niệm gia đình đƣợc hiểu theo nghĩa rộng của nó thì con
ngƣời sinh ra và tham gia vào hoạt động giao tiếp ngôn ngữ đầu tiên là môi

vật, nhờ đó ngƣời nói tự quy chiếu, tức tự đƣa mình vào diễn ngôn (tự xƣng)
và đƣa ngƣời giao tiếp với mình (đối xƣng) vào diễn ngôn. [5, 73]
Theo nội dung của các định nghĩa trên, một số quan điểm của các học
giả Trung Quốc đã tách xƣng hô và xƣng gọi thành hai khái niệm khác nhau.
Xƣng hô chỉ mối quan hệ tƣơng hỗ giữa ngƣời nói và ngƣời nghe trong giao
tiếp trực diện, nghĩa là chỉ bao gồm tự xƣng và đối xƣng. Xƣng gọi còn bao
gồm cả đối tƣợng thứ ba (tha xƣng). Trên thực tế, ngôi thứ ba chỉ đề cập tới
nhƣ một khách thể cần nói tới và đƣợc đánh giá khách quan dƣới sự kiểm soát
của ngƣời nói và ngƣời nghe. Trong luận án này, vấn đề xƣng hô đƣợc nghiên
cứu với tƣ cách là những phƣơng tiện dùng để xƣng hô trong giao tiếp trực
diện, không bao gồm tha xƣng.
Xƣng hô là hai mặt tồn tại đồng thời trong một cuộc thoại, xƣng hô
(hay xƣng gọi) bao gồm ―xƣng‖ (tự gọi tên mình) và ―hô‖(gọi tên ngƣời
khác). Có thể nói ―xƣng‖ và ―hô‖ xuất hiện ở hầu hết các cuộc thoại bao gồm
xƣng gọi ít nhất hai đối tƣợng trực tiếp tham gia cuộc thoại và các đối tƣợng
tham gia gián tiếp (không hiện diện hay đối tƣợng thứ ba). ―Ngay cả trong
trƣờng hợp vắng mặt từ xƣng hô, cũng có thể coi là một sự có mặt không hiện
hữu và vẫn chuyển tải một ý nghĩa nhất định.‖ [14, 16]. Ngôn ngữ bao giờ
cũng gắn với tƣ duy (thực hiện một trong những chức năng cơ bản của nó là
nhận thức). Ngƣời ta tƣ duy bằng ngôn ngữ, do vậy, không có ngôn ngữ thì
không có tƣ duy. Ngôn ngữ của mỗi dân tộc phản ánh một cách rõ nét nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status