tóm tắt luận án đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA
CỦA CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ,
CA DAO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số:
62.22.01.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN NĂM 2013

b. Thành ngữ, tục ngữ và ca dao người Việt là sự kết tinh của trí tuệ, tình cảm,
phản ánh muôn mặt đời sống xã hội từ bao đời: những hoạt động tính toán, đo đếm thể
hiện qua sự xuất hiện của các con số cũng xuất hiện với tần số cao trong thành ngữ, tục
ngữ và ca dao. Hiện tượng này cần được khảo sát, phân tích, đánh giá.
Trên đây là những căn cứ lý luận, thực tiễn đồng thời là đòi hỏi cần thiết của việc
nghiên cứu con số. Đây chính là lý do để chúng tôi thực hiện đề tài này.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Lịch sử hình thành con số gắn với lịch sử phát triển của nền văn minh nhân loại.
Sự ra đời của con số có thể nói là một trong những phát minh vĩ đại của nhân loại. Đến
nay, hầu hết trên các lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội đều có những công trình
khoa học nghiên cứu về con số. Ở đây, chúng tôi chỉ hệ thống lịch sử nghiên cứu con số

1 trong ngôn ngữ học và trong văn hóa - văn học dân gian với các thể loại thành ngữ, tục
ngữ, ca dao.
a. Trong ngôn ngữ học, hầu hết các công trình nghiên cứu về tiếng Việt đều đề
cập đến con số từ nhiều phương diện khác nhau: tên gọi, khả năng kết hợp, ý nghĩa ngữ
pháp, việc phân chia thành các tiểu loại, việc sử dụng con số trong thơ văn, trong đời
sống văn hóa.
- Về tên gọi: có tác giả gọi là lượng số (Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Bùi Đức Tịnh),
có tác giả gọi là tính từ (Nguyễn Lân), có tác giả gọi là danh từ số lượng (Đinh Văn
Đức, UBKHXH, ), có tác giả gọi là số từ (đây là xu hướng chung chiếm đa số ý kiến
của các nhà ngôn ngữ học (chẳng hạn: Nguyễn Kim Thản (1963), Đỗ Hữu Châu
(1962), Nguyễn Anh Quế (1976), Hữu Quỳnh (1980), Nguyễn Tài Cẩn (1999), Diệp
Quang Ban - Hoàng Văn Thung (1999), Lê Biên (1998), Đỗ Thị Kim Liên (1999). v.v
- Về khái niệm, hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất, đây là những từ
biểu thị các ý nghĩa về số lượng và thứ tự.
- Về việc phân chia thành các tiểu loại, hiện nay còn có nhiều ý kiến, nhiều cách

nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về con số. Nhất là con số xuất hiện
trong cả ba thể loại thành ngữ, tục ngữ và ca dao. Tuy nhiên, những kết quả đã có được,
có ý nghĩa gợi mở, cung cấp cơ sở lý luận cần thiết cho chúng tôi trong việc nghiên cứu
đặc điểm và ý nghĩa của con số trong đề tài này.
3. ĐỐI TƯỢNG, NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các con số mà người Việt sử dụng xuất hiện
trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao Việt Nam.
3.2. Nguồn tư liệu
Tư liệu dùng để thống kê, tìm hiểu con số của luận án này là các tập sách đã xuất
bản:
- Từ điển thành ngữ Việt Nam, Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân
Thành, Nxb Văn hóa, 1993 (679 trang).
- Kho tàng ca dao người Việt (2 tập), Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật, Nxb
Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002 (2779 trang).
- Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập), Nguyễn Xuân Kính (chủ biên). Nxb Văn
hóa Thông tin, Hà Nội, 2002 (3236 trang).
- Từ vựng chữ số và số lượng, Bùi Hạnh Cẩn. Nxb Văn hoá - thông tin, 1997
(242 trang).
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung xem xét các con số cụ thể xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ, ca
dao người Việt từ góc độ ngôn ngữ học và ngôn ngữ - văn hóa.
4. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
4.1. Mục đích nghiên cứu
Qua khảo sát và nghiên cứu các con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao, luận án
nhằm:
a. Góp phần làm rõ sự hoạt động của các con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
với tư cách là một từ loại trong tiếng Việt.
b. Góp phần phân tích, lý giải ngữ nghĩa, vai trò và các biểu đạt văn hóa của con
số trong ngữ cảnh thành ngữ, tục ngữ và ca dao; đồng thời qua đó làm sáng tỏ quan

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Việt Nam
Chương 4: Vai trò và đặc trưng văn hóa của con số trong thành ngữ, tục ngữ,
ca dao Việt Nam.

4 Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CON SỐ

Trong chương này chúng tôi trình bày những vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc
tìm hiểu về con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao, gồm:
1.1. Khái niệm con số
Con số nằm trong hệ thống các từ thuộc nhiều từ loại khác nhau cùng biểu đạt ý
nghĩa chỉ lượng hay có liên quan đến ý nghĩa chỉ lượng. Trong số đó, số từ là loại
chuyên dụng, điển hình về biểu thị số lượng. Từ các định nghĩa của các nhà nghiên cứu
ngôn ngữ đi trước, chúng tôi xác định: con số thuộc từ loại số từ, là những từ chỉ số
lượng và thứ tự (xác định hoặc biểu trưng) của sự vật.
- Về ý nghĩa: số từ là những từ chỉ số lượng, số thứ tự (chỉ số lượng xác định
hoặc phiếm định, chỉ số lượng cụ thể hoặc biểu trưng).
- Về khả năng kết hợp: số từ có thể kết hợp trước danh từ để biểu thị ý nghĩa số
lượng sự vật nêu ở danh từ; kết hợp sau danh từ để biểu thị ý nghĩa về thứ tự, hoặc đặc
điểm về tổ chức, hoặc đặc điểm về số hiệu của đối tượng được nêu ở danh từ; kết hợp

Kết cấu
Cụm từ cố định.
Câu hoàn chỉnh
Văn bản hoàn chỉnh
Chức năng
văn học
Chức năng
thẩm mĩ
Chức năng thẩm mĩ
Chức năng nhận thức
Chức năng giáo dục
Chức năng thẩm mĩ
Chức năng nhận thức
Chức năng giáo dục
Hình thức
lập luận
Diễn đạt khái niệm,
khái quát hiện tượng
riêng rẽ.
Diễn đạt phán đoán,
khẳng định một thuộc
tính của hiện tượng.
Biểu đạt trữ tình, mang
tính duy cảm.
Chức năng
của các
hình thức
ngôn ngữ
Chức năng
định danh.

nhất. Tuy vậy, có thể xác định theo một số hướng tiêu biểu: nghĩa là một phạm trù
thuộc nội dung; nghĩa là sự phản ánh hiện thực; nghĩa là một sự tổng hợp. Có nhiều
loại nghĩa như: nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, nghĩa ngữ cảnh, nghĩa biểu trưng, nghĩa liên
nhân, hiển ngôn, hàm ngôn.v.v Ở đây chúng tôi tìm hiểu hai loại nghĩa làm cơ sở cho
việc tìm hiểu ngữ nghĩa của con số trong luận án là nghĩa gốc và nghĩa biểu trưng.
- Nghĩa gốc (nghĩa ban đầu, nghĩa từ vựng) của từ là nghĩa được coi là có trước
những nghĩa khác về mặt lịch sử, và mang tính võ đoán (không có lý do).

6 - Nghĩa biểu trưng là loại nghĩa có sự hình dung, tưởng tượng, liên hệ của người
nói, người nghe liên quan đến hiện thực, đây là loại nghĩa có căn cứ, có liên quan đến
nghĩa ban đầu. Nghĩa biểu trưng cũng có thể hiểu là kết quả của sự chuyển nghĩa gốc
(theo phép ẩn dụ hay hoán dụ thông qua sự liên tưởng) sang loại nghĩa tượng trưng,
bóng bẩy và có tính trừu tượng.
Như vậy, để hiểu được nghĩa biểu trưng của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca
dao, cần có những tri thức liên quan đến văn hóa, cách tư duy của người Việt trong đời
sống văn hóa nói chung và trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao nói riêng.
1.4. Vấn đề con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao từ góc độ ngôn ngữ -
văn hóa
Trong sự vận động tồn tại, ngôn ngữ, tư duy và văn hóa luôn đồng hành. Việc
vận dụng ngôn ngữ có ảnh hưởng lớn tới quá trình tư duy và sáng tạo. Vì vậy, tìm hiểu
ý nghĩa của yếu tố ngôn ngữ trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt, nhất thiết
phải tìm hiểu về văn hóa và cho thấy văn hóa của người Việt.
Trong đời sống văn hóa, con số được gắn với nhiều quan niệm khác nhau. Có
con số may mắn, có con số rủi ro, từ đó mà sinh ra con số được ưa chuộng và kiêng kỵ.
Trong quan niệm của người Việt, các con số được chia thành số âm và số dương. Các
con số lẻ một, ba, năm, bảy, chín được gọi là số dương - cương, thiện, đại, chánh,
thành, thực, quân tử, phú, quý, cho (phát ra), động, nóng, phía trên, bên ngoài, sáng,

thể hiện rõ trên cả ba phương diện: ý nghĩa phạm trù, khả năng kết hợp và chức năng
ngữ pháp. Tuy nhiên, nhờ sự chi phối của ngữ cảnh giao tiếp và đặc điểm nghệ thuật
của các thể loại, con số cũng có khả năng chuyển di từ loại. Dưới đây là bảng hệ thống
các từ loại của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao:
Bảng 2.1. Từ loại của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
TT Từ loại
Số lượt
Ngữ cảnh sử dụng
Thành
ngữ
Tục
ngữ
Ca
dao
1 Số từ 719 3477 5157
- Con số chỉ đơn vị
- Con số chỉ thứ tự
- Con số chỉ lượng
- Con số chỉ tuổi tác
2 Danh từ 0 0 694
Con số là danh từ riêng (tên gọi của
người)
3 Tính từ 19 128 185
Con số biểu thị mức độ, đặc điểm, tính
chất nêu ở động từ, tính từ mà nó đi kèm.
2.2. Đặc điểm khả năng kết hợp của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
2.2.1. Khả năng kết hợp của con số với các từ loại khác
Qua khảo sát kết hợp của con số với các từ loại khác trong thành ngữ, tục ngữ,
ca dao chúng tôi có bảng thống kê số lượt kết hợp của con số với các từ loại khác
như sau:

738/
464
Tục
ngữ
7 2 1573

795 6 181

350

214 114 326 37
3605/
2164
Ca
dao
11 1815

1617

63 525

879

491 117 104 318 96
6036/
2953
Ghi chú:

8


2953 (100%)
1463 (49,54)
1490 (50,46%)
Thống kê các kết hợp của con số tạo nên tính nghệ thuật, giá trị biểu trưng trong
các tác phẩm của ba thể loại, chúng tôi có bảng sau:
Bảng 2.5. Kết hợp con số với con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao
Nguyên
tắc kết
hợp
Các cặp
kết hợp
Từ kết hợp với con số
(X - Y)
Mô hình
kết hợp
Thể loại

Số và số
tương
đương
về lượng
một - một
ba – ba
- X-Y là các đơn vị, sự vật đối lập
về tính chất, đặc điểm, trạng thái;
- X-Y là những đơn vị, sự vật
tương đương về đặc điểm, trạng
thái hoặc có quan hệ logic.
số X - số Y
Trong

- X: phụ thuộc vào ngữ cảnh để lựa
chọn;
số-số X
X số-số
Chủ yếu
trong ca
dao

9 năm - sáu
bảy - tám
chín-mười
- X-Y: là những từ chỉ đặc điểm,
tính chất, trạng thái tương đương
hoặc có quan hệ logic với nhau.
số X - số Y
Trong
cả ba
thể loại
Số lẻ -
số lẻ liền
kề
ba - một
một - ba
năm - ba
năm - bảy
X-Y là những từ chỉ đơn vị; chỉ đặc
điểm, tính chất, trạng thái tương

logic với nhau.

số X - số Y
Trong
cả ba
thể loại
Số tăng
tiến từ
bé đến
lớn
có ít nhất
3 số trong
kết hợp
X-Y: là những từ chỉ đặc điểm, tính
chất, trạng thái tương đương hoặc
có quan hệ logic với nhau.
Không có
mô hình ổn
định
Trong
tục
ngữ,
ca dao
(Mô hình kết hợp số số X hoặc X số số chỉ có trong ca dao).
2.3. Đặc điểm chức năng ngữ pháp của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca
dao
Khảo sát chức năng ngữ pháp của con số trong ba thể loại kết quả như sau:
Bảng 2.6. Chức năng ngữ pháp của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Cấp
độ


257
136
Con số làm bổ ngữ

106
76 10 2.4. Tiểu kết
Từ việc khảo sát các đặc điểm ngữ pháp của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca
dao, chúng tôi có mấy nhận xét sau:
Về đặc điểm từ loại, từ loại gốc của các con số là số từ. Khi tham gia vào thành
ngữ, tục ngữ, ca dao, trong một số ngữ cảnh, con số có khả năng chuyển loại thành danh
từ, tính từ. Tuy nhiên, các trường hợp này chủ yếu chỉ xảy ra trong ca dao; thành ngữ và
tục ngữ rất hạn chế.
Về khả năng kết hợp, con số có thể kết hợp với hầu hết các từ loại trong thành
ngữ, tục ngữ, ca dao (trừ một vài trường hợp hạn chế). Từ loại có kết hợp rộng rãi nhất
với con số là danh từ. Khi kết hợp với danh từ, con số thường làm phụ tố trong cụm
danh từ, biểu thị ý nghĩa về số lượng hoặc thứ tự cho danh từ chính. Khi kết hợp với từ
loại động từ hoặc tính từ, con số thường làm phụ tố trong cụm động từ/tính từ, biểu thị
mức độ của hành động, trạng thái, tính chất, được nêu ở động từ, tính từ. Khi kết hợp
với các từ loại như phụ từ (đã, vừa), đại từ (mình, ta), lượng từ (muôn, vài, ), con số
giữ vai trò là chính tố trong cụm số từ.
Các con số khi cùng xuất hiện trong một đơn vị/câu/bài, kết hợp giữa chúng
theo một số nguyên tắc cơ bản: số và số tương đương về lượng, số sau gấp đôi số
trước về lượng, số và số liền kề về logic, số lẻ - số lẻ liền kề, số chẵn - số chẵn liền


Chín

Mười

Số lớn

Tổng
hợp
Th.
Ngữ

S.L.
199/
163
67/
65
130/
126
46/
45
56/
56
30/
30
61/
61
28/
28
32/

7,5/
11,9
100%
Tục
ngữ
S.L.
1286/

1079
481/
414
571/
528
138/

137
145/

141
57/

57
129/
129
117/
115
170/
151
288/
253

Ca
dao
S.L.
2040/

1542
850/
722
878/
764
409/
338
476/

409
120/

112
195/
177
109/
103
284/
262
289/
257
386/
346
6036/
2953

- Tỉ lệ: Gồm hai dòng, dòng trên chúng tôi tính tỉ lệ giữa số lượt của từng con số với
tổng số lượt; dòng dưới là tỉ lệ giữa số câu có con số đó với tổng số câu được khảo sát.
Trong bảng thống kê trên, trong ca dao có 144 lượt / 60 bài có số chỉ thứ tự, tục
ngữ có 425 lượt / 201 câu có số chỉ thứ tự, thành ngữ có 8 lượt / 4 đơn vị.
Từ những kết quả khảo sát trên, luận án tiến hành tìm hiểu ý nghĩa của con số trên
các phương diện: nghĩa gốc và nghĩa biểu trưng của con số trong thành ngữ, tục ngữ,
ca dao.
3.2. Nghĩa gốc của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Con số được sử dụng với nghĩa gốc trong một số ngữ cảnh như:

12 - Con số chỉ thời gian là những ngày, tháng trong năm;
- Con số chỉ tuổi tác;
- Con số chỉ lượng trong những kinh nghiệm sản xuất, sinh hoạt;
- Con số chỉ đơn vị trong những ngữ cảnh đo đếm, tính toán chính xác.
3.3. Nghĩa biểu trưng của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
a. Tổng hợp nghĩa biểu trưng trong cả ba thể loại
Trong phần nghĩa biểu trưng, chúng tôi tách các con số thành hai nhóm: Số chỉ
lượng: những con số lẻ (một, ba, năm, bảy, chín), những con số chẵn (hai, bốn, sáu,
tám, mười), những con số lớn hơn mười (số lớn) và số thứ tự. Qua phân tích, chúng tôi
có bảng hệ thống các ý nghĩa biểu trưng của các con số như sau:
Bảng 3.2. Ý nghĩa biểu trưng của các con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Con số
Nghĩa biểu trưng
Ghi chú
Con
số
lẻ

thể loại
Con
số
chẵn
hai
1. Sự gắn bó 4. Toàn vẹn, tất cả
2. Sự đối lập 5. Hạnh phúc lứa đôi.
3. Ít, thưa thớt
Trong cả ba
thể loại
bốn
sáu
tám
1. Sự toàn vẹn, cân đối, hài hòa
2. Tính quy luật
Trong cả ba
thể loại
mười

1. Nhiều nhất, đầy đủ nhất, toàn vẹn nhất.
2. Dài nhất - chỉ một đời người.
Trong cả ba
thể loại

13
Số
lớn

cả ba thể loại, chúng tôi có mấy nhận xét sau:
- Các con số chẵn được sử dụng ít hơn, ổn định hơn so với con số lẻ về cả tần số
sử dụng và ý nghĩa biểu trưng.
- Các con số lẻ được vận dụng linh hoạt trong rất nhiều ngữ cảnh với những ý
nghĩa biểu trưng phong phú, có khi đối lập nhau trong từng con số.
- Trong trật tự logic, các con số ở giữa (bốn, sáu, tám trong các con số chẵn và
ba, năm, bảy trong các con số lẻ) được sử dụng với ý nghĩa biểu trưng tương đối giống
nhau, có thể thay thế cho nhau trong một số ngữ cảnh (việc lựa chọn con số thay thế có
khi do sự lựa chọn ý nghĩa hoặc yêu cầu hiệp vần trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao quy
định).
b. Một vài nhận xét về con số trong ba thể loại
- Điểm khác biệt
Thống kê những điểm khác biệt trong cả ba thể loại, chúng tôi có bảng sau:
Bảng 3.3. Sự khác biệt qua so sánh con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao
Nội dung so sánh
Thành ngữ
Tục ngữ
Ca dao
Cấp độ ngữ pháp
Từ - cụm từ
Câu
Văn bản
Mô hình kết hợp
SỐ X - SỐ Y SỐ X - SỐ Y
SỐ X - SỐ Y
SỐ SỐ X / X SỐ SỐ
Đặc điểm ý nghĩa
Ý nghĩa hình ảnh
Ý nghĩa phán đoán
Ý nghĩa thẩm mĩ

cũng không ít những điểm do đặc trưng và dung lượng của thể loại quy định. Bởi vậy,
con số trong thành ngữ được vận dụng linh hoạt trong nhiều ngữ cảnh: trong lời ăn
tiếng nói, trong tục ngữ, trong ca dao; con số trong tục ngữ mang tính chính xác nhiều
hơn bởi nó là những phán đoán, những tri thức; con số trong ca dao lại được sử dụng
như một mã thẩm mĩ để biểu đạt cảm xúc trong từng ngữ cảnh cụ thể. Tuy nhiên việc
vận dụng ý nghĩa biểu trưng của con số trong cả ba thể loại tương đối trùng hợp. Điều
đó cho thấy việc sử dụng số là một biểu hiện đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của dân tộc.
- Số lượng ý nghĩa biểu trưng qua phân tích đã tổng hợp được tương đối phong
phú. Tuy nhiên, những quan niệm về con số luôn gắn với ý niệm của con người - mà
con người - đúng như nhận xét của người xưa: chín người mười ý, nên tin chắc những
quan niệm về con số cũng luôn luôn phát triển. Có thể nói, đây là một vấn đề mở trong
những thể loại mở.

15 Chương 4
VAI TRÒ VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ,
TỤC NGỮ VÀ CA DAO NGƯỜI VIỆT

4.1. Vai trò của con số trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao
4.1.1. Con số góp phần tạo cấu trúc nhịp điệu trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Về phương diện nghệ thuật, con số góp phần tạo cấu trúc nhịp điệu trong thành
ngữ, tục ngữ, ca dao như lặp âm, đối thanh (trong đó thanh điệu của hai vế thường đối
lập nhau), thiết lập quan hệ đối ứng giữa các con số hoặc các đơn vị, đặc tính đi kèm
con số để tạo ra ấn tượng về sự tương ứng, sự hài hòa về âm thanh và ý nghĩa.
Bảng 4.1.

riêng
Tục
ngữ
So sánh giữa các vế
gắn liền với con số
Tạo cấu trúc nhịp điệu giữa hai vế qua
từ so sánh; cụ thể hóa về giá trị, số
lượng, mức độ của sự vật, hiện tượng
gắn liền với con số.
Ca dao
Sắp xếp các con số
theo trật tự tăng tiến
trong chuỗi ngữ lưu
Tạo những cấu trúc bất thường, nhịp
điệu dồn dập, diễn tả mức độ phát triển
cao của quá trình gắn với đối tượng đi
kèm con số.
Qua tổng hợp các hình thức, có thể thấy, về cơ bản cách tạo cấu trúc vần điệu của
con số trong cả ba thể loại đều có chung những điểm giống nhau. Điều đó cho thấy
cách nói, cách nghĩ, cách thể hiện của người Việt về ngôn ngữ là thống nhất trong các
ngữ cảnh. Qua con số, chúng ta cũng có thể khẳng định được thành ngữ, tục ngữ, ca
dao là những thể loại mang đậm đặc trưng văn hóa dân tộc là vì vậy. 16 4.1.2. Con số góp phần tạo các biện pháp tu từ trong thành ngữ, tục ngữ, ca
dao
Con số cũng là một trong những phương tiện tu từ của thành ngữ, tục ngữ, ca dao

giữa các đối tượng đi
kèm con số.
sai một li, đi một dặm;
một trống một mái;

3
Lặp (điệp)
số
Con số được lặp lại
trùng điệp qua các vế
câu.
Một thuyền, một lái, một dây
Ngọt bùi ta hưởng, đắng cay ta cùng.
4
Tăng tiến
Các con số tăng dần về
lượng, mức độ qua các
vế.
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu
đèo cũng qua.
4.1.3. Vai trò của con số trong việc biểu hiện thái độ
Con số góp phần biểu hiện thái độ của người nói trong thành ngữ, tục ngữ, ca
dao chủ yếu qua các biện pháp là lặp số (nhấn mạnh ý nghĩa về lượng, bày tỏ thái độ
khẳng định hoặc phủ định đối với vấn đề được nói đến), đảo trật tự cú pháp (nhấn
mạnh, gây sự chú ý về đánh giá), con số đánh giá đứng đầu phát ngôn; kết hợp số và số
(một số kết hợp đặc biệt tỏ thái độ đề cao hoặc xem thường (một hai, một vài, dăm ba).
Tuy nhiên con số biểu thị tình thái chủ yếu chỉ xuất hiện trong ca dao.
4.2. Biểu hiện văn hóa của con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Thực tế cho thấy đối với người Việt, con số có một ảnh hưởng rõ rệt tới mọi lĩnh

biểu hiện mạnh mẽ, giàu tính nghệ thuật, tính biểu trưng.
Với tư cách là một phần phương tiện giao tiếp, con số còn được người Việt sử
dụng để bộc lộ thái độ, đánh giá của mình. Điểm đặc biệt trong thành ngữ, tục ngữ, ca
dao là các con số được biến âm trong văn cảnh như mốt (một), một vài, vài, dăm, vài
ba, dăm ba, dăm bảy hoặc được đặt lên đầu phát ngôn để thể hiện thái độ của người
nói. Đây là một trong những điểm độc đáo về số, tạo nên tính nghệ thuật cho thành
ngữ, tục ngữ, ca dao.
Con số có mặt hầu hết trong mọi lĩnh vực đời sống của người Việt. Từ đời sống
tâm linh đến lời ăn tiếng nói, từ nếp sống sinh hoạt đến kiến trúc nhà cửa, đến chọn
ngày tháng,… người Việt đều rất chú ý đến ảnh hưởng của con số. Điều đó cũng thể
hiện rất rõ trong nhận thức của người Việt về thế giới tự nhiên, con người, xã hội,…
qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao.
18 KẾT LUẬN

1. Con số là một hiện tượng phổ quát của nhân loại. Những ý niệm về số cũng là
vấn đề mang tính phổ niệm. Không một dân tộc nào, một cộng đồng nào trên thế giới
mà sinh hoạt vật chất và tinh thần không có sự gắn bó với con số. Bởi lẽ đơn giản, chức
năng đầu tiên và đặc trưng nhất của con số là chức năng định lượng, tính đếm. Mà con
người, trong mối quan hệ với bản thân và thế giới, gần như không một lĩnh vực nào
không phải tính toán, đo đếm. Chính vì vậy, có thể xuất phát từ nhiều điểm nhìn, nhiều
góc độ để đánh giá về con số.
Từ góc độ ngôn ngữ học, qua thống kê và phân loại tư liệu, có thể thấy: con số
được dùng trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao có tần số sử dụng khá cao, mang tính hệ
thống, khá phong phú và đa dạng về kiểu loại và ngữ cảnh. Đây là một hiện tượng ngôn

tính ổn định, tính quy luật. Riêng con số mười luôn luôn ổn định và trùng với trăm,
ngàn, vạn với ý nghĩa chỉ cái toàn thể, cái trọn vẹn. Các con số lớn hơn mười thường
gặp như mười hai, mười tám, ba sáu,… ý nghĩa biểu trưng thường quy về tổng của các

19 số trong nó; các con số thứ tự tuy xuất hiện không nhiều song hầu như thoát ra khỏi ý
nghĩa định vị, thay vào đó, hầu hết chúng được sử dụng với nghĩa định tính. Có thể
thấy, các con số vừa là số vừa là những ước lệ văn chương trong thành ngữ, tục ngữ, ca
dao.
Ý nghĩa của các con số phong phú hơn khi được đặt trong mối tương quan giữa
số và số. Có thể nói, đây là yếu tố tạo linh hồn cho con số trong các ngữ cảnh của thành
ngữ, tục ngữ, ca dao.
4. Từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa, con số trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao là một
yếu tố nghệ thuật có khả năng tạo nên cấu trúc vần điệu, nhịp điệu, tạo sự hài hòa, cân
đối giữa các vế trong các đơn vị này. Bằng việc lựa chọn con số để tạo vần nhịp và các
biện pháp tu từ khác nhau (như lặp lại con số, sắp xếp sự kết hợp con số theo quy luật
đối thanh hay đối ứng, tương phản về lượng, mức độ), các con số đã góp phần tăng khả
năng biểu đạt, tạo hình thức gọn gàng, nhịp nhàng, dễ nhớ và dễ thuộc cho thành ngữ,
tục ngữ, ca dao. Đặc biệt, trong tục ngữ và ca dao con số có thể tạo những cấu trúc so
sánh, tăng tiến, các kết cấu tầng bậc làm cho văn bản có sức biểu hiện mạnh mẽ, giàu
tính nghệ thuật, tính biểu trưng.
Về biểu hiện văn hóa của con số có thể nói: thành ngữ, tục ngữ, ca dao xuất
phát từ lời ăn tiếng nói của nhân dân, mang đậm đặc trưng ngôn ngữ và bản sắc văn
hóa dân tộc, bởi vậy, nó thể hiện rất phong phú mối quan hệ giữa con người với thế
giới tự nhiên, những kinh nghiệm sản xuất, những tình cảm, ước mong,… của dân tộc.
Trong các tín hiệu ngôn ngữ thể hiện những nội dung đó, có những con số. Con số đã
tham gia vào hầu hết các lĩnh vực mà các sáng tác dân gian đã phản ánh, từ những
nhận thức về vũ trụ, thời tiết, kinh nghiệm lao động sản xuất đến những nhận thức về

2. Bàn về con số Một, Ngữ học Trẻ, 2005.
3. Mấy nhận xét về con số trong Truyện Kiều, Ngôn ngữ và đời sống, H, số 1+2 (in
trong cuốn Nghiên cứu Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XXI, NXB Giáo dục),
2006.
4. Khả năng kết hợp của số từ trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao. Ngữ học trẻ, 2008.
5. Con số Ba trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao người Việt. Ngữ học trẻ, 2009.
6. Con số hai trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao người Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ
- văn hóa, Ngôn ngữ và đời sống, H., số 5, 2010.
7. Con số bốn trong văn hóa Việt Nam qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao, Hội thảo khoa
học Nghiên cứu sinh trường Đại học Vinh, 2010.
8. Sự hoạt động và biến đổi ngữ nghĩa của con số ba trong mối quan hệ với những
con số khác (qua thành ngữ, tục ngữ và ca dao người việt), Từ điển học và Bách
khoa thư, số 1, 2012.
9. Trần Thị Lam Thủy (2013), Bằng lí thuyết tri nhận, giải mã tư duy văn hóa dân tộc
qua những quan niệm về con số, Hội thảo Ngữ học toàn quốc. 21 Công trình hoàn thành tại trường Đại học Vinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status