tóm tắt luận án tiến sĩ đồng âm và đa nghĩa trong tiếng việt (đối chiếu với tiếng hán hiện đại) - Pdf 22

DẪN NHẬP
0.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
ĐÂ&ĐN là HT có tính phổhiều bất đồng, chưa có chuyên luận nào bàn
sâu về HT này. Luận án sẽ khảo quát, nhận được sự quan tâm của các nhà
ngôn ngữ học. Tuy nhiên, HT này và những vấn đề liên quan vẫn còn n sát
một cách toàn diện, hệ thống về HT này trong TV.
0.2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
0.2.1. Ở Việt Nam, trước 1945, HT ĐÂ, ĐN gián tiếp được đề cập tới
trong1 số tự vị, từ điển và trong 1 số công trình cú pháp do người Việt Nam
biên soạn. HT ĐÂ,ĐN trong giai đoạn này tuy chưa được soi rọi dưới góc độ
lí luận song đã hé mở 1 số vấn đề lí luận như: (1) phân biệt những ĐVĐÂ
thuần Việt - ĐVĐÂ gốc Hán khi không có chữ Hán chú kèm, (2) HTĐÂ giữa
từ toàn dân với từ địa phương, (3) phân biệt những ĐV ĐÂ với những
ĐVĐN Những vấn đề lí luận được đề cập tới từ 1945 – 1975 chủ yếu chỉ
liên quan tới lĩnh vực TĐ học. Còn trong giai đoạn từ 1976 tới nay gồm: (1)
Mối quan hệ giữa HTCL của từ với việc hình thành các từ ĐÂ, (2) phân loại
từ ĐÂ, (3) từ ĐÂ dưới góc độ tu từ học, (4) nguồn gốc của từ ĐÂ, (5) giới
hạn của từ ĐÂ và từ ĐN, (6) nguyên nhân hình thành HT ĐÂ,ĐN, (7) phân
biệt từ ĐÂ, từ ĐN, (8) vai trò của văn tự trong nhận diện từ ĐÂ TV, (9) số
liệu về các ĐV ĐN và sự phân bố tỷ lệ ĐN, DLN trong các từ loại chính,
(10) các kiểu quan hệ ngữ nghĩa trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ ĐN, (11)
tiêu chuẩn xác định các ĐVĐÂ ngữ nghĩa (ĐÂCG), (12) tác dụng tích cực,
tiêu cực của từ ĐÂ, từ ĐN, (13) từ ĐÂ, từ ĐN dưới góc độ loại hình học,
(14) lí do hình thành các ĐVĐÂ, (15) đặc điểm của từ ĐÂ TV, (16) tỉ lệ từ
ĐÂ đơn tiết, đa tiết, (17) từ ĐÂ TV dưới góc nhìn của từ ngoại lai…
0.2.2. Ở Trung Quốc, giai đoạn 1950 – 1976, những vấn đề được đề cập
tới là: (1) Quan niệm rộng/hẹp về từ ĐÂ, từ ĐN, (2) phân loại từ ĐÂ, (3) tác
dụng tích cực, tiêu cực của từ ĐÂ, từ ĐN, (4) những phương thức làm biến
đổi ý nghĩa của từ, (5) ĐV cơ bản của nghĩa từ, (6) điều kiện phân li ĐN
thành ĐÂ, (7) nguồn gốc của từ ĐÂ, (8) các kiểu quan hệ ngữ nghĩa trong
cấu trúc ngữ nghĩa của từ ĐN, (9) nguyên nhân sản sinh ra từ ĐÂ, từ ĐN…

ĐÂ vừa ĐN trong THHĐ. Trong một chừng mực nào đó, những số liệu này
sẽ có ích cho việc biên soạn giáo trình, thuận tiện cho việc tra cứu nhanh
trong quá trình học TV, THHĐ. Những số liệu của LA cũng có thể được
dùng cho việc xây dựng ngôn ngữ máy, dịch máy.
0.6. BỐ CỤC LUẬN ÁN
Ngoài Dẫn nhập, Kết luận, luận án gồm 4 chương: Chương 1: Những
cơ sở lý luận chung; Chương 2: Hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt đối
chiếu với tiếng Hán hiện đại; Chương 3: Hiện tượng đa nghĩa trong tiếng
Việt đối chiếu với tiếng Hán hiện đại; Chương 4: Từ đồng âm và đa nghĩa
trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Hán hiện đại. Luận án có 181 trang chính
văn, 207 tài liệu tham khảo và 177 trang phụ lục.
Chương1:
NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
1.1. TỪ VÀ CẤU TRÚC NGHĨA TỪ
2
1.1.1. Là một trong những ĐV cơ bản của ngôn ngữ (âm vị, hình vị, từ,
câu) song cho tới tận bây giờ vẫn chưa có khái niệm nào có đủ sức khái quát
từ của mọi ngôn ngữ. Trên thế giới có 2 quan niệm trái ngược nhau là: (1)
Phủ nhận từ: L.V.Sherba [57]… (2) Thừa nhận từ: V.M.Solncev,
B.A.Serebrennikov [57]… Các nhà Việt ngữ học đều thừa nhận từ song phân
thành 02 khuynh hướng: (1) Khuynh hướng cho tiếng (âm tiết) là từ: Nguyễn
Tài Cẩn [08], Nguyễn Thiện Giáp [44], Cao Xuân Hạo [49], [54], [52],
Nguyễn Quang Hồng [60], [61]… (2) Khuynh hướng cho hình vị là từ:
Nguyễn Kim Thản [120], Đỗ Hữu Châu [16], [21], Trần Ngọc Thêm [128]…
LA tiếp thu những thành tựu của khuynh hướng hai song thấy rằng: giải
thuyết âm tiết/tiếng – từ một tiếng - hình vị là một thể ba ngôi phù hợp và có
lợi cho hướng đi của LA.
1.1.2. Theo John Lyons [89, tr.37-38-57], cùng với các khái niệm ngữ
ngôn (Langue), lời nói (Parole)… khái niệm nghĩa (meaning) và nghĩa của
từ cho tới nay vẫn chưa có sự thống nhất. Luận án quan niệm: “nghĩa của từ

1.3.2. Vai trò của chữ viết biểu ý:
Chữ viết biểu ý (chữ Hán, chữ Nôm…) có vai trò quan trọng trong việc
nghiên cứu HTĐÂ và HTĐN trong TV, THHĐ. Cùng với các tiêu chí âm,
nghĩa, chữ viết tạo thành một bộ tiêu chí quan trọng (hình – âm – nghĩa) giúp
chúng ta phân biệt các ĐV ĐÂĐT và ĐÂDT vốn chiếm một tỉ lệ đáng kể
trong TV và THHĐ.
1.4. KHÁI NIỆM ĐÂ, ĐN VÀ TỪ ĐÂĐN
1.4.1. Theo Keith Brown [206, tr.72] thì: Đồng âm (homonyms) là những
từ/mục từ (lexemes) khác nhau nhưng chia sẻ cùng một hình thức giống nhau”
và: “các từ đồng âm (homophones ) cần phải được phát âm giống nhau” trong
khi “các từ đồng tự (homographs) có chung hình thức viết giống nhau”. Còn
Đa nghĩa (polysemy) có nguồn gốc từ những quá trình và quan hệ ngữ nghĩa –
ngữ dụng trong đó các nghĩa của từ được mở rộng hoặc chuyển đổi thành một
mục từ vựng (lexical item) có nhiều nét nghĩa phân biệt.”
1.4.2. Ở Việt Nam, rất ít công trình đưa ra khái niệm đồng âm và từ đồng
âm. Các công trình này gồm 3 nhóm: (1) Nhóm xác định từ ĐÂ bằng 3 tiêu
chí: giống nhau về văn tự, âm thanh, khác nhau về nghĩa. (2) Nhóm xác định từ
ĐÂ bằng các tiêu chí: giống nhau về hình thức âm thanh, khác nhau về nghĩa
và có thể khác cả về các phương diện ngữ pháp. (3) Nhóm xác định từ ĐÂ dựa
trên 2 tiêu chí: giống nhau về âm thanh, khác nhau về ý nghĩa. Các tác giả
không hiển ngôn khái niệm đồng âm đều đề cập tới 2 tiêu chí: âm giống, nghĩa
khác. Theo chúng tôi, từ ĐÂ trong TV là những từ giống nhau về âm thanh,
khác nhau về nghĩa và hiện không có quan hệ gì với nhau. Khi xác định khái
niệm ĐN, các nhà Việt ngữ học thường dựa trên 2 tiêu chí: SL nghĩa, nét nghĩa
và quan hệ giữa các nghĩa. Đây cũng là quan điểm của luận án.
1.4.3. Ở Trung Quốc, có 2 quan niệm: (1) cho rằng có ngữ âm tương
đồng và ý nghĩa hoàn toàn khác biệt là từ ĐÂ như: Tôn Thường Tự [200],
Lưu Thúc Tân [187]…. (2) Một số tác giả như Trương Vĩnh Ngôn [182] còn
đưa thêm tiêu chí “giống nhau về chữ viết”. Khi xây dựng khái niệm ĐN, các
nhà Hán ngữ học cũng dựa vào 2 tiêu chí: SL nghĩa, nét nghĩa và quan hệ

nghĩa”. Trong TV và THHĐ, tiêu chí thường được dẫn ra liên quan đến vấn
đề này là: “giữa các nghĩa của từ ĐN ± quan hệ về nghĩa”.
1.8. PHÂN LOẠI CÁC ĐVĐÂ, CÁC ĐVĐN VÀ TỪ ĐÂĐN
1.8.1. Việc phân loại các ĐVĐÂ trong các ngôn ngữ như tiếng Anh có
khác biệt so với TV, THHĐ: John Lyons [89, tr.75] phân loại ĐÂ trong
tiếng Anh thành: đồng âm tuyệt đối (absolute homonymy) và đồng âm không
hoàn toàn (partial homonymy). Ở Trung Quốc, Cao Danh Khải [169], Tôn
Thường Tự [200], Chu Tổ Mạc [177] dựa vào nguồn gốc để phân loại các
ĐV ĐÂ, Phù Phó Thanh [189] căn cứ vào 3 tiêu chí hình – âm – nghĩa và
phương thức cấu tạo để phân loại từ đồng âm…. Ở Việt Nam, Nguyễn Thiện
Giáp [44], [47; tr.174-178] chia từ ĐÂ thành: (1) ĐÂ giữa từ với từ (là cơ
bản nhất), (2) ĐÂ giữa ngữ và cụm từ (là sản phẩm hậu kỳ của quá trình sử
5
dụng ngôn ngữ). Nguyễn Văn Khang [69, tr.144,476], Phan Ngọc [100,
tr.67] dựa vào nguồn gốc và phương thức cấu tạo để phân loại các ĐV ĐÂ,
Bùi Minh Toán [133, tr.65] dựa vào phương thức cấu tạo và SLÂT tham gia
cấu tạo để phân loại từ ĐÂ…
1.8.2. Việc phân loại các ĐVĐN cũng có nhiều ý kiến: Phù Phó Thanh
căn cứ vào nghĩa hạng và nghĩa của từ tố, để phân loại từ ĐN; Đỗ Hữu
Châu [19, tr.131] căn cứ vào đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa để phân loại các
ĐVĐN. Nguyễn Thiện Giáp [47; tr.148] thì căn cứ vào các ĐV ngôn ngữ
chia thành: HT từ ĐN và HT ngữ ĐN. Nguyễn Thiện Giáp [47, tr.150] và Lê
Quang Thiêm [130, tr.178-179, 184] còn thống kê phân loại các ĐV ĐÂ,ĐN
của TV dưới góc độ từ loại, SL nghĩa, SLÂT tham gia cấu tạo… Nhìn
chung, các nhà Việt ngữ học khi phân loại các ĐVĐN thường từ các hướng
tiếp cận sau: (1) từ quan điểm hệ thống, cấu trúc luận, (2) từ quan điểm cú
pháp học (từ loại, tôn ty…). Và đều nhấn mạnh đến những ĐVĐN thuộc
ngôn ngữ như: từ ĐN, ngữ ĐN, ĐNBV cố định, ĐNBN… LA sẽ thống kê,
phân loại tất cả những ĐVĐÂ trong TV từ các tiêu chí: ngữ nghĩa, nguồn
gốc, SLÂT tham gia cấu tạo và từ tiêu chí từ loại. LA cũng sẽ phân loại các

các ĐVĐN cũng được phân biệt với nhau bởi các kí số Ả-rập 1, 2, 3…
1.11. TIỂU KẾT
Chương 1 có nhiệm vụ trình bày những vấn đề lí luận cơ bản làm nền
tảng cho việc thống kê, khảo sát và miêu tả những vấn đề liên quan tới
HTĐÂ, HTĐN trong ngôn ngữ nói chung và trong TV, THHĐ nói riêng.
Theo quan điểm của LA, nghiên cứu, tìm hiểu HTĐÂ, HTĐN trong TV,
THHĐ một mặt vừa phải biết kế thừa, nắm vững những thành tựu lí luận của
NNH đại cương, một mặt cần phải xuất phát từ những đặc điểm riêng về loại
hình của đối tượng nghiên cứu. Những cơ sở lí luận được trình bày, thảo luận
trong chương 1 sẽ là cơ sở để LA tiến hành so sánh, đối chiếu HTĐÂ,
HTĐN, từ ĐÂ và ĐN trong TV với THHĐ trong những chương tiếp theo.
Chương 2
HIỆN TƯỢNG ĐỒNG ÂM TRONG TIẾNG VIỆT
ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
2.1. HTĐÂ TRONG TIẾNG VIỆT
2.1.1. Tổng quan về HTĐÂ trong tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập điển hình có nhiều ĐVĐÂ. Trong
TĐTV 2006 có tới 3691 loạt ĐÂ với 8408 ĐV chiếm 21,06 %.
2.1.2. Phân loại HTĐÂ trong tiếng Việt
2.1.2.1. Phân loại HTĐÂ từ tiêu chí nguồn gốc
(1) Những ĐVĐÂ gốc Hán. Thí dụ: đảo chính I,II; tiểu tư sản I,II; xã hội
chủ nghĩa I,II (TĐ tr.992,1140)…(2) Những ĐVĐÂ thuần Việt. Thí dụ: cóc
1,2,3
;
chan chát
1,2
(TĐ tr. 196,132), cọc cà cọc cạch
1,2
… (3) Những ĐVĐÂ có nguồn
gốc Ấn Âu. Thídụ:bít

làm nên diện mạo chính cho HTĐÂ TV. (4) Trong TV, ngữ ĐÂ có SL ít, chỉ
là sản phẩm hậu kì, không phải là “nhân vật chính” của HTĐÂ TV.
2.1.2.3. Phân loại HTĐÂ từ góc độ các đơn vị ngôn ngữ
(1) HT từ đơn tiết ĐÂ với từ đơn tiết. Thí dụ: cóc
1,2,3
(TĐTV tr.196)…
(2) HT từ song tiết ĐÂ với từ song tiết. Thí dụ: độc lập I,II; anh hùng I,II
(TĐTV, tr. 40,07). (3) HT từ đơn tiết ĐÂ với hình vị cấu tạo từ. Thí dụ: sợ
tái
1
cả mặt ___ bệnh cũ lại tái
2
phát. (4) HT ngữ ĐÂ với ngữ. Thí dụ: điều
hòa nhiệt độ I,II; điều khiển từ xa I,II (TĐTV tr.321). (5) HT hình vị ĐÂ với
hình vị. Thí dụ: hóa học - xanh hóa…
2.1.2.4. Phân loại HTĐÂ từ góc độ từ loại
(1) HTĐÂ trong nội bộ một từ loại. gồm 3 loại sau: dt - dt, đg –đg, tt -
tt. (2) HTĐÂ khác từ loại. bao gồm 2 loại là: a) HTĐÂ giữa hai từ loại (với
22 tiểu loại), b) HTĐÂ chuỗi (ĐÂ giữa 03 từ loại trở lên). Với 39 tiểu loại.
Trong đó, ĐÂ giữa dt - đg – tt có SL nhiều nhất.
2.2. ĐỐI CHIẾU MỘT SỐ HTĐÂ TRONG TV VỚI THHĐ
2.2.1. HTĐÂ trong THHĐ nhìn từ tiêu chí SLÂT tham gia cấu tạo
Nhìn từ tiêu chí này, các ĐVĐÂ trong THHĐ bao gồm: (1) các ĐV đơn
tiết (gồm từ và từ tố), chúng có SL lớn nhất như: 叫
1
(jiào) có nghĩa là kêu,
gáy và叫
2
(jiào) có nghĩa là bảo cho, làm cho. (2) Các ĐV đa tiết: (gồm từ và
ngữ) như:案子

8
(3) HT ĐÂĐH giữa từ với từ. Thí dụ: từ song tiết 海口
1
(hǎi kǒu) và海口
2
(hǎi kǒu) (TĐ THHĐ tr. 530; 790)
2.2.2.2. Hiện tượng ĐÂDH trong THHĐ
Khái niệm ĐÂDH dùng để chỉ những ĐV có âm đọc giống nhau, hình
thức văn tự có điểm khác hoặc hoàn toàn khác nhau, có ý nghĩa khác nhau.
Các ĐV này được phân thành: (1) Hình chữ nửa giống nửa khác. Thí dụ: 会
议 (huì yì) chỉ hội nghị và 会意 (huì yì) là hiểu ý, biết ý. (2) Hình chữ hoàn
toàn khác nhau. Thí dụ: 尝 (cháng) là nếm ĐÂ với长 (cháng) là dài. 密封
(mì fēng) là đóng kín, gói kín ĐÂ với蜜蜂 (mì fēng) chỉ mật ong.
Ngoài 02 loại trên, các ĐV ĐÂDH trong THHĐ còn bao gồm: (a) HT
từ và từ tố ĐÂDH như: 布
1
(bù) chỉ vải ĐÂ với 簿(bù) trong簿子 (bù zi) chỉ
sổ sách, vở ghi chép nói chung. (b) HT từ tố và từ tố ĐÂDH như: 躯 (qū) chỉ
thân thể ĐÂ với 祛 (qū) có ý nghĩa là trừ bỏ. Trong THHĐ, những ĐV
ĐÂDH có SL nhiều hơn những ĐV ĐÂĐH và là những ĐV làm nên diện
mạo chính cho HTĐÂ trong THHĐ.
2.2.3. HTĐÂ phái sinh trong THHĐ nhìn từ góc độ cấu từ pháp
Đồng âm phái sinh là khái niệm dùng để chỉ “những từ mà ban đầu có
âm đọc không giống nhau, sau khi âm biến đổi mà trở thành đồng âm” (Phù
Phó Thanh; 1983; tr.77). LA bước đầu tìm hiểu loại ĐÂ phái sinh do 儿化
đưa lại. Thí dụ: 盘(pán): chậu rửa tay >盘儿 (pár): cái khay, cái mâm
牌(pái): nhịp điệu > 牌儿 (pár): tấm biển của cửa hiệu
Khảo sát cặp từ trên ta thấy: khi chưa chịu sự tác động của儿化, chúng
là những từ khác nhau về âm đọc, chỉ giống nhau về thanh điệu và có cùng
một kiểu kết thúc vận mẫu. Sau khi chịu sự tác động của 儿化, chúng trở

NBV: (1) Chỉ âu tàu (nói tắt); (2) Chỉ ụ (để đưa tàu lên thuyền). Những ĐV
có cấu trúc ngữ nghĩa kiểu như từ âu
1
chính là những từ ĐN BV.
3.1.2.2. HT ĐNBN và việc phân loại đa nghĩa biểu niệm
3.1.2.2.1. Hiện tượng ĐNBN
Phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của từ anh (TĐTV, tr. 06) ta thấy: đây là
từ vừa ĐNBV vừa ĐNBN. Cụ thể: Từ anh có 4 NBV. Số lượng nét nghĩa
(cấu trúc NBN) của từ anh như sau: Ở nghĩa 1, có 3 nét nghĩa. Ở nghĩa 2, có
2 nét nghĩa. Ở nghĩa 3, có 2 nét nghĩa. Ở nghĩa 4 có 2 nét nghĩa. Phân tích
cấu trúc ngữ nghĩa của tính từ đỏ (TĐTV, tr. 327) ta lại thấy: đỏ có 4 NBV.
Tính từ đỏ có cấu trúc NBN như sau: Các nghĩa 1 và 2 không bao chứa các
nét nghĩa nhỏ hơn. Các nghĩa 3 và 4 có bao chứa những nét nghĩa nhỏ hơn là:
“Thuộc về cách mạng vô sản; Có tư tưởng vô sản” và: “Có được sự may
mắn ngẫu nhiên nào đó; Trái với đen”. Cả 2 từ anh, đỏ đều là những từ vừa
ĐNBV vừa ĐNBN.
3.1.2.2.2. Phân loại hiện tượng ĐNBN
(1) HT ĐNBN không hoàn toàn: HT ĐNBN không hoàn toàn là HT
mà trong đó một hay hầu hết các nghĩa của một ĐVĐN đều bao hàm các nét
nghĩa nhỏ hơn. Những ĐV có cấu trúc ngữ nghĩa như từ đỏ chính là kiểu
ĐNBN không hoàn toàn.
(2) HT ĐNBN hoàn toàn: HT ĐNBN hoàn toàn là HT mà tất cả các
nghĩa trong cấu trúc ngữ nghĩa của một ĐVĐN đều bao hàm các nét nghĩa
nhỏ hơn. Những ĐV ĐNBN hoàn toàn là những ĐV có cấu trúc ngữ nghĩa
kiểu như cấu trúc ngữ nghĩa của từ anh. Trong TV, những ĐV ĐNBN không
hoàn toàn có số lượng nhiều hơn những ĐV ĐNBN hoàn toàn.
- Từ tiêu chí DLN, các ĐVĐN được phân thành 02 HT: (i) HTĐN
thường gặp và (ii) HTĐN ít gặp.
10
3.1.2.3. Hiện tượng đa nghĩa thường gặp

3.2.1. Các ĐVĐN trong THHĐ
Cũng như TV, HTĐN trong THHĐ cũng có nhiều biểu hiện phong phú:
(1) Từ góc độ các ĐV ngôn ngữ, các ĐVĐN của THHĐ có thể là: những ĐV
đơn tiết, đa tiết (2- 6 âm tiết) như: 插 (chā),尝 (cháng); 有一搭, 没一搭 (yǒu
yī dā, méi yī dā)…; Có thể là từ, ngữ như: 刨 (bào), 报告 (bào gào), 霸王鞭
(b wáng bin); 吃白饭 (chī bái fàn), 站住脚 (zhàn zhù jiǎo)…; có thể là
yếu tố cấu tạo từ như: 阿 (ā), 儿 (ér), 员 (yuán).… (2) Từ góc độ từ loại,
chúng có thể thuộc về các từ loại: dt, đg, hình dung từ như: 阿姨 (ā yí), 安排
11
(ān pái), 安静 (àn jìng)…. Song phổ biến là những ĐV có các nghĩa hạng
thuộc về các từ loại khác nhau như: 犁(lí)…. Trong đó, nhiều nhất là các ĐV
thuộc về dt, đg, hình dung từ. (3) Từ góc độ cấu trúc ngữ nghĩa, các ĐVĐN
của THHĐ có thể là những ĐV ĐNBV như: 扳手 (bān shǒu)…. Có khi là
những ĐV ĐNBT như: 哎 (ài)…. Có khi là những ĐV ĐNBN như: 矛 盾
(máo dùn)….;Có thể là những ĐV được sắp xếp theo các kiểu: từ cụ thể đến
khái quát như:标号(biāo hào)….,theo trật tự dẫn xuất như: 标兵(biāo bīng )
…., theo kiểu “song song” như: 按
1
(ān)…., theo kiểu “hỗn hợp”như: 正面
(zhèng miàn)….; Từ nghĩa đen đến nghĩa bóng như: 帮腔 (bāng qiāng)….;
Theo kiểu đối lập (có những nét nghĩa đối lập nhau trong một cấu trúc ngữ
nghĩa) như: 战败(zhàn bài)…. Song thường gặp nhất là 4 kiểu cấu trúc ngữ
nghĩa sau: Kiểu 1: toàn bộ nghĩa hạng đều là nghĩa của từ như: 缺 (què)
Kiểu 2: chỉ có một hoặc một số nghĩa hạng của từ còn lại là nghĩa của những
từ tố ĐN như: 折 (zhé).… Kiểu 3: từ đã có nhiều nghĩa hạng lại kèm theo
nghĩa của những từ tố ĐN như 风 (fēng)…. Kiểu 4: đều là nghĩa của từ tố
như: 元
1
(yuán)…
3.2.2. Phân loại các ĐVĐN trong THHĐ

với từ

1
trong THHĐ
12
Kết quả khảo sát cấu trúc ngữ nghĩa, khả năng kết hợp… của hoa
1
trong
TV và 花
1
(huā) trong THHĐ cho thấy: (i) Mức độ phát triển nghĩa của
chúng là không như nhau: (花
1
trong THHĐ có DLN cao gần gấp 3 lần hoa
1
trong TV). Nói khác đi, chúng chỉ giống nhau ở nghĩa gốc, nghĩa cơ bản,
khác nhau ở những nét nghĩa phái sinh. (ii) Bên cạnh những điểm tương đồng
ở các nghĩa 1, 2, 3, 6 của hoa
1
trong TV và ở các nghĩa hạng 1, 2, 3, 6 của 花
1
trong THHĐ thì những điểm khác biệt thể hiện ở các nét nghĩa và nghĩa
hạng còn lại trong 2 ngôn ngữ là khá rõ ràng. (iii) Hoa
1
trong TV và 花
1
trong THHĐ đều là những ĐV có khả năng kết hợp với một số yếu tố khác
để tạo ra nhiều ẩn dụ từ vựng cố định trong ngôn ngữ. Trong những ẩn dụ từ
vựng cố định này thì điểm giống nhau là cơ bản, điểm khác biệt là nét không
cơ bản (ẩn dụ liên quan đến hoa

Kết quả khảo sát cấu trúc ngữ nghĩa, khả năng kết hợp… của từ ăn
trong TV với 吃 (chī) trong THHĐ cũng cho thấy: tuy giữa chúng có một số
điểm giống nhau (các nghĩa 1, 6, 7 của từ ăn giống với các nghĩa hạng 1, 4, 6
của từ 吃) song điểm khác biệt giữa chúng vẫn là cơ bản (các nét nghĩa và
các nghĩa hạng còn lại trong 2 ngôn ngữ), cụ thể: (i) Đối tượng mà đg ăn của
13
TV hướng tới là phong phú, đa dạng hơn đối tượng của đg 吃. (ii) Chủ thể
của động từ ăn trong TV cũng đa dạng hơn 吃, (iii) Sắc thái biểu cảm của từ
ăn trong TV cũng phong phú, đa dạng hơn 吃. (iv) Khác với THHĐ, trong
TV, dường như có sự đối lập hay phân biệt một cách khá rõ ràng giữa việc ăn
những thực phẩm có đặc tính đặc với những thực phẩm có đặc tính lỏng.
3.3. TIỂU KẾT
Qua thống kê, khảo sát và so sánh các ĐVĐN trong TV và trong THHĐ
ta thấy: (1) Những điểm tương đồng: (a) Trong TV và THHĐ đều tồn tại một
SL đáng kể các ĐVĐN (từ ĐN, ngữ ĐN) song trung tâm vẫn là từ ĐN. Các
ĐVĐN trong TV và THHĐ đều có chung một qui luật là: những ĐVĐN có
cấu trúc ngắn, thường dùng và là thực từ bao giờ cũng có DLN cao hơn các
ĐV có cấu trúc phức tạp, là hư từ và không thường dùng. Phần lớn các
ĐVĐN thuộc về các từ loại: dt, đg, tt…(b) Căn cứ vào cấu trúc ngữ nghĩa,
tần số sử dụng của các ĐVĐN; căn cứ vào cấu tạo, tầng bậc, sự bao hàm
hoàn toàn hay không hoàn toàn các nét nghĩa trong các nghĩa của từ mà các
ĐVĐN trong 2 ngôn ngữ đều có thể phân thành: (i) HT ĐNBV, HT ĐNBN,
HT ĐNBT. (ii) HTĐN thường gặp và ít gặp. (iii) HT hình vị ĐN, từ ĐN và
ngữ ĐN. (iv) HT ĐNBN (hoàn toàn, không hoàn toàn), (v) HT từ đơn tiết
ĐN, HT từ đa tiết ĐN…. (2) Những điểm dị biệt: (a) Trong THHĐ, các
ĐVĐN có cấu trúc phức tạp và có DLN cao có SL nhiều hơn hẳn TV. Trong
THHĐ, bên cạnh những HT phổ biến như: từ ĐN (từ đơn, từ ghép), ngữ ĐN
còn có cả HT hình vị ĐN. Trong TV không có HT hình vị cấu tạo từ ĐN. (b)
Cấu trúc ngữ nghĩa của các ĐVĐN trong THHĐ có xu thế ổn định hơn, khó
phân rã hơn cấu trúc của các ĐVĐN TV nhờ sự ràng buộc của các yếu tố

Việt ĐÂ với những ĐV thuần Việt như loạt ĐÂ có âm đọc là biểu (TĐTV; tr
66)… (4) Là những ĐV thuần Việt ĐÂ với những ĐV gốc Ấn Âu như loạt ĐÂ
có âm đọc là ba (TĐTV. tr 21)… (5) Là những ĐV hỗn hợp về nguồn gốc
như loạt ĐÂ có âm đọc là ban (TĐTV. tr 28)…
4.3.2. Về dung lượng nghĩa
Những ĐV ĐÂ&ĐN trong khu vực này có DLN thấp. Phần lớn có 2 và
3 nghĩa. ĐV có nhiều nghĩa nhất là 12 nghĩa và chỉ có duy nhất một ĐV là
lại
2
(TĐTV. tr 536)
4.3.3. Về cấu tạo
Chúng có cấu tạo tối đa là 4 âm tiết như: cọc cà cọc cạch
1,2
. Trong đó,
những ĐV có cấu tạo 1 âm tiết như: bê
2
, ải
1
… có SL nhiều nhất, kế tiếp là
những ĐV có cấu tạo 2 âm tiết như: bà mụ
2
, bản vị
1
, bẻ bai
2
, bo bo
4
….
4.3.4. Về quan hệ ngữ nghĩa
4.3.4.1. Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các ĐV trong loạt ĐÂ

ĐÂ&ĐN cùng gốc nghĩa. Trong đó có: 886 loạt (1772 ĐV) chỉ ĐÂ mà
không ĐN, 479 loạt (1029 ĐV) vừa ĐÂ vừa ĐN không hoàn toàn, 115 loạt
(235 ĐV) vừa ĐÂ vừa ĐN hoàn toàn. Với SL lên tới 1480 loạt (3036 ĐV).
4.4.2. Về cấu tạo
Trước hết, phải thấy rõ rằng: những ĐV ĐÂCG và những ĐV ĐÂĐN
cùng gốc nói riêng vốn là những ĐV được sản sinh bằng PTCL. Sự chuyển
loại của chúng có khi diễn ra trong nội bộ một từ loại (dt, đg, tt ), có khi
chuyển hóa thành nhiều từ loại, nhiều nhất là 2 từ loại với các kiểu mô hình:
dt↔đg, dt ↔tt, đg ↔ tt Những ĐV chuyển hóa thành 3 từ loại khác nhau
kiểu: dt – đg –tt rất hiếm gặp. Nhiều nhất là thành 4 từ loại. Chẳng hạn như
loạt ĐÂ có âm đọc là cứ (TĐTV 2006 tr. 228). Trong TV, sự chuyển hóa
trong nội bộ một từ loại của các ĐV ĐÂCG ít hơn sự chuyển hóa thành các
từ loại khác nhau. Sự chuyển hóa khác từ loại có các kiểu sau: (i)Thực từ <-
> thực từ: bừa, cưa (TĐTV 2006 tr. 93; 228)…(ii) Thực từ <-> hư từ: của,
đố (TĐTV 2006 tr. 220; 334)…(iii) Hư từ <-> hư từ: chứ, đã, đếch (TĐTV
2006 tr. 190; 276 ; 309)… Những ĐV ĐÂCG và những ĐV ĐÂ&ĐN cùng
gốc có cấu tạo từ 1- 4 âm tiết, những ĐV có cấu tạo 3, 4 âm tiết rất ít (chỉ có
10 loạt với 20 ĐV) và đều là ngữ. Trong những ĐV có cấu tạo 1 và 2 âm tiết
thì chiếm tuyệt đối là từ đơn tiết, từ song tiết, chỉ có một SL nhỏ là các
YTCTT ( yếu tố phụ trước, phụ sau dt, đg, tt). CácYTCTT này là những ĐV
đơn nghĩa. Chúng có 3 nguồn gốc, nhiều nhất xếp theo thứ tự là: từ Hán Việt,
từ thuần Việt, từ gốc Ấn Âu. Chúng có mặt ở các từ loại cơ bản của TV,
nhiều nhất là: dt, đg, tt, phó từ
4.4.3. Về dung lượng nghĩa
Những ĐV ĐÂCG của TV có biên độ nghĩa khá rộng (có từ 1-18 nghĩa).
Trong đó, những ĐV có 2, 3 nghĩa chiếm SL tuyệt đối. Những ĐV có nhiều
nghĩa nhất là những ĐV đơn tiết và 2 âm tiết, những ĐV có cấu tạo 3, 4 âm tiết
đều đơn nghĩa. Nhiều nhất là thuộc về các từ loại đg, dt, tt Khảo sát 841 ĐV
vừa ĐÂ vừa ĐN trong khu vực ĐÂCG, chúng tôi nhận thấy: giống như các ĐV
ĐN thông thường, các ĐV ĐN trong khu vực ĐÂCG cũng tuân theo quy luật: (i)

(ān),

霸王鞭
1
(b wáng bin) và 霸王鞭
2
(b wáng bin)…
4.5.1. Về số lượng và nguồn gốc
Về số lượng, những ĐV ĐÂKG có SL nhiều hơn những ĐV ĐÂCG.
Trong đó: những ĐV đơn tiết ở cả hai khu vực chiếm số lượng nhiều nhất, kế
đó là các ĐV đa tiết (tuyệt đại bộ phận là những ĐV có cấu tạo song tiết).
Đây cũng là điểm giống nhau giữa TV và THHĐ. Về nguồn gốc, những ĐV
ĐÂKG trong THHĐ cũng là những ĐV có âm đọc ngẫu nhiên giống nhau,
có nghĩa và hình văn tự khác nhau. Còn những ĐV ĐÂCG là những ĐV có
quan hệ về cội nguồn với nhau, có âm đọc giống nhau, có nghĩa khác nhau,
có hình văn tự giống nhau. Giống như trong TV, các ĐV ĐÂCG trong
THHĐ đều có thể truy nguyên về nguồn gốc bằng những thủ pháp về từ
nguyên học, hình văn tự học. Ngày nay, trong phần lớn các trường hợp,
chúng ta thường vẫn cảm nhận được sự liên hệ về ngữ nghĩa giữa chúng.
4.5.2. Về dung lượng nghĩa
Kết quả khảo sát, thống kê ở diện rộng cho thấy: các ĐV ĐÂKG trong
THHĐ là những ĐV có DLN thấp hơn các ĐV ĐÂCG. (ĐVcó nhiều nghĩa
nhất trong khu vực ĐÂCG của THHĐ là đả 打
1
(có tới 25 nghĩa hạng). Đây
là ĐV có nhiều nghĩa hạng nhất trong THHĐ.
4.5.3. Về chữ viết và cấu tạo
Những ĐV ĐÂCG trong THHĐ có cấu tạo từ 1- 4 âm tiết, có hình văn
tự khác nhau. Cụ thể: có hình văn tự khác nhau hoàn toàn ở những ĐV đơn
tiết như: 砹(ài) và爱(ài), khác nhau hoàn toàn hay khác nhau ở yếu tố cấu tạo

(b) Về cơ bản, mối liên hệ ngữ nghĩa giữa các ĐV ĐÂCG trong THHĐ là
vẫn có thể nhận ra. Chẳng hạn như mối liên hệ ngữ nghĩa giữa 2 ĐV ĐÂCG
(bāo jīn)包金
1
và (bāo jīn)包金
2
với nghĩa hạng 1 và nghĩa hạng thứ 12 của từ
包.
(c) Những ĐV vừa ĐÂ vừa ĐN trong khu vực ĐÂCG trong THHĐ cũng
có biên độ nghĩa rộng (từ 2-27 nghĩa). Trong đó, những ĐV có 2, 3 nghĩa chiếm
tỉ lệ lớn nhất. Chúng che phủ tất cả HTĐN trong THHĐ như: ĐNBV, ĐNBN,
ĐNBT, từ đơn ĐN, từ tố ĐN, từ song tiết ĐN, ngữ ĐN.
Khảo sát các YT CTT trong TV, THHĐ và các ĐV dùng chung trong 2
ngôn ngữ ở khu vực ĐÂCG chúng tôi nhận thấy những điểm khác biệt dưới đây:
18
4.6.2. Những điểm khác biệt
(a) Trong khi THHĐ có một SL không nhỏ các YT CTT ĐN thì trong
TV, các YT CTT bao giờ cũng là đơn nghĩa.
(b) Trong TV, các ĐV đơn tiết cùng gốc nghĩa như: cuốc, bào, đục,
cưa luôn có xu hướng phân hóa thành 2 ĐV ĐÂCG. Và thường là chuyển
hóa thành một ĐV dt (chỉ tên gọi) và một ĐV đg (chỉ chức năng) thì trong
THHĐ, những ĐV kiểu này lại có xu thế tích hợp thành những ĐV ĐN
(thường có 2 nghĩa). Trong đó, nghĩa đầu tiên (thường là dt) có chức năng
miêu tả, định danh. Nghĩa thứ 2 (thường là đg) có chức năng mô tả chức
năng của dt đó. Các ĐV đa tiết dùng chung như: âm mưu, anh hùng, ảnh
hưởng, bảo an, báo cáo cũng có xu thế như vậy. Thậm chí đối với các ĐV
đa tiết khác (bao gồm từ và ngữ) như: cá nhân, bộ phận, cá nhân chủ nghĩa
cũng có chung quy luật như vậy. Các xu thế “phân rã”thành 3, 4 hoặc 5 ĐV
ĐÂCG trong TV hiện nay là rất hiếm gặp, nếu có thì chỉ thấy ở những ĐV
đơn tiết. Xu thế “phân rã” áp đảo phổ biến hiện nay trong TV là kiểu “phân

một khối ngữ liệu mà chỉ được tiến hành với quy mô nhỏ và tản mạn, số liệu
đã cũ do được thống kê cách đây trên 20 năm nên đã bộc lộ những điểm
không còn phù hợp nữa. Tuy vậy, có rất nhiều vấn đề có liên quan như: HT
ĐÂĐH, ĐÂDH, HT ĐÂCG, HTCL, HT ĐNBV, ĐNBN, ĐNBT, mối quan
hệ giữa ngôn ngữ với chữ viết… đã được nhiều nhà Việt ngữ học, Hán ngữ
học khảo sát và đề cập tới. Đây chính là những điều kiện quan trọng mà thiếu
nó, chúng tôi sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ đã đề ra. Trên cơ sở thực
tiễn sử dụng TV, thông qua việc thống kê, mô tả số liệu của TĐTV 2006, TĐ
THHĐ 2005, luận án đã xác lập được một cách khá hệ thống những đồng
nhất và khác biệt giữa HTĐÂ, HTĐN cũng như sự khác biệt giữa những ĐV
ĐÂ&ĐN trong khu vực ĐÂCG với những ĐV ĐÂ&ĐN trong khu vực
ĐÂKG trong TV và THHĐ cả ở diện rộng, diện hẹp và ở một số phạm trù cơ
bản; luận án đã xác lập được vị trí, vai trò của những ĐV ĐÂCG trong tổng
thể từ ĐÂ của TV, đã chứng minh được tầm quan trọng của HTCL trong TV.
Cụ thể là:
1.1. Về HTĐÂ, nếu như trong THHĐ vấn đề gây nên tranh luận chỉ
nằm ở một SL nhất định các ĐV ĐÂĐH (các ĐV phân li từ những nghĩa
hạng của một ĐVĐN), còn đại bộ phận các ĐVĐÂ trong tiếng Hán đã có 3
tiêu chí hình, âm, nghĩa ràng buộc và khu biệt thì trong TV, do việc từ bỏ
chữ Hán, chữ Nôm dẫn tới mối quan hệ giữa ba mặt hình, âm, nghĩa của gần
70% vốn từ Hán Việt và một tỷ lệ không nhỏ từ thuần Việt hoàn toàn bị đứt
đoạn, do việc xác định các đối lập cơ bản giữa những ĐV đồng cấp độ như
từ, ngữ… trong TV còn nhiều chỗ đáng phải bàn thêm nên việc nhận diện,
xác định và phân loại các ĐVĐÂ hay ĐN gặp rất nhiều khó khăn, tạo nên
nhiều khu vực có sự tròng tréo hay lưỡng khả mà những ĐV được TĐTV
2006 dán nhãn là ĐÂ ngữ nghĩa là một ví dụ điển hình. Mặt khác, do sự đối
lập giữa những lớp từ loại của TV như: đg - tt, dt - tt… cũng là những chỗ
chưa có được những tiêu chuẩn rõ ràng nên cũng gây ra nhiều tranh luận
trong nhận diện, quy loại, phân loại và xử lý các ĐVĐÂ và ĐN trong TV.
Tiếp đó là những khó khăn không nhỏ do HTCL của các ĐV ngôn ngữ gây

không cơ bản của TV cũng được làm rõ. Đó là các ĐV có một vỏ ngữ âm
ứng với 2, 3 ĐV và kiểu ĐVĐÂ đơn tiết.
Từ tiêu chí phân loại thứ hai (từ tiêu chí từ loại của các ĐVĐÂ) tức là
xuất phát từ tiêu chí ngữ pháp, tức là xuất phát từ bên ngoài, các ĐVĐÂ của
TV sẽ có 3 loại là: ĐÂ cùng từ loại (với 3 tiểu loại kèm danh sách chi tiết);
ĐÂ khác từ loại (với 2 tiểu loại); và các HTĐÂ khác (với 2 tiểu loại). Điểm
mạnh của 2 tiêu chí phân loại này là có thể giải thích được toàn bộ khối ngữ
liệu ĐÂ của TĐTV 2006 mà không gặp bất cứ sự cản trở hay mâu thuẫn nào.
Từ tiêu chí phân loại thứ ba (từ tiêu chí nguồn gốc của các ĐVĐÂ) tức
là xuất phát từ tiêu chí từ nguyên, các ĐVĐÂ của TV sẽ có 3 loại là: ĐÂ Hán
Việt (chiếm đa số), ĐÂ thuần Việt (chiếm tỷ lệ thứ yếu) và ĐÂ Ấn Âu
(chiếm tỷ lệ ít nhất). Từ tiêu chí ± quan hệ ngữ nghĩa, ta sẽ có 2 loại là: từ
ĐÂKG (không có liên hệ, quan hệ gì về nghĩa, chiếm tỷ lệ nhiều nhất) và từ
ĐÂCG (giữa các ĐVĐÂ vẫn còn tồn tại một mối liên hệ mơ hồ về nghĩa
thông qua phương thức chuyển loại của từ (chiếm tỷ lệ thứ yếu).
21
Từ các hướng tiếp cận và phân loại khả quan này, chúng tôi cũng tiến
hành với khối ngữ liệu của TĐ THHĐ 2005 nhằm kiểm tra thêm năng lực
giải thích của những tiêu chí này đối với HTĐÂ của một ngôn ngữ đơn lập
cùng loại hình song kém điển hình hơn TV. Kết quả khảo sát ở diện rộng và
những đối chiếu ở diện hẹp trong 2 ngôn ngữ Việt, Hán đã chứng tỏ ưu điểm
của những tiêu chí phân loại này. Sau đây là những kết luận quan trọng được
rút ra từ việc so sánh đối chiếu HTĐÂ trong 2 ngôn ngữ Việt, Hán:
1.1.1 Nếu như trong TV, HTĐÂ của các ĐV đơn tiết mới là kịch bản
chính (ĐÂ giữa những ĐV đơn tiết với những ĐV đơn tiết là quan trọng) thì
trong THHĐ vấn đề ĐÂ của các ĐV đa tiết (nhất là các ĐV song âm tiết) lại
là vấn đề then chốt. Điều này dẫn tới một hệ quả tất yếu là: trong THHĐ,
HTĐÂ của từ tố là vấn đề quan trọng còn HTĐÂ giữa từ đơn tiết với từ đơn
tiết, giữa từ với từ tố là vấn đề thứ yếu.
1.1.2. Đứng ở góc độ lý thuyết tín hiệu học, THHĐ do có SL âm cơ bản

một số phạm trù phổ quát. Qua việc xử lý TĐTV 2006, chúng tôi thống kê
được 5420 ĐVĐN (bao gồm từ, ngữ ĐN; chiếm 13,58 % khối ngữ liệu của
TĐTV 2006). Chọn hướng phân loại, miêu tả 5420 ĐV này từ tiêu chí: DLN
của các ĐVĐN; SLÂT cấu tạo nên các ĐVĐN và từ tiêu chí từ loại, chúng
tôi thu được kết quả sau:
1.2.1.1. Nhìn từ tiêu chí SLÂT các ĐVĐN của TV sẽ gồm 5420 ĐV. Số
liệu rút ra từ hướng phân loại này đã chỉ rõ đặc điểm của các ĐVĐN trong
TV là: đơn tiết chiếm ưu thế hơn đa tiết, các ĐVĐN trong TV là những ĐV
có cấu tạo đơn giản (từ 1 - 4 âm tiết).
1.2.1.2. Từ tiêu chí DLN, các ĐVĐN của TV có 2 HT thường gặp: (i)
HTĐN thường gặp (có từ 2 - 6 nghĩa) với 5343 ĐV, chiếm 98,58 % các
ĐVĐN. (ii) HTĐN ít gặp (có từ 7 nghĩa trở lên) với 72 ĐV đơn tiết chiếm
1,42 % các ĐVĐN. Số liệu và những phân tích ở hướng phân loại này đã chỉ
rõ: những ĐVĐN thường gặp với hạt nhân là những ĐVcó 2, 3 nghĩa mới là
vấn đề cơ bản của HTĐN TV còn những ĐVĐN ít gặp là HT không cơ bản,
chúng chỉ góp phần tạo nên bức tranh chung về HTĐN TV mà thôi. (iii) HT
đẳng cấu ngữ nghĩa thường gặp trong TV là HT đẳng cấu ở những ĐVcó 2
và 3 nghĩa.
1.2.1.3. Từ tiêu chí từ loại, ta lại thấy được một số khía cạnh khác của
HTĐN TV là: các ĐVĐN có mặt ở tất các các từ loại của TV, nhiều nhất là:
dt, đg, tt… song nếu xét về DLN thì trật tự sẽ là: đg, dt, tt… thực tế này phù
hợp với tỷ lệ của các từ loại trong TV.
Từ 3 tiêu chí tiếp cận trên, đặc điểm của các ĐVĐN TV bộc lộ rõ và cụ thể
qua từng khu vực, từng danh sách và phù hợp với lí luận của NNH đại cương và
lý thuyết tín hiệu học. Đây là những đóng góp quan trọng của LA.
1.2.2. Dựa vào đặc điểm của các ĐVĐN TV, kết hợp với các khái niệm
như: nghĩa, nét nghĩa chúng tôi đề xuất một số thuật ngữ sau đây: ĐN đơn
tiết, ĐN đa tiết, ĐN thường gặp, ĐN ít gặp, ĐNBV đơn thuần, ĐN đa nét
nghĩa không hoàn toàn (ĐNBN không hoàn toàn), ĐN đa nét nghĩa hoàn
toàn (ĐNBN hoàn toàn). Các khái niệm này được xây dựng dựa trên những

cơ bản như: cấu trúc ngữ nghĩa của lớp từ chỉ màu sắc (màu đỏ, màu hồng),
các hoạt động cơ bản nhằm duy trì sự sống (động từ ăn), lớp từ chỉ thực vật
(danh từ hoa) trong 2 ngôn ngữ. Qua phân tích đối chiếu, những điểm tương
đồng và dị biệt về cơ bản đã được miêu tả và làm rõ. Đây cũng là một đóng
góp của luận án.
1.5. Với mục đích: làm rõ thêm những điểm tương đồng và khác biệt
giữa những ĐV vừa ĐÂ vừa ĐN trong khu vực ĐÂKG với những ĐV vừa
ĐÂ vừa ĐN trong khu vực ĐÂCG, tìm hiểu tỷ trọng của những ĐV ĐÂCG
và những ĐV vừa ĐÂ vừa ĐN trong tổng thể từ ĐÂ và từ ĐNTV, chỉ ra
những khác biệt cơ bản giữa những ĐVĐN thông thường và những ĐVĐN
nằm trong khu vực ĐÂCG, trong chưong 4, LA đã đi vào thống kê, mô tả
những ĐV vừa ĐÂ lại vừa ĐN trong 2 khu vực: khác gốc và cùng gốc ngữ
nghĩa về các mặt: cấu tạo, DLN, quan hệ ngữ nghĩa… trong TV và đối chiếu
vấn đề này với THHĐ. Những kết quả đối chiếu rút ra ở khu vực này một lần
nữa đã làm sáng tỏ thêm những đồng nhất và khác biệt về HTĐÂ, HTĐN
trong 2 ngôn ngữ Việt, Hán. Cụ thể là: (1) Những ĐV vừa ĐÂ vừa ĐN trong
24
khu vực ĐÂCG của TV và THHĐ đều là những ĐV được sản sinh bằng
PTCL. Trong TV, sự chuyển loại trong nội bộ một từ loại của các ĐV ĐÂCG
ít hơn sự chuyển hóa thành nhiều từ loại. Trong THHĐ thì ngược lại. (2)
Khác với những ĐV vừa ĐÂ vừa ĐN trong khu vực ĐÂKG (giữa các nghĩa
của một ĐVĐN và các ĐVĐÂ trong loạt không có mối quan hệ hay liên hệ
gì với nhau – võ đoán tuyệt đối), các nghĩa của một ĐVĐN hay một số nghĩa
của chúng với các ĐVĐÂ trong loạt thuộc khu vực ĐÂCG luôn có mối liên
hệ về ngữ nghĩa với nhau mà hiện thời chúng ta vẫn có thể cảm nhận được.
(3) Trong khi TVcó xu thế ĐÂ hóa (tách các nghĩa, các nét nghĩa của những
ĐVĐN thành những ĐV ĐÂCG thì THHĐ lại có xu thế ĐN hóa.…
Trên đây là một số kết quả và những vấn đề còn tồn tại liên quan đến
LA. Chắc chắn có nhiều vấn đề mà hướng giải quyết của LA không phải là
tối ưu, cần bổ khuyết hoặc cần phải được nghiên cứu kĩ hơn trong tương lai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status