tóm tắt luận án đổi mới tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở việt nam - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Dân chủ Xã hội chủ nghĩa (XHCN) là một hình thức chính trị -
nhà nước của xã hội, thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, thừa
nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực. Chính vì vậy, dân chủ vừa là mục
tiêu vừa là động lực cho sự phát triển của công cuộc đổi mới đất nước.
1.2. Trong bộ máy nhà nước ta, HĐND các cấp là cơ quan quyền lực
nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra, đại diện
cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương.
Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Đảng và Nhà nước
ta đã quan tâm đến việc xây dựng, củng cố và phát triển HĐND, vì thế
HĐND đã làm được nhiều việc ích nước, lợi dân, đã thể hiện được vai trò
là cơ quan đại biểu của nhân dân, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân để
xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng ngày càng lớn mạnh.
Tuy nhiên, do HĐND ở nhiều cấp, chúng ta lại chưa quan tâm đúng
mức đến vấn đề xây dựng mô hình từng cấp và tổng kết kinh nghiệm trong
hoạt động của HĐND, vì thế trên thực tế cả về mặt tổ chức cũng như hoạt
động của HĐND các cấp vẫn còn là một trong những khâu yếu kém trong
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
1.3. Cải cách hành chính nhà nước đặt ra yêu cầu cấp thiết là cải cách
tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, xác định rõ chức năng,
nhiệm vụ, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan, giữa
các cấp chính quyền. Hiện nay, Quốc hội giao cho Chính phủ thực hiện
thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường với
mục đích qua thí điểm sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương
sửa đổi pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương, đảm bảo tính
thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà
nước từ trung ương đến địa phương.
1
1.4. Thực hiện đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện nền dân
chủ ở Việt Nam, về cải cách hành chính nhà nước cho nên việc nghiên cứu

HĐND trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam
hiện nay, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động HĐND
trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở nước ta hiện nay.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của
HĐND ở nước ta trong thời gian qua và hiện nay.
- Xác định quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp đổi mới tổ
chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nền
dân chủ ở Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Lịch sử, phân tích, tổng hợp,
chứng minh, so sánh, thống kê, lôgic, nghiên cứu tài liệu, lý luận kết hợp với
thực tiễn…
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án sẽ đóng góp vào lý luận về đổi mới tổ chức và hoạt động
HĐND ở nước ta hiện nay; đó là những nhận thức mới về dân chủ, dân chủ
trong tổ chức, hoạt động của HĐND. Phát hiện và giải quyết những mâu
thuẫn trong tổ chức và hoạt động của HĐND ở nước ta hiện nay, làm sáng tỏ
lý luận về sự phù hợp giữa tổ chức và hoạt động của HĐND với quá trình
xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam, từ đó đề xuất phương hướng
3
và giải pháp đổi mới tổ chức HĐND ở nước ta hiện nay. Như vậy, luận án sẽ
góp phần bổ sung và hoàn chỉnh cơ sở khoa học của việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở
Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

hiện dân chủ ở nước ta trong những năm gần đây cần kể đến các bài viết
của GS.TS Nguyễn Phú Trọng, GS.TS Lê Hữu Nghĩa, PGS.TS Trần
Quang Nhiếp, Nguyễn Văn Thảo; Phùng Văn Tửu, GS.TS Hoàng Chí Bảo,
GS.TS Hoàng Văn Hảo, PGS.TS Nguyễn Đăng Dung và của các tác giả
khác trên Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Nghiên cứu
lập pháp và các tạp chí chuyên ngành khác. Các bài viết đã đề cập ở cấp vĩ
mô hoặc chuyên sâu các vấn đề lý luận - thực tiễn của dân chủ và dân chủ
hóa trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay; về lịch sử, khái niệm, phạm trù, nội dung của dân chủ; xác lập
quan điểm, nguyên tắc và giải pháp thực hiện cơ chế thực hiện dân chủ ở
nước ta.
Tuy nhiên, liên quan nhiều hơn đến vấn đề của luận án là các công
trình nghiên cứu quan trọng và mang tính hệ thống cao như: Đề tài
khoa học với số đăng ký: 96-98-043/ĐT "Tổ chức thực hiện quyền lực
nhân dân và mối quan hệ giữa nhà nước và công dân" (Hà Nội, 2000
do TS. Đinh Văn Mậu Chủ nhiệm và TS. Phạm Hồng Thái làm Thư
ký); "Dân chủ và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn"(Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2001 của TS Nguyễn Tiến Phồn); "Các đoàn thể
5
nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay" (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2003, Phan Xuân Sơn (chủ biên); "Quy chế thực hiện
dân chủ ở cấp xã- một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000, PGS.TS Dương Xuân Ngọc (chủ biên); "Một
số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay" (Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2004, TS Đỗ Trung Hiếu) và nhiều công trình
khác của các tác giả và tập thể tác giả của Văn phòng Quốc hội, Viện
Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Trung tâm nghiên cứu
quyền con người - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh… Những
bài viết và đề tài nghiên cứu này chủ yếu đề cập nhiều đến những vấn
đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân chủ, nội dung, cơ chế và phương

chủ cơ sở thông qua việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh
vực chính trị, kinh tế, tư tưởng và văn hoá - xã hội, chú trọng xây dựng các
thôn, làng tự quản.
- Đề tài cấp Bộ: "Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm xây
dựng mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo tinh
thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá X" do PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh làm
chủ nhiệm, bảo vệ thành công năm 2009. Đề tài gồm 3 chương hướng tới
giải quyết 03 vấn đề sau: Chương 1 nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc
xây dựng mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo
Nghị quyết Trung ương 5 khoá X. Chương 2 của đề tài tập trung nghiên
cứu cơ sở thực tiễn của việc xây dựng mô hình tổ chức bộ máy chính
quyền địa phương theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá X.
Chương 3 của đề tài các tác giả đã chỉ ra một số vấn đề đúc kết từ nghiên
cứu cơ sở lý luận và thực tiễn tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo
tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa X. Kết quả nghiên cứu của đề tài
có giá trị cả về lý luận và thực tiễn là tài liệu tham khảo quý cho những nhà
nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt
Nam hiện nay.
7
- Đề tài cấp Bộ: “ Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức
và hoạt động của Hội đồng nhân dân địa phương” (góp phần sửa đổi chế
định Hội đồng nhân dân trong Hiến pháp năm 1992) do GS.TS Thái Vĩnh
Thắng làm chủ nhiệm, bảo vệ thành công năm 2012. Đề tài là một công
trình công phu với gần 500 trang của tập thể các tác giả có uy tín và kinh
nghiệm trong nghiên cứu về Bộ máy nhà nước nói chung và HĐND nói
riêng. Đề tài gồm 4 chương hướng tới việc giải quyết những nội dung như
sau: Nghiên cứu vị trí, vai trò, chức năng của HĐND trong tổ chức chính
quyền địa phương giai đoạn xây dựng nền kinh tế thị trường, nhà nước
pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế; Nghiên cứu phân định rõ chức
năng, nhiệm vụ của HĐND, UBND và cấp ủy đảng các cấp. Phân biệt

động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp,
Hà Nội. Đặc biệt trong phần III của cuốn sách, các tác giả đã tập trung
phân tích khái quát về thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương ở Việt Nam; nêu lên những nguyên tắc xác định mô hình tổng thể
tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và đề xuất mô hình tổng
thể về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong Nhà nước
pháp quyền XHCN. Trong đó các tác giả đặc biệt quan tâm đến việc xác
định tính chất, vị thế của HĐND trong nhà nước pháp quyền. Theo các tác
giả, đã đến lúc phải thừa nhận tính chất tự quản của HĐND nhưng không
vì thế mà phủ nhận tính chất quyền lực của cơ quan này. Theo đó, HĐND
vẫn có vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương, lại vừa có vị trí
là cơ quan đại diện cho cộng đồng dân cư để quyết định những vấn đề của
địa phương và thực hiện thẩm quyền quản lý nhà nước.
- GS.TSKH Đào Trí Úc, PGS.TS Phạm Hữu Nghị (đồng chủ biên)
(2009), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Từ điển bách
khoa, Hà Nội. Cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả, như:
GS.TSKH Đào Trí Úc, PGS.TS Phạm Hữu Nghị, TS.Nguyễn Minh Đoan,
9
PGS.TS Bùi Xuân Đức, PGS.TS Nguyễn Như Phát, PGS.TS Lê Minh
Thông, TS. Nguyễn Thị Việt Hương, PGS.TS Võ Khánh Vinh, PGS.TS
Dương Đăng Huệ, PGS.TS Hà Thị Mai Hiên… Hầu hết các bài viết tập
trung phân tích các yếu tố đảm bảo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam như: định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền,
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong nhà nước pháp quyền, khắc phục
sự chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ giữa các cơ quan Đảng và chính
quyền, vai trò của Nhà nước, quyền công dân, xã hội dân sự, phân cấp
quản lý, hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp… Trong đó PGS.TS Lê Minh
Thông đã tập trung phân tích làm rõ vai trò của phân cấp quản lý trong
việc đảm bảo thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, xác định rõ mối

trong mỗi chương, tác giả đều dành những phần riêng cho nghiên cứu về
chính quyền địa phương, chỉ ra những ưu điểm và những hạn chế của
chính quyền địa phương, xác định đổi mới chính quyền địa phương là tất
yếu. Tác giả cũng đã đề cập đến một số cơ sở lý luận và thực tiễn cho
việc đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong
giai đoạn hiện nay.
- PGS.TS Lê Minh Thông, Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND
và UBND các cấp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/1999. Bài viết đã
nhấn mạnh đến vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ mối quan hệ quyền lực
giữa bộ máy nhà nước ở trung ương và bộ máy quyền lực nhà nước ở địa
phương. Tác giả khẳng định cần phải có các biện pháp bảo đảm để
HĐND có thực quyền, tránh tính hình thức của HĐND. Theo tác giả, để
HĐND có thực quyền, cần xem xét lại tính chất "quyền lực" của HĐND,
cần đổi mới cách nhìn nhận về tính chất vai trò của HĐND theo hướng
xem HĐND là cơ quan tự quản ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa
phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và trước cơ
quan nhà nước cấp trên.
11
- Trương Đắc Linh, Bàn về khái niệm chính quyền địa phương, Tạp
chí Khoa học pháp lý số 2/2001. Tác giả khẳng định, hiện nay vẫn tồn tại
nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chính quyền địa phương, tuỳ theo
từng giác độ nghiên cứu nhất định mà có thể tiếp cận khái niệm chính quyền
địa phương theo nghĩa rộng hoặc theo nghĩa hẹp. Tác giả cho rằng, theo
nghĩa hẹp nếu quan niệm chính quyền địa phương chỉ bao gồm HĐND và
UBND là chưa đầy đủ. Bởi vậy, theo tác giả chính quyền địa phương ngoài
cơ cấu gồm HĐND và UBND còn có thêm các cơ quan chuyên môn thuộc
UBND. Đây là cách tiếp cận khá mới, mở ra hướng nghiên cứu mới về chính
quyền địa phương.
- PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Tổ chức chính quyền địa phương của

trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam”.
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG, HOÀN
THIỆN NỀN DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM
2.1. Quan niệm về dân chủ và xây dựng, hoàn thiện nền dân
chủ ở Việt Nam
2.1.1. Nhận thức chung về dân chủ
Thuật ngữ dân chủ chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại ba yếu tố
đó là nhân dân, quyền lực cộng đồng và mối quan hệ giữa chúng.
Bản thân thuật ngữ dân chủ ngày càng được hiểu và được sử dụng
theo nhiều nghĩa. Nếu sử dụng phương pháp logic để phân tích dân chủ thì
có thể thấy dân chủ hiện diện ở nhiều bình diện khác nhau: Dân chủ là một
dòng triết học, dân chủ là một chỉnh thể hiện thực, dân chủ là một hiện
thực chính trị, dân chủ là một hiện thực kinh tế, dân chủ là một hiện thực
xã hội và dân chủ là một trạng thái của hệ thống quan hệ quốc tế.
13
Nếu đi theo tiến trình lịch sử nhân loại thì dân chủ bao gồm các kiểu
hình sau: dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ XHCN.
Tóm lại, dân chủ bao gồm một tổ hợp các giá trị nhân bản, duy lý và
cao đẹp. Dân chủ là sự hòa hợp của các giá trị: tự do, bình đẳng, sự thống
nhất trong tính đa dạng. ở chiều cạnh này dân chủ được hiểu như một lý tưởng
mà con người khao khát hướng đến và cố gắng thực hành trong cuộc sống.
Trong khuôn khổ luận án này, tác giả chỉ xin đề cập đến vấn đề dân
chủ XHCN: đó là nền dân chủ ra đời từ khi thành lập chính quyền nhà nước
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thông qua cách mạng XHCN .
Bản chất của nền dân chủ XHCN thể hiện ở chỗ:
Nền dân chủ XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân, là nền
dân chủ của đa số nhân dân lao động, phục vụ lợi ích của đa số nhân dân.
Nền dân chủ XHCN là nền dân chủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo nhất

người dân như sau: dân chủ trực tiếp: Người dân tự thực hiện quyền lực
của mình mà không cần qua trung gian hay đại diện. Có ba phương thức
thực hiện (Bầu cử, Trưng cầu dân ý và Bãi nhiệm đại biểu); Dân chủ
gián tiếp (Dân chủ đại diện): Người dân không tự thực hiện quyền lực
mà thông qua vai trò của một đại diện hay trung gian. Ở Việt Nam,
người dân thực hiện quyền dân chủ gián tiếp thông qua Quốc hội và
HĐND các cấp. Đây là những cơ quan do dân bầu, mang quyền lực của
nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân. Có ba
phương thức thực hiện dân chủ đại diện (Thông qua hoạt động của đại
biểu, Thông qua hoạt động của Quốc hội và HĐND và thông qua hoạt
động của các đoàn thể, tổ chức xã hội).
2.1.4. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, hoàn
thiện nền dân chủ ở Việt Nam
Đảng ta đã khẳng định “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu
vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể
hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân”.
15
Việc xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ ở nước ta phải được thể hiện
trên ba nội dung: Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên
và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân; Xác định các hình
thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trên các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; Đề cao trách nhiệm của các tổ
chức Đảng, Nhà nước đối với nhân dân. Bộ máy Nhà nước, các thể chế
khác trong hệ thống chính trị có nhiệm vụ đề xuất ý kiến với Đảng trong
quá trình xây dựng, họach định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách
của Đảng.
2.2. Hội đồng nhân dân - Thiết chế dân chủ ở địa phương
2.2.1. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân trong Bộ máy nhà nước
Điều 119 Hiến pháp 1992 và Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và ủy ban
nhân dân (UBND) 2003 đều xác định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan

phương theo ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân
- Hội đồng nhân dân bãi miễn những người không xứng đáng trong
bộ máy nhà nước
- Hội đồng nhân dân thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra cơ quan
nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước ở địa phương
- Hội đồng nhân dân thực hiện nguyên tắc dân chủ, công khai, lắng
nghe ý kiến của nhân dân
- Hoạt động của Hội đồng nhân dân phải lấy lợi ích của dân làm
mục đích
2.3. Một số mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam
Từ một số mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
trên thế giới như mô hình phân quyền, mô hình kết hợp tản quyền với phân
quyền, mô hình tập quyền XHCN đã cho chúng ta những bài học kinh
nghiệm quý báu góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới tổ chức và
hoạt động HĐND ở nước ta hiện nay.
17
Tóm lại, Chương 2, tác giả luận án đã nghiên cứu những cơ sở lý luận của
đổi mới tổ chức và hoạt động HĐND ở nước ta hiện nay, đó là các vấn đề về
dân chủ, về vị trí, vai trò của HĐND với tư cách là thiết chế dân chủ ở địa
phương, về dân chủ trong tổ chức, hoạt động của HĐND, những vấn đề lý
luận về chính quyền địa phương ở một số thành phố tiên tiến trên thế giới. Tất
cả những nội dung lý luận đó nhằm chứng minh một điều rằng: Trong điều
kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của HĐND là một việc làm cần thiết vì đây là thiết chế đảm bảo
quyền làm chủ của người dân ở địa phương.
Chương 3
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM
3.1. Quá trình hình thành và phát triển của Hội đồng nhân dân ở

Việt Nam hiện hành
3.2.1. Tổ chức của Hội đồng nhân dân
Ở phần này tác giả đã căn cứ vào các quy định của pháp luật để phân
tích làm rõ tổ chức của HĐND ở từng cấp, qua đó so sánh đối chiếu với
từng giai đoạn phát triển của HĐND.
3.2.2. Hoạt động của Hội đồng nhân dân
HĐND các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua
việc triển khai các hoạt động của các bộ phận cấu thành, đó là: hoạt động
của Đại biểu HĐND, hoạt động của Thường trực HĐND, hoạt động của các
Ban của HĐND (Đối với HĐND cấp tỉnh và huyện). Các bộ phận trên hoạt
động thông qua các hình thức như Kỳ họp (hình thức chủ yếu và quan trọng
nhất), tổ chức giám sát (giám sát chuyên đề, giám sát đột xuất), tiếp xúc cử
tri (trước và sau mỗi kỳ họp), chất vấn; tiếp nhận đơn thư của công dân,
chuyển cho cơ quan chức năng và theo dõi quá trình giải quyết đơn thư …
19
Tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ của HĐND từng cấp mà nội dung,
phạm vi hoạt động của HĐND nói chung, hoạt động của các bộ phận cấu
thành cũng có sự khác nhau. Tuy vậy, nhìn chung, HĐND các cấp đều
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua những phương thức
hoạt động nhất định như đã nói ở trên.
3.3. Ưu điểm và bất cập trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng
nhân dân ở Việt Nam hiện nay
3.3.1. Ưu điểm và bất cập trong thực tiễn tổ chức Hội đồng nhân dân
Cùng với sự thành lập, phát triển và hoàn thiện bộ máy nhà nước và
mở rộng dân chủ nhân dân, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 là
kết quả đúc rút kinh nghiệm phát triển của HĐND và UBND qua các thời
kì. Cho đến nay mô hình tổ chức cơ quan nhà nước ở địa phương, trong
đó HĐND ở các đơn vị hành chính vẫn đang còn những tồn tại nhất định.
Việc tổ chức HĐND đủ ba cấp dẫn đến chồng chéo, trùng lặp về thẩm
quyền; không có sự tinh gọn, linh hoạt, đặc trưng của bộ máy HĐND

nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải tiếp tục nghiên cứu và
làm rõ những cơ sở khoa học để đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND
phù hợp với yêu cầu đổi mới.
Chương 4
NHU CẦU, QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY
DỰNG, HOÀN THIỆN NỀN DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. Nhu cầu khách quan đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội
đồng nhân dân trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở
Việt Nam hiện nay
Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND phải xuất phát từ
những nhu cầu khách quan như sau:
21
Thứ nhất, yêu cầu của sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và
sự chuyển tiếp từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp theo hướng
hiện đại
Thứ hai, yêu cầu của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
Thứ ba, yêu cầu xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
tăng cường kỷ luật, trật tự kỷ cương xã hội ở cơ sở
Thứ tư, xuất phát từ chính những tồn tại, hạn chế trong tổ chức, hoạt
động của Hội đồng nhân dân
Thứ năm, chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về tổ chức
hợp lý chính quyền địa phương ở nước ta
4.2. Các quan điểm đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội đồng
nhân dân trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ ở Việt
Nam hiện nay
1. Bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với Hội đồng nhân dân
2. Bảo đảm đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân phải
thực hiện đồng bộ với việc cải cách hành chính nhà nước, cải cách tư pháp

ra ở trên có ý nghĩa trong việc hoàn thiện HĐND trong giai đoạn hiện nay
và tạo tiền đề hoàn thiện các cơ quan nhà nước trong đó có HĐND trong
NNPQ XHCN Việt Nam. Một cơ quan dân cử ở địa phương có sức
mạnh của một cơ quan quyền lực và thực sự đại diện cho mọi tầng lớp
nhân dân địa phương hoàn toàn tự chủ, độc lập ở địa phương trên cơ sở
có một hệ thống pháp luật đồng bộ, vững chắc. Vì vậy, đổi mới HĐND
trong điều kiện hiện nay phù hợp với yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước,
góp phần làm cho HĐND - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
mang một tầm vóc mới có đủ khả năng, điều kiện tổ chức và hoạt động tự
chủ, thực quyền.
Để giải quyết các vấn đề này, đã có nhiều quan điểm, giải pháp nhằm
đổi mới tổ chức bộ máy và hoạt động của HĐND đã được đề xuất. Nhiều
23
công trình khoa học đã có những nghiên cứu công phu nhằm tìm cách tháo
gỡ những vướng mắc, bất cập về tổ chức và hoạt động của HĐND. Nhưng
tất cả các giải pháp, đề xuất, kiến nghị nêu ra chưa được áp dụng nhiều vào
thực tiễn. Bởi việc thay đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của
bộ máy chính quyền nhà nước trong đó có HĐND là vấn đề phức tạp, ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống chính trị - xã hội của quốc gia. Vì vậy, cần có
sự nghiên cứu công phu, bài bản và thực sự khoa học cũng như phải có các
bước đi thích hợp để tiến tới thay đổi căn bản toàn diện.
Với mong muốn góp phần vào sự thành công trong công cuộc đổi
mới đất nước, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đề tài đã tập trung nghiên
cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc đổi mới tổ
chức và hoạt động của HĐND phù hợp với điều kiện đổi mới đất nước.
Đây là một vấn đề tương đối rộng, có tính phức tạp cả về lý luận và thực
tiễn. Vì vậy, với thời gian có hạn và khả năng nghiên cứu của nghiên
cứu sinh còn hạn chế, chắc chắn luận án còn nhiều thiếu sót. Những giải
pháp, kiến nghị mà chúng tôi đã nêu ra trong luận án cũng chỉ mang tính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status