VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN KIỀU HUẾ
ĐẶC ĐIỂM CÁC YẾU TỐ HÁN - NHẬT TRONG TIẾNG NHẬT
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học ứng dụng
Mã số:
62 22 01 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI, 2013
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội,
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. Nguyễn Văn Khang
Phản biện 1: GS.TS. Hoàng Trọng Phiến
Phản biện 2: GS.TS. Lê Quang Thiêm
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Xuân Hòa
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học Viện Khoa học
Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam vào hồi …… giờ… ngày tháng … năm
2013
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học Viện Khoa học Xã hội
- Thư viện Viện Ngôn ngữ học
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
dị biệt giữa YTHN và YTHV trên các bình diện trên; 3) Góp phần vào nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ giữa
tiếng Hán với các ngôn ngữ Nam Á như tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Korea (tiếng Triều Tiên và tiếng Hàn
Quốc).
3.2. Nhiệm vụ của luận án
- Hệ thống hoá những lí thuyết cơ bản về hiện tượng vay mượn từ vựng nói chung, về hiện tượng vay
mượn yếu tố Hán trong tiếng Nhật nói riêng nhằm xây dựng cơ sở lí luận của luận án.
- Nghiên cứu những đặc điểm chung về ngữ âm, hình thái - cấu trúc và ngữ nghĩa của các YTHN.
- Những đặc điểm ngữ âm cụ thể trong cách đọc Hán - Nhật của 2098 YTHN.
3
+ Nêu một số nhận xét về sự tương đồng, khác biệt với cách đọc Hán - Việt, sự tương ứng về ngữ âm
giữa các YTHN và YTHV.
- Nêu những đặc điểm hình thái cụ thể của các YTHN (khả năng độc lập, phụ thuộc, vừa độc lập vừa phụ
thuộc; khả năng tạo từ), xác định từ loại, phạm vi nghĩa của các YTHN độc lập (từ Hán - Nhật đơn tự).
+ Lập danh sách các YTHN được sử dụng độc lập với tư cách là từ trong tiếng Nhật.
+ Nêu một số nhận xét về đặc điểm hoạt động của lớp từ Hán - Nhật đơn tự có đối chiếu với lớp từ Hán -
Việt đơn tiết.
- Đối chiếu với các YTHV để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt của YTHN và YTHV.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu, khảo sát của luận án là các YTHN trong tiếng Nhật và các YTHV trong tiếng
Việt. Luận án chủ yếu nghiên cứu, khảo sát đặc điểm của 2098 YTHN Bảng Hán tự thường dụng (1998) của
tiếng Nhật; trong đó, tập trung nghiên cứu, khảo sát nhóm YTHN có khả năng độc lập trở thành từ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu như: phương pháp diễn dịch - qui nạp, phương pháp
đối chiếu, thủ pháp phân tích định tính, định lượng và một số thao tác trong phương pháp thống kê.
6. Ý nghĩa của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ về mặt lí thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và hiện tượng vay
mượn từ vựng, tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán với các ngôn ngữ Nam Á như tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng
4
Korea (tiếng Triều Tiên và tiếng Hàn Quốc) nói chung, hiện tượng vay mượn các yếu tố Hán trong tiếng
Nói đến vay mượn từ vựng không thể không nhắc đến tiếp xúc ngôn ngữ. Tiếp xúc ngôn ngữ có thể xảy
ra bằng các con đường khác nhau và có thể qui về ba kiểu tiếp xúc: tiếp xúc theo con đường của khẩu ngữ,
tiếp xúc theo con đường của sách vở, tiếp xúc theo con đường của cả khẩu ngữ và sách vở. Dịch thuật cũng
được cho là một trong những kiểu tiếp xúc do ảnh hưởng sách vở.
1.1.2.2. Về thuật ngữ “từ vay mượn”
6
Xuất phát từ các quan điểm khác nhau và cách dùng từ trong các ngôn ngữ khác nhau, nên có nhiều thuật ngữ
được sử dụng để chỉ lớp từ này. Trong tiếng Anh có một số thuật ngữ được dùng như sau: “loan” (tiếng Việt
tương đương: “từ mượn”, “từ ngoại lai”), “loan word” (“từ ngoại lai”), “loan translation/ calque” (“phỏng dịch,
dịch, can-ke ngữ nghĩa”), “loan blends” (“từ hỗn hợp ngoại lai”), “borrowed/ borrowing word” (“từ mượn”, “từ
vay mượn”), “hybrid word” (“từ hỗn chủng”), “alien word” và “foreign word” (“từ nước ngoài”),
Trong tiếng Nhật, thuật ngữ 借用語 (“từ mượn”) được dùng để chỉ chung các từ có nguồn gốc nước ngoài
nhưng đã được Nhật hóa về hình thức (ngữ âm, chữ viết), hình thái – cấu trúc và ngữ nghĩa. Lớp từ này được
chia thành hai nhóm là từ ngoại lai (có nguồn gốc từ các ngôn ngữ châu Âu, chủ yếu là tiếng Anh) và từ
Hán.
1.1.2.3. Các cách vay mượn từ vựng
Vay mượn từ vựng có một số cách sau: về mặt ngữ âm, mượn nguyên cách phát âm của tiếng nước
ngoài, phỏng âm, thay đổi hoàn toàn vỏ ngữ âm; về mặt hình thái - cấu trúc, giữ nguyên hình thái - cấu trúc;
về mặt ngữ nghĩa, mượn toàn bộ nội dung ngữ nghĩa, mượn nghĩa hoặc một số nghĩa, mượn có thay đổi ở
mức độ nhất định về nghĩa. Trong tiếng Nhật, đối với các từ có nguồn gốc từ các ngôn ngữ châu Âu phổ biến
là cách mượn gián tiếp qua hình thức phỏng dịch sử dụng từ Hán (ví dụ: pingpon (từ tiếng Anh, nghĩa là
“bóng bàn”) trong tiếng Nhật được dịch thành từ 卓球 [takkyuu]).
7
1.2. Khái quát về từ mượn Hán trong tiếng Nhật
1.2.1. Các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp xúc Hán Nhật
Nhật Bản chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa nói chung và văn hóa chữ Hán nói riêng, đã tiếp
nhận nhiều yếu tố ngôn ngữ - văn hóa của Trung Hoa, đặc biệt, đã hình thành hệ thống từ Hán - Nhật trong
tiếng Nhật. Quá trình tiếp xúc Hán Nhật xảy ra trong các thời kì trong lịch sử hình thành, phát triển của tiếng
Nhật và chịu tác động của sự biến động về chính trị - xã hội. Những biến động về chính trị - xã hội của Nhật
Bản đã tác động không nhỏ đến tiếng Nhật.
cách là từ hoặc yếu tố tạo từ cơ bản và quan trọng trong cả hai ngôn ngữ Nhật và Việt.
1.2.2.3. Phân loại từ Hán - Nhật
Từ Hán - Nhật được chia thành 3 loại lớn: 1) các từ được tạo ra bằng cách chuyển cách đọc Nhật của từ
Nhật đã được viết bằng chữa Hán sang cách đọc Hán - Nhật của những chữ Hán đó (ví dụ: từ Nhật [hoone]
大根 →[daikoN] “củ cải”); 2) các từ được tạo ra theo mô hình cấu tạo của từ Hán (ví dụ: 圏亡 [shooboo]
thiêu vong “chết thiêu”; 3) các từ phỏng dịch sang từ Hán - Nhật các từ nước ngoài (ví dụ: 社圏[shakai] xã
hội).
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM CỦA CÁC YẾU TỐ HÁN - NHẬT
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI CÁC YẾU TỐ HÁN - VIỆT)
Trong quá trình du nhập vào tiếng Nhật, các yếu tố Hán được tiếp nhận và chịu sự chi phối của qui luật
ngữ âm tiếng Nhật. Khái niệm YTHN được hiểu là các đơn vị từ vựng mượn từ tiếng Hán, được viết bằng
một chữ Hán và được đọc bằng âm Hán - Nhật, trong nhiều trường hợp, dưới đây gọi là “tự”.
2.1. Khái quát đặc điểm ngữ âm tiếng Nhật
2.1.1. Đặc điểm chung của ngữ âm tiếng Nhật
10
Tiếng Nhật là ngôn ngữ phách (dưới đây, gọi phách là mora), chỉ có 29 âm và không có thanh điệu.
Tiếng Việt là ngôn ngữ âm tiết tính, có số lượng âm nhiều, cấu trúc âm tiết phức tạp, có thanh điệu.
2.1.2. Đặc điểm cụ thể của ngữ âm tiếng Nhật
Tiếng Nhật có 20 phụ âm đầu, 5 nguyên âm đảm nhiệm vai trò âm chính, 3 âm đặc thù, về cơ bản không
có phụ âm cuối nên được coi là ngôn ngữ âm tiết mở.
Tiếng Việt có 22 phụ âm đầu, 16 âm chính và 8 âm cuối, trong đó, 6 phụ âm cuối là âm đóng nên được
coi là ngôn ngữ âm tiết đóng.
2.2. Khảo sát đặc điểm ngữ âm của các yếu tố Hán - Nhật
2.2.1. Đặc điểm chung về ngữ âm của các yếu tố Hán - Nhật
2.2.1.1. Một số đặc điểm về cách đọc Hán - Nhật
Hệ thống cách đọc Hán - Nhật nằm gọn trong hệ thống ngữ âm tiếng Nhật. Âm của các yếu tố Hán được
đơn giản hóa về thanh điệu, thanh mẫu, vận mẫu, phụ âm cuối. Chẳng hạn, âm ngắt hình thành để đọc các
âm Hán có thanh 4 (ví dụ: 突 đột [tot-tsu]). Hầu hết các âm Hán - Nhật là các âm mở và thường có một hoặc
hai mora.
Cách đọc Hán - Việt cũng nằm gọn trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt.
], 昇 [sho:] thăng [t’ăŋ
1
], 俸[bo:] bổng [boŋ
3
]
2.2.2.2. Phần vần của các yếu tố Hán - Nhật
Năm nguyên âm của tiếng Nhật tương ứng với năm nguyên âm của tiếng Việt là “a, i, u, e,o”. Các
nguyên âm khác trong âm tiết âm Hán - Nhật tương ứng với các âm của các YTHV như sau:
Bảng 2.12. Bảng đối chiếu nguyên âm Hán - Nhật và các nguyên âm Hán - Việt
Tiếng
Nhật
Tiếng
Việt
Ví dụ
Chữ Hán Hán - Nhật Hán - Việt
[-e-]
[-ie-] 兼 [ken] kiêm [kiem
1
]
[-wie-] 兼 [ren] luyến [lwien
5
]
[-yo:-] [-iew] 兼 [kyo:] kiều [kiew
2
]
[-yu:-] [-ɯw] 兼 [yu:] ưu [ɯw]
[-ɯi] [-wi] 兼 [sɯi] suy [swi
1
]
2.2.2.3. Âm cuối của âm Hán - Nhật
tạo từ Hán - Nhật đa tự; bao gồm 372 danh từ, hơn 200 động từ, còn lại là tính từ, phó từ, hoặc các từ có
nhiều tính chất từ loại. Ví dụ: 点 [ten] điểm, 圏 [tetsu] thiết, 圏 [zei] thuế. Một số nhóm gắn thêm phụ tố hình
thái như là một biểu hiện của sự đồng hóa trong tiếng Nhật. Ví dụ: nhóm động từ gắn “する”, “じる”/ ずる”,
“む” (ví dụ: 制 (chế) する, 存 (tồn) じる, 力 (lực) む); nhóm tính từ gắn “兼” (ví dụ: 敏 mẫn, 純 thuần).
3.2.2. Yếu tố Hán - Nhật có khả năng tạo từ
Căn tố: hầu hết các YTHN tham gia tạo từ. Ví dụ: 圏, 胃, 脈, 詩,茶, 圏.
Phụ tố: bao gồm phụ tố chỉ người (兼 nhân, 兼 viên, 兼 sĩ, 兼 giả), phụ tố có chức năng chuyển đổi từ loại,
biểu thị nghĩa phủ định, nghĩa hoàn thành/chưa hoàn thành, trạng thái (ví dụ: 兼 bất, 兼 vô, 兼 hóa, 兼 nhiên
trong 不安定, 無圏係, 近代化), các phụ tố là trợ số từ (tương đương từ chỉ loại trong tiếng Việt, ví dụ: 兼, 兼, 兼,
兼, 兼, 兼).
15
Hầu hết các YTHN đều có khả năng kết hợp cao, có thể xuất hiện ở cả hai vị trí (trước và sau). Kết quả
khảo sát 1.232 YTHN, cho thấy: 26 yếu tố chỉ đứng trước, ví dụ: 兼, 兼, 兼; 17 yếu tố chỉ xuất hiện ở vị trí
cuối của từ, ví dụ: 濯, 牲, 肪, 穫, 祉, 圏, 圏, 何, 唆, 鳴, 圏.
3.2.3. Yếu tố Hán - Nhật không có khả năng tạo từ
Những yếu tố không xuất hiện trong bất kì tổ hợp nào hoặc chỉ xuất hiện trong tổ hợp cố định được coi
là các yếu tố không có khả năng tạo từ. Có rất ít các yếu tố Hán không tham gia tạo từ, điều này chứng tỏ sự
cần thiết và khả năng tạo từ cao của các yếu tố này.
Trong 1232 YTHN, có 7 yếu tố Hán (≈ 0,56%) không xuất hiện trong bất kì từ Hán - Nhật nào: 勺, 喝,
朕, 垣, 坪, 圏, 圏; 9 yếu tố Hán (≈0,73%) chỉ xuất hiện trong duy nhất một tổ hợp hai yếu tố Hán, ví dụ: 濯
(洗濯),眺 (眺望) , 矛, 盾 (矛盾) , 祉(福祉), 肪(脂肪), 努 (努力).
Trong tiếng Việt, những YTHV được cho là chưa có khả năng tạo ra các đơn vị đa tiết Hán - Việt mới
chiếm khoảng 5%.
3.3. Đặc điểm đồng hóa về hình thái - cấu trúc của các yếu tố Hán - Nhật
3.3.1. Sự thay đổi cương vị ngữ pháp của các yếu tố Hán - Nhật
Sự đồng hóa các YTHN làm thay đổi cương vị ngữ pháp (giáng cấp cương vị ngữ pháp từ từ chuyển
xuống hình vị hoặc tăng cấp cương vị ngữ pháp từ hình vị lên từ). Ví dụ: 圏 huỳnh: trong tiếng Hán là danh
từ, nghĩa là “con đom đóm”, trong tiếng Nhật chỉ là hình vị (ví dụ: 圏光); 逸 dật: trong tiếng Hán là hình vị,
trong tiếng Nhật được sử dụng như động từ (ví dụ: 好機を逸する tuột mất cơ hội).
16
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ HÁN - NHẬT
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI CÁC YẾU TỐ HÁN - VIỆT)
4.1. Nhận xét chung
Các YTHN xuất hiện lẻ tẻ hoặc theo nhóm (tạo thành các trường từ vựng - ngữ nghĩa) với số lượng lớn
trong hệ thống từ vựng tiếng Nhật, là sự bổ sung tích cực, hoàn thiện hệ thống từ vựng tiếng Nhật.
18
4.2. Đặc điểm về khả năng tham gia vào các trường từ vựng - ngữ nghĩa của các yếu tố Hán - Nhật
4.2.1. Cách du nhập lẻ tẻ
Cách du nhập lẻ tẻ là hình thức du nhập phổ biến của mọi từ vay mượn. Với cách du nhập này, các từ
Hán - Nhật đơn tự đã bổ sung thêm các từ biểu thị khái niệm mới vào các trường từ vựng - ngữ nghĩa sẵn có
trong từ vựng tiếng Nhật. Các từ Hán đơn tiết du nhập vào tiếng Nhật hầu như theo cách mượn lẻ tẻ ngoại trừ
một số nhóm từ vựng chỉ thời gian, liên quan đến văn hóa, tôn giáo và kĩ thuật.
Sự vay mượn các từ đơn lẻ bổ sung sự thiếu hụt một số từ cho các trường từ vựng - ngữ nghĩa sẵn có
trong tiếng Nhật; điển hình là sự thiếu hụt các từ ngữ biểu thị các khái niệm trừu tượng, phức tạp. Tuy nhiên,
những khái niệm này phần lớn chỉ có thể được biểu đạt bằng những từ Hán - Nhật đa tự; do đó, du nhập
không nhiều các từ Hán - Nhật đơn tự. Chẳng hạn, 9 từ (so với 73 từ Hán - Việt) được bổ sung vào trường từ
vựng thân thể, 2 từ được bổ sung vào trường từ vựng động vật (trong tiếng Việt là 177 từ). Hàng loạt các từ
mang khái niệm mới bổ sung cho các trường từ vựng khác, ví dụ: 兼 biểu, 兼 đồ, 兼 thuyết. Sự khác biệt
giữa các từ Hán nhập lẻ tẻ trong hai ngôn ngữ có thể xuất phát từ sự khác biệt về các yếu tố liên quan đến
điều kiện tự nhiên, sự khác biệt về lịch sử tiếp xúc Hán Việt và Hán Nhật. Chẳng hạn, Nhật Bản là một đảo
quốc biệt lập với đất liền, cách xa Trung Hoa nên sự tiếp xúc Hán Nhật cũng như tầm ảnh hưởng của nền văn
hóa Trung Hoa không sâu đậm và mang tính liên tục như tiếp xúc Hán Việt; sự tiếp xúc song ngữ Hán Nhật
19
chủ yếu diễn ra gián tiếp qua con đường của sách vở, ít diễn ra giao tiếp trực tiếp trên phạm vi rộng và kéo
dài liên tục như Việt Nam.
4.2.2. Cách du nhập theo nhóm
Do du nhập với số lượng lớn nên bên cạnh cách du nhập lẻ tẻ thì trong cả tiếng Nhật và tiếng Việt còn có
sự du nhập theo nhóm của các yếu tố Hán.
Trong tiếng Nhật, du nhập các nhóm từ chỉ các đơn vị hành chính (ví dụ: 都 đô, 府 phủ, 圏 huyện, 市 thị, 町
đinh, 村 thôn, 圏 khu), nhóm từ chỉ đạo đức trong xã hội phong kiến Trung Hoa (ví dụ: 忠 trung, 孝 hiếu, 圏 lễ,
vật du nhập vào tiếng Nhật đều là hình vị: chỉ có 2 từ chỉ động vật, 2 từ chỉ thực vật (菊 cúc, 蘭 lan) vì trường từ
vựng động vật - thực vật trong tiếng Nhật khá phong phú.
Trong tiếng Việt, việc mượn các từ Hán đã có từ Việt tương đương cũng rất điển hình. Trong 2998 YTHV
trong “Tam thiên tự” có 85% yếu tố được định nghĩa bằng từ Việt tương đương đồng nghĩa. Ví dụ: thiên - trời,
địa - đất, cử - cất, tồn - còn, tử - con, tôn - cháu,
4.4. Đặc điểm về sự biến động về ngữ nghĩa của từ Hán - Nhật đơn tự
4.4.1. Đặc điểm chung
Trong quá trình vay mượn, các đơn vị từ vựng nước ngoài được mang vào trong ngôn ngữ đi vay nội dung
ngữ nghĩa ở các mức độ khác nhau tùy theo nhu cầu vay mượn của các ngôn ngữ đó; diễn ra dưới tác động của
các nhân tố: đặc điểm về loại hình học giữa hai ngôn ngữ, tác động của sự đồng hóa ở các bình diện ngữ âm,
hình thái học (cả chữ viết); quá trình tiếp xúc, các đặc điểm về văn hóa - xã hội của các quốc gia. Các mức độ
vay mượn ngữ nghĩa thể hiện cụ thể: (1) giữ nguyên nghĩa và không thay đổi cương vị ngữ pháp (ít xảy ra), (2)
giữ nguyên nghĩa nhưng thay đổi cương vị ngữ pháp, (3) thay đổi nghĩa nhưng không thay đổi cương vị ngữ
22
pháp, (4) thay đổi nghĩa và thay đổi cương vị ngữ pháp. Ba trường hợp còn lại giữ nguyên nghĩa nhưng thay
đổi cương vị ngữ pháp. Các YTHN trong tiếng Nhật và tiếng Việt cũng diễn ra sự biến động về nghĩa theo
hướng này.
4.4.2. Sự bảo lưu nghĩa của từ Hán - Nhật đơn tự
Sự bảo lưu nghĩa của các từ Hán - Nhật là sự giữ nguyên nghĩa vốn có khi du nhập vào tiếng Nhật diễn
ra với các mức độ và cách thức khác nhau. Trường hợp giữ nguyên nghĩa thường xảy ra với các từ mượn
Hán biểu thị những khái niệm mới chưa có từ tương đương trong tiếng Nhật. Đó là các từ mượn Hán thuộc
trường từ vựng vật dụng, động vật, bộ phận cơ thể, một số đơn vị đo lường, một số các từ thuộc các lĩnh vực
tư tưởng triết học, tín ngưỡng đều được mượn nguyên khối, giữ nguyên nghĩa và trở thành từ trong tiếng
Nhật. Ví dụ: 圏 bình, 晩 vãn (tối), 弦 huyền, 積 tích, 像 tượng. Các từ Hán - Nhật đơn tự được giữ nguyên
nghĩa gốc và cương vị ngữ pháp không có nhiều. Điều đáng lưu ý là khi xuất hiện trong văn nói có một số từ
phải sử dụng kèm với các từ bổ nghĩa phía trước, hoặc xuất hiện trong các cụm từ cố định như dấu hiệu hạn
định để phân biệt với các đơn vị đồng âm khác. Ví dụ: 侯 (秋冷の侯), 圏 (圏を圏くす). Các từ chỉ dụng cụ, đồ
vật, chỉ người, các từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán khi vào tiếng Nhật thường trở thành trợ số từ (ví dụ:
杯 bôi, 台 đài, 冊 sách, 頭 đầu, 足 túc).