LUẬN VĂN:
Đổi mới tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân
dân cấp huyện ở nước ta hiện nay 1. Tính cấp thiết của đề tài
công trình như: "Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị trong cải cách nền hành
chính quốc gia ở nước ta hiện nay" của TS. Đỗ Xuân Đông; "Nâng cao ý thức pháp luật
của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay" của TS. Lê Đình
Khiên; "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và
PGS.TS Trần Xuân Sầm; "Cẩm nang thông tin kỹ năng và nghiệp vụ hoạt động của đại
biểu Hội đồng nhân dân và thành viên ủy ban nhân dân các cấp" của TS. Trịnh Đức
Thảo (chủ biên); "Cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương đáp ứng
các yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" của
PGS.TS Lê Minh Thông Các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập đến những khía
cạnh, phạm vi khác nhau liên quan đến tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện. Do
vậy, việc nghiên cứu đồng thời những vấn đề liên quan đến đổi mới tổ chức và hoạt động
của UBND cấp huyện trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới cơ chế quản
lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Đảng và trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện
nay là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho việc có những phương hướng, giải pháp
hữu hiệu để nâng cao vai trò của chính quyền địa phương hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Luận văn có mục đích phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt
động của UBND cấp huyện trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước hiện nay nhằm
góp phần tìm ra những giải pháp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nói
chung và của UBND cấp huyện nói riêng.
Với mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ quan niệm, vai trò, đặc điểm tổ chức và hoạt động của UBND cấp
huyện.
- Phân tích những yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện.
- Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện.
Chương 1
CƠ Sở Lý Luận Về Tổ Chức Và Hoạt Động
Của ủy ban nhân dân Cấp Huyện
TRONG Điều Kiện Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
1.1. Vị trí, đặc điểm của ủy ban nhân dân cấp huyện trong hệ thống chính
quyền địa phương
1.1.1. Khái niệm
Nghiên cứu thực tế tổ chức chính quyền địa phương của các nước trên thế giới và
trong lịch sử nước ta cho thấy, các nước đều phân chia quốc gia theo các đơn vị hành
chính lãnh thổ để từ đó xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương. V.I. Lênin đã
chỉ rõ: đặc trưng đầu tiên của nhà nước là việc phân chia công dân của quốc gia theo đơn
vị lãnh thổ. Việc phân chia đó còn phụ thuộc vào hình thức cấu trúc nhà nước, các yếu tố
cộng đồng dân cư, địa lý, văn hóa, kinh tế [37, tr. 47] Về bản chất, việc phân chia các
đơn vị hành chính không chỉ mang ý nghĩa hành chính-quản lý, mà còn để thực hiện quản
lý nhà nước một cách thống nhất trên toàn lãnh thổ quốc gia.
Với cấu trúc nhà nước đơn nhất ở nước ta hiện nay, chính quyền địa phương
được chia thành ba cấp theo đơn vị hành chính lãnh thổ và các cấp đó được chia thành hai
loại: nông thôn và đô thị, đó là:
- Chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là chính
quyền cấp tỉnh);
- Chính quyền cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, quận và thị xã (gọi chung là
chính quyền cấp huyện);
- Chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là chính quyền cấp xã).
Việc phân chia như vậy là cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của các cấp chính
quyền địa phương, thực hiện quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội ở mỗi
cấp (quản lý ngành, lĩnh vực và theo đơn vị hành chính- lãnh thổ), có ý nghĩa cho việc Trong thực tế, các cơ quan nhà nước thường có xu hướng ôm đồm nhiều việc còn
người dân thì muốn trông chờ nhiều vào nhà nước. ở nước ta, việc phân chia các cấp
chính quyền địa phương như hiện nay được xác định theo cơ chế tổ chức quyền lực cho
các đơn vị hành chính lãnh thổ, theo đó bộ máy nhà nước được cấu tạo là bộ máy nhà
nước ở trung ương và bộ máy nhà nước ở địa phương, và việc tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước trong toàn hệ thống phải đảm bảo tính liên thông của quyền lực nhà
nước từ trung ương xuống địa phương, thể hiện cơ chế quyền lực vừa độc lập, vừa phụ
thuộc, đảm bảo tính liên hệ và kiểm soát lẫn nhau. Vì vậy, trong quan hệ quyền lực theo
chiều ngang đã có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thì trong quan hệ theo chiều dọc theo các
đơn vị hành chính lãnh thổ thì quyền lực nhà nước được xác định theo sự phân cấp, phân
quyền giữa trung ương và địa phương và giữa các cấp trong hệ thống chính quyền địa
phương nhằm đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước. Nói cách khác, việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước ở mỗi
đơn vị lãnh thổ phải phù hợp với tính hệ thống của bộ máy nhà nước và tính độc lập, tự
chủ của mỗi cấp chính quyền. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, UBND cấp huyện vừa thực
hiện quyền lực nhà nước thống nhất, vừa là cơ chế để thực hiện quyền tự chủ của cộng
đồng dân cư trên địa bàn huyện. Điều này có nghĩa là UBND cấp huyện phải thực thi
thống nhất quyền lực nhà nước tại địa bàn huyện theo đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, hoạt động của UBND cấp huyện còn là
thực hiện ý chí, nguyện vọng của cộng đồng dân cư phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh
tế - xã hội và mức độ thực hành dân chủ của người dân trên địa bàn huyện và chịu sự
giám sát của nhân dân. Kết hợp hai yêu cầu trên, UBND cấp huyện phải được phân công
và ủy quyền theo những phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn nhất định để có thể tự chủ trong
việc giải quyết các công việc hàng ngày của địa phương. Từ những đề cập trên, nhiều tác
giả cho rằng tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương vừa mang tính chất quyền
lực nhà nước, vừa mang tính tự quản và sự tương quan giữa hai tính chất này phụ thuộc
vào mỗi cấp chính quyền, mang tính lịch sử và không đồng nhất. Điều này có thể thấy rõ
nước của địa phương; là một pháp nhân công quyền, hoạt động theo nguyên tắc quyền
uy, phục tùng, đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực thi thống nhất từ trung ương
đến địa phương và giải quyết các công việc, đề nghị của người dân địa phương theo qui
định của pháp luật.
Các chức năng của UBND cấp huyện:
+ Chức năng chấp hành và điều hành: Như trên đã nói, UBND cấp huyện là cấp
trung gian trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, vì vậy, UBND
cấp huyện vừa có nhiệm vụ chấp hành các đường lối, quyết định của các cơ quan nhà
nước cấp trên, vừa thực hiện chức năng điều hành các hoạt động quản lý nhà nước đối
với các cơ quan chuyên môn, chính quyền cấp xã. Điều này cũng có nghĩa là, UBND cấp
huyện vừa phụ thuộc vừa tự chủ theo nguyên tắc cấp dưới phục tùng cấp trên, cấp trên
lãnh đạo, chỉ đạo cấp dưới. Hoạt động chấp hành của chính quyền địa phương không tách
rời với hoạt động điều hành trong quản lý nhà nước và mục đích của nó là giải quyết hiệu
quả các vấn đề của địa phương trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, vừa thể hiện
sự can thiệp của quyền lực nhà nước vừa thể hiện sự cộng tác, phối hợp với nhân dân.
Tuy nhiên, hoạt động chấp hành và điều hành của UBND cấp huyện phải được thể hiện
thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật trong quản lý điều hành hàng ngày của
mình và các cơ quan chuyên môn. Để thực hiện tốt chức năng quản lý và điều hành,
UBND cấp huyện còn phải thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật,
các chủ trương, qui định của địa phương theo những trình tự, thủ tục nhất định. Theo qui
định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), UBND cấp huyện chỉ đạo, kiểm
tra, tổ chức thực hiện các chủ trương, quyết định của HĐND
và các cơ quan cấp trên liên quan đến các lĩnh vực quản lý nhà nước trên địa bàn huyện.
+ Chức năng hỗ trợ cộng đồng: Về bản chất của nhà nước ta, vấn đề quản lý và
điều hành trong quản lý nhà nước nhằm mục tiêu 'vì dân phục vụ', vì vậy, hoạt động của
UBND cấp huyện và các cơ quan chuyên môn trực thuộc, phải có sự hỗ trợ đối với công
dân trong việc thực hiện các trình tự, thủ tục liên quan đến quản lý nhà nước như hỗ trợ
việc thành lập thành phố trực thuộc Chính phủ trung ương, hoặc kỳ, thị xã thuộc kỳ hoặc
tỉnh. Hai Sắc lệnh trên là cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của chính quyền
địa phương trong thời kỳ xây dựng và củng cố chính quyền.
Theo Sắc lệnh số 63, chính quyền địa phương ở nước ta gồm HĐND và UBHC
(nay là UBND). HĐND là cơ quan đại diện cho nhân dân, được nhân dân trực tiếp bầu ra
theo lối phổ thông đầu phiếu. UBHC do HĐND bầu ra để thực hiện việc quản lý các công
việc hành chính ở địa phương. Tuy nhiên, trong thời kỳ này, ở cấp huyện và kỳ chỉ có
UBHC mà không có HĐND. Theo qui định tại Điều 22, Sắc lệnh số 63, UBHC là cơ
quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn huyện, có 03 ủy viên chính thức
(Chủ tịch, Phó chủ tịch, Thư ký) và 02 ủy viên dự khuyết. UBHC huyện do đại biểu
HĐND các xã trong huyện bầu ra. Khi có 1/3 tổng số đại biểu HĐND các xã yêu cầu bỏ
phiếu tín nhiệm UBHC huyện thì phải tổ chức bỏ phiếu; nếu quá nửa số đại biểu HĐND
các xã không tín nhiệm thì các ủy viên UBHC phải từ chức.Cũng theo Sắc lệnh số 63,
UBHC huyện có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Thi hành và kiểm soát sự thi hành mệnh lệnh của cấp trên; kiểm soát hoạt động
của Hội đồng nhân dân xã và UBHC xã;
- Thủ tiêu những quyết định của HĐND xã trái với các chỉ thị của cấp trên hay
trái với quyền lợi của nhân dân trong xã;
- Duyệt y hoặc đệ lên UBHC tỉnh duyệt y các quyết nghị của HĐND xã;
- Kiểm soát các cơ quan chuyên môn về cách thừa hành chức vụ;
- Giải quyết các công việc khác trong phạm vi huyện;
- Điều khiển đội cảnh binh đặt ở huyện để lo việc tuần phòng và trị an.
Việc phân công công việc và nhiệm vụ, quyền hạn của các ủy viên UBHC huyện
tùy thuộc vào năng lực, trình độ của ủy viên.
Cùng với quá trình xây dựng và củng cố chính quyền, vị trí của UBND với tư
cách là cơ quan thực hiện quản lý hành chính ở địa phương tiếp tục được khẳng định và
có những bước phát triển cơ bản qua các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992.
Để cụ thể hóa những qui định của Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn ký
nhiều Sắc lệnh liên quan đến tổ chức và hoạt động của UBHC cấp huyện như: Sắc lệnh
số 254-SL ngày 19/11/1948 về tổ chức lại chính quyền nhân dân trong thời kỳ kháng
chiến (Điều 2 qui định: chính quyền nhân dân địa phương trong thời kỳ kháng chiến
gồm có HĐND và UBHC); Sắc lệnh số 255-SL ngày 19/11/1948 về cách thức tổ chức và
làm việc của HĐND và ủy ban kháng chiến hành chính. Tiếp đó, Luật tổ chức chính
quyền địa phương năm 1958 đã qui định rõ hơn về hệ thống tổ chức của chính quyền địa
phương.
1.2.2. Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp huyện theo Hiến pháp
1959
Theo Hiến pháp 1959, chính quyền địa phương bao gồm ba cấp hành chính: tỉnh,
huyện, xã. Các đơn vị hành chính trên đều thành lập HĐND và UBHC. Như vậy, so với
Hiến pháp 1946, điểm mới của Hiến pháp 1959 là cấp huyện có cả HĐND và UBHC;
HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và UBHC các cấp là cơ quan chấp
hành của HĐND địa phương, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
UBHC gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó Chủ tịch, ủy viên Thư ký và các ủy
viên. Nhiệm kỳ của UBHC theo nhiệm kỳ của HĐND đã bầu ra mình (02 năm). Khi
HĐND hết nhiệm kỳ hoặc bị giải tán, UBHC tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi HĐND
mới bầu ra UBHC mới. UBHC cấp huyện quản lý công tác hành chính của địa phương,
chấp hành nghị quyết của HĐND cấp huyện và nghị quyết, mệnh lệnh của cơ quan hành
chính nhà nước cấp trên. UBHC huyện được ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thực
hiện quyết định, chỉ thị đó. Trong hoạt động quản lý hành chính, UBHC cấp huyện lãnh
đạo công tác của các ngành trong huyện và đối với UBHC cấp xã và tương ứng có quyền
sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của các ngành và của UBHC cấp
xã. UBHC cấp huyện có quyền đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng
của HĐND cấp xã và đề nghị HĐND huyện sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết ấy.
UBHC huyện chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước HĐND huyện và UBHC
bầu ra UBND mới.
Tiếp đó, tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện còn được qui định cụ thể
trong Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1989.
1.2.4. Tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp huyện theo Hiến pháp
1992
Tiếp tục kế thừa những qui định về UBND cấp huyện trong các văn bản pháp
luật đã có, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) tiếp tục
khẳng định UBND cấp huyện do HĐND cấp huyện bầu ra, là cơ quan chấp hành của
HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến
pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND.
UBND cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền ra
quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó. Chủ tịch UBND lãnh đạo,
điều hành hoạt động của UBND. Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa
phương, UBND huyện phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.
Chủ tịch UBND huyện có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn
bản sai trái của cơ quan thuộc UBND cấp xã; đình chỉ thi hành nghị quyết sai trái của
HĐND cấp xã đồng thời đề nghị HĐND huyện bãi bỏ những nghị quyết đó.
Thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của đại phương cho Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây
dựng chính quyền và phát triển kinh tế xã hội ở địa phương; phối hợp với các đoàn thể
nhân dân động viên nhân dân cùng nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế- xã hội, quốc
phòng an ninh ở địa phương.
Như vậy, qua những qui định của các hiến pháp về vị trí, chức năng, nhiệm vụ
của UBND cấp huyện cho thấy, cho dù về tên gọi có sự thay đổi qua các thời kỳ
(UBHC, UBND), nhưng về bản chất, UBND cấp huyện là cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương, thực hiện quản lý hành chính đối với các vấn đề trên địa bàn huyện về
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng
cơ quan nhà nước cấp trên. UBND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm bảo đảm
thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh
và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. UBND thực hiện chức năng quản lý nhà
nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành
chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở.
Về thẩm quyền, UBND cấp huyện là cơ quan quản lý thẩm quyền chung ở địa
phương, thực hiện quản lý nhà nước trên các mặt cơ bản của đời sống xã hội. Trong thực
tế, ở phạm vi cấp huyện, có thể thấy những viÖc cña người dân hầu như phần nhiều
được giải quyết tại UBND cấp huyện với những cơ quan có thẩm quyền riêng là các
phòng, ban thuộc UBND huyện, do đó, việc luôn đổi mới, kiện toàn tổ chức và hoạt
động của UBND cấp huyện là yếu tố cơ bản nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành
chớnh ca UBND cp huyn nc ta hin nay. Vic i mi t chc v hot ng ca
UBND cp huyn phi c thc hin ng b trờn cỏc phng din i mi c cu t
chc; mi quan h gia UBND cp huyn vi cỏc c quan, t chc hu quan; vn
cỏn b, cụng chc; vn th ch phỏp lý v c ch, phng thc hot ng.
1.3. i mi t chc v hot ng ca y ban nhõn dõn cp huyn trc yờu
cu ci cỏch hnh chớnh nh nc
L mt cp c quan qun lý hnh chớnh nh nc a phng trong h thng
cỏc c quan hnh chớnh nh nc, vic i mi t chc v hot ng ca UBND cp
huyn khụng th nm ngoi nhng yờu cu. mc tiờu, nhim v, ni dung ca vic i
mi t chc v hot ng ca b mỏy nh nc, yờu cu ci cỏch hnh chớnh (CCHC) v
xõy dng Nh nc phỏp quyn xó hi ch ngha nc ta hin nay.
Theo Chng trỡnh tng th ci cỏch hnh chớnh nh nc giai on 2001-2010,
vic i mi t chc v hot ng ca UBND cp huyn phi gúp phn ỏp ng mc tiờu
tng th sau: Xõy dng mt nn hnh chớnh dõn ch, trong sch, vng mnh, chuyờn
nghip, hin i húa, hot ng cú hiu lc, hiu qu theo nguyờn tc ca Nh nc
cp chớnh quyn a phng; nh rừ chc nng, nhim v, thm quyn v t chc b
mỏy chớnh quyn ụ th v nụng thụn. Cỏc c quan chuyờn mụn thuc UBND cp tnh,
cp huyn c t chc li gn nh, thc hin ỳng chc nng qun lý nh nc theo
nhim v v thm quyn c xỏc nh trong Lut T chc HND v UBND nm 2003.
Xỏc nh rừ tớnh cht, c cu t chc, ch lm vic ca chớnh quyn cp xó.
Sáu là, n nm 2010, i ng cỏn b, cụng chc cú s lng, c cu hp lý,
chuyờn nghip, hin i. Tuyt i b phn cỏn b, cụng chc cú phm cht tt v
nng lc thi hnh cụng v, tn ty, phc v s nghip phỏt trin t nc v phc v
nhõn dõn.
Bảy là, n nm 2005, tin lng ca cỏn b, cụng chc c ci cỏch c bn,
tr thnh ng lc ca nn cụng v, bo m cuc sng ca cỏn b, cụng chc v gia
ỡnh.
Tám là, n nm 2005, c ch ti chớnh c i mi thớch hp vi tớnh cht ca
c quan hnh chớnh v t chc s nghip, dch v cụng.
Chớn l, nn hnh chớnh nh nc c hin i húa mt bc rừ rt. Cỏc c
quan hnh chớnh cú trang thit b tng i hin i phc v yờu cu qun lý nh nc
kp thi v thụng sut. H thng thụng tin in t ca Chớnh ph c a vo hot
ng.
Cùng vi cỏc mc tiờu c th trờn, ci cỏch hnh chớnh nh nc c th hin
qua bn ni dung ci cỏch sau:
- Xõy dng v hon thin cỏc th ch, trc ht l th ch kinh t ca nn kinh t
th trng nh hng xó hi ch ngha, th ch v t chc v hot ng ca h thng
hnh chớnh nh nc.
- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà n-ớc,
của cán bộ, công chức.
- Tip tc ci cỏch th tc hnh chớnh.
mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện nói riêng cần đáp ứng một số yêu cầu cụ
thể, có tính cấp bách trong quản lý nhà nước ở cấp huyện hiện nay:
Thứ nhất, đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện phải xuất phát từ
yêu cầu giảm chi phí tài chính đối với nền hành chính nhà nước.
Hiện nay, nền hành chính của nước ta cũng như của nhiều nước trên thế giới
đang phải chịu áp lực về tài chính quá lớn đòi hỏi phải giảm bớt chi phí tài chính đối với
các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Mục tiêu của nền hành chính là đạt hiệu quả
trong quản lý trước sau không thay đổi và hướng đến mục tiêu vì dân phục vụ nhưng
trong thực tế còn gặp nhiều khó khăn. Do vậy, giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho nền
hành chính thực chất là để tăng cường tính tập trung, chủ động của nền hành chính trong
sử dụng nguồn ngân sách, duy trì và phát huy những hiệu quả tích cực đã đạt được. Để
giảm nhẹ gánh nặng tài chính đòi hỏi nền hành chính và mỗi cấu thành trong nền hành
chính phải có sự đổi mới tổ chức và hoạt động, nâng cao hiệu lực quản lý đi liền với giảm
chi phí hành chính. Hiện nay ở nước ta có 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 670
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, do đó việc giảm chi phí hành chính, tiết kiệm
chi hành chính đi liền với nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của UBND cấp huyện có
ý nghĩa quan trọng trong điều kiện hiện nay.
Thứ hai, đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện phải đáp ứng sự
thay đổi chức năng của nền hành chính trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường.
Quản lý nhà nước của chính quyền địa phương, ở chừng mực nào đó, cần có sự
thường xuyên điều chỉnh, đổi mới để thích ứng với những yêu cầu quản lý. Những đường
lối, chính sách vĩ mô được ban hành ở cấp Trung ương không thể đi vào thực tế có hiệu
quả nếu không có sự nỗ lực của các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp huyện
(bởi vì, với số lượng lớn các đơn vị hành chính nhà nước cấp huyện như nêu trên, thực
hiện quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội và với số lượng cán bộ, công
chức đông đảo thuộc biên chế của UBND cấp huyện trên phạm vi cả nước). Tuy nhiên,
cơ chế thị trường hiện nay đang đặt ra một số vấn đề đòi hỏi việc đổi mới tổ chức và hoạt
gắn với công dân). Mặt khác, bên cạnh những lực cản đối với sự điều chỉnh chức năng
quản lý thì còn có những tác động tiêu cực bên ngoài tương ứng. Cùng với quá trình phát
triển của nền kinh tế thị trường, mức độ khống chế và kiểm soát của nền hành chính đối
với các hoạt động kinh tế vi mô đòi hỏi giảm đi để tạo đà phát triển cho các hoạt động
kinh tế xã hội, và như vậy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải có đủ năng lực thực
hiện quản lý vĩ mô, đặc biệt là đối với cấp huyện. Thực tế cũng cho thấy, trong thời đại
toàn cầu hóa, thông tin, tri thức và nhu cầu của xã hội ngày càng đa dạng và ở mức độ
cao đã tạo ra nhiều biến đổi lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong khi khung
cứng nhắc của nền hành chính truyền thống không thể có được những phản ứng nhanh
nhạy, linh hoạt đối với sự biến đổi của xã hội nếu không có sự đổi mới. Sự trì trệ của nền
hành chính quan liêu, theo ý kiến của nhiều tác giả, thể hiện chủ yếu ở hai điểm sau:
+ Sự không tương xứng giữa tính hợp thời của đòi hỏi xã hội và tồn tại của
những quyết sách kém. Điều này xuất phát từ quá trình xử lý những thông tin của nền
hành chính thường xuất hiện những ách tắc, rào cản gây trở ngại cho cấp có thẩm quyền, từ
đó không thể đưa ra những quyết sách kịp thời khiến cho việc xử lý những vấn đề quản lý
xã hội diễn ra chậm chạp, kém hiệu quả.
+ Nền hành chính quan liêu, cụ thể là Chính phủ và đặc biệt là các cơ quan hành
chính địa phương không thực hiện tốt việc bố trí nguồn lực xã hội (kể cả nguồn tài nguyên)
trong quá trình cung cấp dịch vụ công. Tình trạng tách biệt, chia cắt giữa quyền ra quyết định
(ví dụ: UBND tỉnh) và quyền chấp hành quyết định (ví dụ: UBND huyện) về sử dụng các
nguồn lực xã hội đó nên đã xuất hiện tình trạng những người có quyền quyết định không
hiểu được sự biến đổi của nhu cầu xã hội còn những người chấp hành quyết định hiểu được
sự biến đổi của nhu cầu xã hội thì lại không có quyền ra quyết định (sự nhạy cảm của nền
hành chính trước sự thay đổi của nhu cầu cần điều chỉnh xã hội). Như vậy, đứng trước sự
đổi thay hiện nay của phát triển kinh tế - xã hội trên nhiều chiều, việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của UBND cấp huyện đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức cần có sự xử lý linh
hoạt trong quản lý, bao gồm cả việc được trao quyền quyết định cũng như đề cao trách
chức năng của cơ cấu quyết định và cơ cấu chấp hành, tăng cường cơ cấu chấp hành; xác
định tỷ lệ quyền chi phối tương ứng giữa công chức lãnh đạo và công chức thực thi công vụ
nhằm tạo ra cơ cấu quyết định và cơ cấu chấp hành tương xứng với trật tự ưu tiên của
nhu cầu xã hội cần đáp ứng và cho phép cơ cấu chấp hành chủ động, tích cực trong việc
cung ứng dịch vụ công với chất lượng theo yêu cầu, phù hợp với thực tế xã hội đòi hỏi để
đảm bảo cho UBND cấp huyện thực hiện tốt vai trò là người cầm lái trong quản lý nhà
nước ở địa phương.
Chương 2
Thực Trạng Tổ Chức Và Hoạt Động
Của ủy ban nhân dân Cấp Huyện
2.1. Cơ cấu tổ chức của ủy ban nhân dân cấp huyện
Theo qui định của pháp luật hiện hành, UBND cấp huyện bao gồm: Chủ tịch, các
Phó Chủ tịch, các ủy viên UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND.
- Thành viên của UBND cấp huyện:
Theo qui định tại Điều 119 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, UBND
cấp huyện gồm có các thành viên:
+ Chủ tịch UBND:
Theo qui định của Điều 126 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Chủ tịch
UBND là người lãnh đạo và điều hành công việc của UBND, chịu trách nhiệm cá nhân
về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo qui định của Điều 127 của Luật,
cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND trước HĐND cùng cấp
và trước cơ quan nhà nước cấp trên. Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa
phương, UBND phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Chủ tịch UBND cấp huyện