BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRỊNH ĐẮC LUYẾN
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRỊNH ĐẮC LUYẾN
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Mã số: 60380102
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
................................................................................................................................ 5
1.1. Đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của Thủ đô Hà Nội ............. 5
1.1.1.Thủ đô Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử ..................................................... 5
1.1.2. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 6
1.1.3. Dân cư và truyền thống ........................................................................... 8
1.1.4. Vị thế của Thủ đô Hà Nội...................................................................... 11
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của UBND thành phố Hà Nội……..14
1.3. Kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính thủ đô một
số nước trên thế giới ......................................................................................... 20
1.3.1. Thành phố - Thủ đô Tokyo (Nhật Bản) ................................................. 21
1.3.2. Thành phố - Thủ đô Bangkok (Thái Lan) .............................................. 21
1.3.3. Thành phố - Thủ đô Seoul (Hàn Quốc) .................................................. 22
1.3.4. Thành phố - Thủ đô Matxcơva (Liên bang Nga) .................................... 22
1.3.5. Thành phố - Thủ đô Oasington (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ).................... 23
1.3.6. Một số nhận xét ..................................................................................... 23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UBND
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY .............................. 25
2.1. Thực trạng tổ chức của UBND Thành phố .............................................. 25
2.1.1. Thành viên UBND Thành phố ............................................................... 25
2.1.2. Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Thành phố ............................... 27
2.2. Thực trạng hoạt động của UBND Thành phố .......................................... 35
2.2.1. Các phiên họp của UBND Thành phố.................................................... 35
UBND
: Ủy ban nhân dân
UBHC
: Ủy ban Hành chính
UBKC
: Ủy ban Kháng chiến
UBQC
: Ủy ban Quân chính
UBKCHC
: Ủy ban Kháng chiến Hành chính
VKSND
: Viện Kiểm sát nhân dân
VBQPPL
: Văn bản quy phạm pháp luật
nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra từ thực tiễn. Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của
2
UBND thành phố càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang
đẩy mạnh thực hiện cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương;
việc đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND các cấp là nhiệm vụ được Đảng, Nhà
nước khẳng định là khẩn trương và cấp bách, đồng thời nhằm mục đích để chính
quyền thực sự là của dân, do dân và vì dân.
Vì vậy việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của UBND thành phố Hà Nội
cả về lý luận và thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của nó giúp cho
chúng ta thấy được những ưu điểm, tích cực và những mặt hạn chế, tồn tại, yếu
kém. Từ đó, xác định được phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động
của UBND thành phố Hà Nội phù hợp với yêu cầu sự nghiệp đổi mới của Đảng và
Nhà nước ta cũng như đòi hỏi của thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu Đề tài
Về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung và
đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp tỉnh nói riêng đã có một số công trình
nghiên cứu nhất định. Tuy nhiên, số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu về đề
tài này cũng không nhiều. Theo tìm hiểu của tôi, đã có một số công trình nghiên cứu
về đề tài này như sau :
- Lê Minh Thông (1999), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và
UBND các cấp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/1999.
- Bùi Xuân Đức (2000), “Một số vấn đề cần hoàn thiện trong tổ chức và hoạt
động của UBND các cấp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2000.
- TS.Vũ Đức Đán – TS. Lưu Kiếm Thanh (2000), “Tổ chức và hoạt động
của bộ máy chính quyền thành phố trực thuộc trung ương”, Nxb Thống kê, Hà Nội.
- Vũ Hữu Kháng (2001), Đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp thành
phố trực thuộc trung ương, Luận án Thạc sỹ luật học, Hà Nội.
- Phân tích cơ sở lý luận của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND
thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc tổ chức và hoạt động của UBND thành
phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
- Từ những thực trạng đề xuất giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động
của UBND thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
4
4. Phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng : Luận văn nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của UBND
thành phố Hà Nội ( UBND cấp tỉnh).
Về phạm vi : Học viên chỉ tập trung tiến hành nghiên cứu thực tế tại thành
phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử…). Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng những
phương pháp nghiên cứu cụ thể : Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, lịch sử - cụ
thể…
6. Ý nghĩa của Luận văn (Tính mới của Luận văn)
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tổ
chức và hoạt động của UBND thành phố Hà Nội; đánh giá về thực trạng, tìm ra
nguyên nhân và đề xuất những giải pháp cơ bản trong đổi mới tổ chức và hoạt động
của UBND thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Kết quả nghiên cứu có thể
làm tài liệu rất bổ ích cho việc nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động của chính
quyền các cấp trên phạm vi không chỉ ở Hà Nội mà cả phạm vi cả nước. Kết quả
nghiên cứu cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho học tập, giảng dạy tại các cơ sở
đào tạo.
Pháp xâm lược. Gần một thế kỷ dưới ách phong kiến và thực dân, Hà Nội vừa là cái
nôi, vừa là chứng nhân của biết bao phong trào yêu nước và cách mạng sục sôi, anh
dung. Ngày 19/8/1945, Cách mạng tháng Tám đã giành thắng lợi trọn vẹn ở Hà Nội,
cổ vũ mạnh mẽ nhân dân cả nước nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày
02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên
ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên
mới – kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Hà Nội trở thành Thủ đô của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Trước dã tâm muốn cướp nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, cùng với
cả nước, Hà Nội đứng lên chống giặc. Với 60 ngày đêm chiến đấu vô cùng oanh
liệt, Hà Nội đã mở đầu cho cuộc kháng chiến chín năm. Chiến thắng Điện Biên Phủ
“lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ,
6
công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.
Tiếp đó, trong những năm tháng hào hùng vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội,
vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam, Hà Nội đã không tiếc sức người sức của, dốc
lòng cho tiền tuyến lớn. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh bằng không quân ra
miền Bắc và đánh phá Thủ đô, Hà Nội đã chấp nhận cuộc đối đầu lịch sử. Trong suốt
12 ngày đêm của trận “Điện Biên Phủ trên không”, Hà Nội đã khiến Mỹ hoảng loạn,
phải ký Hiệp định Pa-ri, tạo bước chuyển biến vô cùng quan trọng cho chiến thắng
lịch sử mùa Xuân 1975, non song thu về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau khi đất nước thống nhất, Thủ đô Hà Nội bắt tay đẩy mạnh xây dựng kinh
tế - xã hội và đã có nhiều lần thay đổi địa giới hành chính Thủ đô. Sau khi mở rộng
địa giới hành chính vào cuối năm 2008, Hà Nội – trung tâm của cả nước, kế thừa và
phát huy các tiềm năng, thế mạnh về nhân tài, vật lực – kinh tế - văn hóa … để xây
dựng Thủ đô trong thế kỷ XXI.
Có thể thấy, cho tới nay, trải qua hơn 1000 năm lịch sử, qua biết bao biến cố
Bắc. Địa bàn các huyện này có cả núi đá, rừng, đồi gò xen lẫn ruộng bậc thang và
cả những cánh đồng trải rộng. Các huyện phía tây bắc sông Hồng gồm Mê Linh,
Sóc Sơn, là bậc thềm của vùng núi Tam Đảo.
Các huyện phía tây – tây nam Thành phố như Ba Vì, Thạch Thất, thị xã Sơn
Tây, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức, nếu lấy sông Tích, sông Bùi rặng đá giăng từ
Miếu Môn xuống tới Hương Sơn như một sự ngăn cách với vùng đồi núi, đây là
giới hạn phía tây của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vùng núi Bà Vì có nhiều đồi núi cao,
rừng nguyên sinh với hệ động – thực vật rất đa dạng, phong phú. Ngoài ra Ba Vì
còn có nhiều suối, thác nước đẹp với không khí trong lành, thoáng mát rất phù hợp
với việc phát triển dịch vụ du lịch.
Vùng núi đá vôi Nương Ngái – Hương Sơn chạy theo hướng tây bắc – đông
nam từ Miếu Môn xuống Hương Sơn cũng là ranh giới giữa Hà Nội với tỉnh Hòa
Bình. Hai dãy núi này rộng khoảng 5.770ha, nơi đây có thành nhà Mạc, có dấu tích
thành lũy thời Hai Bà Trưng ở Miếu Môn, có sông Thanh Hà, có dòng suối Yến,
thung mơ Hương Tích, có nhiều hang động, nổi tiếng là động Hương Tích, được
mệnh danh là “Nam thiên đệ nhất động” và động Đại binh.
Các vùng núi có cấu tạo đặc thù như trên, liên kết với nhau càng tạo cho tiềm
năng, thế mạnh giá trị cảnh quan ở vùng đất phía tây – tây nam Thủ đô Hà Nội.
8
Toàn bộ các huyện ngoại thành ở phía bắc sông Hồng và phía tây – tây nam Thành
phố không chỉ có giá trị về tiềm năng kinh tế nông nghiệp- du lịch, mà từ bao đời
nay, vùng này còn có nhiều sản vật quý; là địa bàn chiến lược quân sự quan trọng.
Đây là nơi tập trung các đơn vị quân đội, các trường đào tạo sỹ quan, ngành chuyên
môn của các quân binh chủng, có cảng hàng không quốc tế Nội Bài ở Sóc Sơn, có
trường bắn quốc gia ở Miếu Môn, huyện Mỹ Đức.
Hà Nội ngày nay có vùng đồng bằng rộng lớn thuộc hai bên tả ngạn và hữu
ngạn sông Hông. Đây là vùng đất phì nhiêu màu mỡ, là cái nôi của quá trình hình
đã là nơi sinh tụ của người Việt cổ. Chính những con người này đã hội nhập thích
ứng với thiên nhiên, khai phá vùng đất để tồn tại, tạo nên một nền văn minh lúa
nước sông Hồng – văn hóa Đông Sơn rực rỡ. Đó là cơ sở để các thế hệ con cháu
tiếp tục phát huy, kiến tạo cuộc sống trong lao động, sản xuất, trong đấu tranh
chống giặc ngoại xâm.
Trải qua hơn ngàn năm Bắc thuộc, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam,
rồi lại qua gần 100 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, dân cư Thăng Long –
Hà Nội không ngừng tăng lên.
Vào năm 1904, dân số của Hà Nội là 75.000 người. Đến năm 1921, dân số
Hà Nội tăng lên gần 100.000 người. Cuối năm 1942, thực dân Pháp sáp nhập phần
đất của tỉnh Hà Đông, do đó diện tích Hà Nội từ 12km2 tăng lên 130km2; dân số là
30 vạn người.
Từ sau ngày miền Bắc được giải phóng (tháng 7-1954), Thủ đô Hà Nội với 4
lần điều chỉnh địa giới hành chính nên dân số khu vực nội và ngoại thành có nhiều
thay đổi. Thời điểm mở rộng năm 1961, dân số Hà Nội là 91 vạn người; năm 1978 là
2.615.000 người; năm 1991 là 2.052.000 người và cuối năm 2008 là 6.537.800 người.
Cư dân Hà Nội chủ yếu là dân tộc Kinh. Ngoài ra, trên địa bàn Hà Nội còn
có một số người là đồng bào dân tộc thiểu số như : Mường, Dao, Sán Chảy, Sán Dìu
cư trú, sinh sống ở các làng xã thuộc các huyện Ba Vì, Mê Linh, Sóc Sơn, Quốc
Oai, Mỹ Đức, Chương Mỹ… Ngoài ra, Hà Nội còn có người Hoa cùng sinh sống ở
nhiều nơi.
Hà Nội là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước nên thành phần
dân cư là các dân tộc thiểu số về sinh sống, làm việc, xây dựng gia đình ngày càng
tăng. Theo điều tra của Ban Dân tộc Thành phố, năm 2009, tổng số dân cư thuộc
10
thành phần dân tộc thiểu số có 58.631 người, thuộc 33 dân tộc anh em, chiếm tỷ lệ
0,9% so với dân số toàn Thành phố, trong đó đồng bào Mường đông nhất, có
Điểm, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Đặng Trần Côn, Bùi Huy Bích... Đặc biệt,
một số làng xã là niềm tự hào về “đất khoa bảng” của Thăng Long – Hà Nội như
Đông Ngạc, Tả Thanh Oai, Mỗ, La, Canh, Cót.
Truyền thống và tinh hoa văn hóa Hà Nội còn thể hiện qua các tác phẩm văn,
thơ; văn học dân gian; ca dao, dân ca, bài vè và những câu chuyện cổ tích, huyền
thoại; các làn điệu chèo cổ, tuồng, chèo tàu có tiếng ở xứ Đoài, ở Đan Phượng; hát
ca trù ở Lỗ Khê (Đông Anh); hát hô, múa rối nước ở Sài Sơn; các làng vật nổi tiếng
ở Quốc Oai, Hoài Đức...
Bản sắc văn hóa tinh tế và độc đáo của Hà Nội còn thể hiện ở mỹ thuật trống
đồng; các bia đá; những công trình kiến trúc cổ ở cả khu vực nội thành và các làng
xã ngoại. Đó là những ngôi đình, chùa, quán, miếu, với những mảng hoa văn chạm
trổ tinh xảo thể hiện tài hoa của các nghệ nhân Hà Nội. Ngay ở trung tâm kinh
thành nhiều công trình mỹ thuật nổi tiếng được xây dựng từ thời Lý – Trần – Lê đến
nay trở thành di tích lịch sử văn hóa của đất nước như : đền Bạch Mã, đền Ngọc
Sơn, đền Bà Kiệu, đền vua Lê, đền Hai Bà, đền Quán Thánh, đền Voi Phục, chùa
Một Cột, chùa Trấn Quốc, chùa Quán Sứ... Ở các huyện, thị ngoại thành có rất
nhiều ngôi đình, chùa cổ nổi tiếng . Tinh hoa văn hóa Thăng Long – Hà Nội còn thể
hiện khá tập trung ở nhiều làng nghề truyền thống vang danh khắp trong nước và
quốc tế. Là địa bàn có sông Đà, sông Hồng bao quanh từ phía tây – tây bắc xuống
đông nam, trong đó có đoạn chảy qua nội đô, từ xưa, việc đắp đê phòng lụt, chống
thủy tai luôn là trận địa nóng bỏng của nhân dân Hà Nội. Truyền thuyết “Sơn Tinh
chiến thắng Thủy Tinh” trong lũ lụt và sự tích về “những đồi trùm” trên địa bàn xã
Kiêm Sơn – chân núi Tản Viên đã chứa đựng cốt lõi hiện thực cuộc đấu tranh chống
thiên tai để quy tụ, lập trại, ấp, dựng xóm làng, phường cổ của cư dân Hà Nội.
Hiện nay, Hà Nội đang đẩy mạnh việc bảo tồn và phát triển văn hóa Thủ đô
để tiêu biểu cho bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi
vật thể của Thủ đô và của dân tộc, xây dựng văn hóa người Hà Nội thanh lịch, văn
minh xứng đáng với “Hào khí Thăng Long”, “Sĩ khí Hà Thành”,…
1.1.4. Vị thế của Thủ đô Hà Nội
ra cả nước ngoài, làm phong phú đời sống văn hóa của nhân dân và giới thiệu hình
ảnh Việt Nam với bạn bè thế giới.
Ở Hà Nội hiện nay có nhiều trường đại học và cao đẳng, nhiều trường trung
13
học chuyên nghiệp, trường dạy nghề, nhiều viện nghiên cứu, phần lớn các chuyên
gia đầu ngành đang công tác, nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở Thủ đô. Ngoài ra
còn có nhiều tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghệ hiện đại,
tiên tiến. Nếu thu hút được nguồn lực chất xám của các nhà khoa học, các bộ, ngành
trung ương, các viện nghiên cứu, các trường đại học trên địa bàn thì sẽ có được lợi
thế to lớn so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước.
Hà Nội đã và sẽ giữ vai trò là trung tâm kinh tế lớn nhất ở Bắc bộ, có sức hút
và khả năng lan tỏa rộng lớn, tác động trực tiếp tới quá trình phát triển của vùng
Bắc bộ. Đồng thời, Hà Nội có khả năng khai thác thị trường rộng lớn của vùng và
của cả nước để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm công, nông nghiệp và dịch vụ.
Hà Nội còn có ưu thế so với các địa phương khác ở khu vực phía Bắc trong
công tác tuyên truyền quảng bá và thu hút đầu tư, sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm
hàng hóa, mở rộng các dịch vụ đối ngoại, du lịch…Về lâu dài, chính khả năng kế
thừa, lôi cuốn, quy tụ và đồng kết được nhiều tiềm lực, điều kiện từ bên ngoài, cũng
như khả năng tự tích lũy được kinh nghiệm và bản lĩnh lãnh đạo, kinh doanh, trình
độ phát triển về hạ tầng kỹ thuật, các nguồn vốn, nguồn nhân lực, tri thức – công
nghiệp…sẽ tạo tiền đề và động lực mạnh mẽ nhất cho sự phát triển và cất cánh của
Thủ đô trong tương lai.
Mặt khác, Thủ đô Hà Nội cũng có những khó khăn trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội :
Là nơi những chủ trương, chính sách của Nhà nước được ban hành; là trung
tâm đầu não về chính trị, vì thế mỗi động thái chủ trương, chính sách và thực tiễn
của Hà Nội đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp nhất định đến đời sống kinh tế xã hội của cả nước; điều đó không cho phép Thành phố dễ dàng, mạnh tay triển
Trước năm 1945 Hà Nội là trung tâm hành chính – kinh tế của Bắc Kỳ. Khi
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Hà Nội đã tạo lập địa vị pháp lý là một
Thủ đô và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền đô thị thực hiện chức năng trung
tâm chính trị - hành chính đất nước.
Ngày 19/8/1945 Tổng khởi nghĩa nổ ra ở Hà Nội, ngày 20/8/1945 UBND
lâm thời thành phố Hà Nội được thành lập do ông Nguyễn Huy Khôi (Trần Quang
Huy) làm Chủ tịch và ra mắt tại Bắc Bộ phủ trước sự chứng kiến của đông đảo nhân
dân Hà Nội; ở các nhà máy, xí nghiệp thì thành lập Ủy ban Công nhân cách mạng; ở
15
các cơ sở, khu phố thì thành lập Ban Đại diện Việt Minh; ở ngoại thành Hà Nội
thành lập UBND cách mạng lâm thời các huyện, làng, xã.
Ngày 30/8/1945 UBND thành phố Hà Nội chính thức ra mắt nhân dân. Bác
sỹ Trần Duy Hưng được cử làm Chủ tịch, ông Khuất Duy Tiến làm Phó Chủ tịch và
các ủy viên Nghiêm Tự Trình, Võ Như Hùng, Trịnh Văn Bô. Tháng 10/1945
UBND ở 47 khu phố nội thành và các làng xã ngoại thành Hà Nội được thành lập.
Chính quyền ở các địa phương nói chung và Hà Nội nói riêng mặc dù đã
hình thành, song lại chưa được pháp lý hóa, thiếu quy định thống nhất về chức
năng, nhiệm vụ. Ngày 22/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 63/SL về
cơ cấu tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của HĐND và UBHC các cấp và với Hiến
pháp 1946, địa vị pháp lý của Thủ đô Hà Nội và chính quyền Thành phố đã được
đảm bảo bằng nguyên tắc Hiến định. Lúc này UBHC Thành phố do HĐND Thành
phố bầu ra vừa thay mặt nhân dân vừa thay mặt Chính phủ. UBHC Thành phố sau
khi được bầu phải được Chính phủ chuẩn y mới có thể nhậm chức, ủy viên nào
không được chuẩn y phải bầu lại. UBHC Thành phố hoạt động theo cơ chế cơ quan
thường trực; khác với HĐND Thành phố hoạt động theo các kỳ họp. Các cuộc họp
của UBHC Thành phố bao giờ cũng họp kín.
Trong giai đoạn từ 19/12/1946 đến 10/10/1954 tình hình thay đổi, chính quyền
đặc biệt trực thuộc Chính phủ, từng bước hình thành một tổ chức bộ máy chính
quyền kháng chiến đồng bộ từ cơ sở.
Việc sáp nhập Hà Nội với Hà Đông đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả điều
hành kháng chiến ở địa bàn Hà Nội. Khắc phục hạn chế đó, tháng 11/1948 Hà Nội
trở thành khu đặc biệt trực thuộc Liên khu III. Đến 11/5/1949, với Sắc lệnh số
37/SL UBKCHC Hà Nội lại được tách khỏi Liên khu III và nằm dưới sự điều hành,
chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ. Lúc này UBKCHC Hà Nội gồm 1 Chủ tịch và một
số ủy viên. Dưới UBKCHC Thành phố là văn phòng, các ty chuyên môn. Đến giữa
năm 1949 hình thành 7 ty chuyên môn : Công an, Địch vận, Hoa kiều vụ, Bình dân
học vụ, Dân quân, Giao thông, Điện báo.
+ Từ tháng 7/1954 đến tháng 10/1954 : Đây là thời đoạn chuẩn bị tổ chức bộ
máy chính quyền cho tiếp quản Thủ đô.
Theo tinh thần của Hiệp định Giơ-ne-vơ, Vỹ tuyến 17 được lấy làm giới
tuyến quân sự tạm thời, hai bên tập kết, chuyển quân trong 300 ngày.
17
Ngày 17/9/1954 Chính phủ quyết định thành lập Ủy ban Quân chính Hà Nội
(UBQC) do Thiếu tướng Vương Thừa Vũ làm Chủ tịch, Bác sỹ Trần Duy Hưng làm
Phó Chủ tịch. Hội đồng Chính phủ quy định tất cả cán bộ trung ương về công tác ở
Hà Nội đều phải làm việc dưới sự lãnh đạo của UBQC Hà Nội. Trung ương đã điều
động về Hà Nội hàng trăm cán bộ lấy từ các lớp học tiếp quản Thủ đô. Cùng với đó,
bộ máy tiếp quản với những cán bộ phụ trách tiếp quản từng khu vực, từng ngành,
từng đơn vị được tổ chức từ trên xuống dưới, cả nội thành và ngoại thành.
Giai đoạn 1954 – 1975 là giai đoạn UBND Thành phố quản lý và phát triển
Thủ đô.
Sự kiện 10.10.1954 đã đánh dấu sự tái lập vai trò trung tâm chính trị - hành
chính đất nước sau 8 năm bị gián đoạn do Pháp tạm chiếm. Tuy vậy, hậu quả chiến
tranh để lại rất nặng nề đòi hỏi phải mất rất nhiều thời gian, nhân lực, vật lực để
Đây là giai đoạn Hà Nội tái lập vai trò trung tâm chính trị - hành chính đất
nước, vấn đề mấu chốt với Hà Nội là xây dựng một hệ thống chính trị hoàn chỉnh,
đủ năng lực tổ chức, điều hành, mọi mặt hoạt động trên địa bàn Thủ đô và bảo đảm
môi trường, điều kiện cho hoạt động của các cơ quan trung ương.
Giai đoạn 1975 – 1986 UBND thành phố Hà Nội thực hiện vai trò quản lý
hành chính nhà nước ở Thủ đô trong điều kiện đất nước thống nhất.
Trong giai đoạn này, UBHC/UBND Thành phố cũng có một số điều chỉnh,
cả tên gọi, cơ cấu tổ chức bộ máy và phương thức điều hành. Vấn đề đổi tên UBHC
sang UBND không đơn thuần là thay đổi về tên gọi mà thực chất là thay đổi quan
niệm về cơ chế vận hành và phương thức quản lý của cơ quan hành chính ở khu vực
đô thị.
+ Về phương thức : chuyển từ phương thức chỉ đạo và quản lý hành chính
thuần túy sang trực tiếp quản lý kinh tế và chỉ đạo sản xuất kinh doanh.
+ Về cơ chế : chuyển từ chế độ thủ trưởng hành chính đề cao trách nhiệm cá
nhân người đứng đầu nền hành chính sang chế độ ủy ban, đề cao vai trò tập thể
trong các quyết định quản lý.
+ Về chức năng, quyền hạn : gắn với quá trình phân cấp quản lý, Thành phố
được giao nhiều quyền hạn hơn về quản lý lãnh thổ nhất là nhà ở và đất đai.
Giai đoạn 1986 – 2008 với quyết định đổi mới, phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN theo đường lối đổi mới của Đảng tại Đại hội VI tạo động lực nội