Đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐẶNG SỸ Đề tài:
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƢỚC VÀ PHÁP QUYỀN
Mã số: 6.01.05 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Đăng Dung



3
MỤC LỤC

Trang phụ ba
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục câc ký hiệu vă chữ viết tắt
PHẦN MỞ ĐẦU
Chƣơng 1: UBND CÂC CẤP TRONG CƠ CẤU BỘ MÂY HĂNH
CHNH NHĂ NƢỚC.
1.1. Tầm quan trọng của chnh quyền địa phương trong tổ chức
vă hoạt động của bộ mây Nhă nước .
1.2. Lịch sử hnh thănh vă phât triển của UBND câc cấp vă vị tr,
chức năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh theo Hiến phâp
1992 vă Luật tổ chức HĐND vă UBND năm 1994.
1.2.1. Lịch sử hnh thănh vă phât triển của UBND câc cấp.
1.2.2. Vị tr, chức năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh theo
Hiến phâp 1992 vă Luật tổ chức HĐND vă UBND năm 1994.
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG, VAI TR, TỔ CHỨC VĂ HOẠT ĐỘNG
CỦA UBND TỈNH THỪA THIÍN HUẾ .
2.1. Lịch sử hnh thănh vă phât triển của UBND tỉnh Thừa Thiín
Huế vă vai tr của n trong quản lý Nhă nước tại địa phương trong
thời kỳ hiện nay .
2.1.1. Điều kiện tự nhiín, kinh tế, xê hội, dđn cư của tỉnh
Thừa Thiín Huế .
2.1.2. Lịch sử hnh thănh vă phât triển của UBND tỉnh Thừa
Thiín Huế .
2.2. Vai tr của UBND tỉnh Thừa Thiín Huế trong quản lý nhă
nước tại đại phương trong thời kỳ hiện nay.

2.3. Thực trạng tổ chức của UBND tỉnh Thừa Thiín Huế .
2.4. Thực trạng hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiín Huế
2.5. Thực trạng đội ngũ cân bộ,cng chức của tỉnh Thừa Thiín Huế
Chƣơng 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ VĂ GIẢI PHÂP ĐỔI MỚI TỔ
CHỨC VĂ HOẠT ĐỘNG CỦA UBND TỈNH THỪA THIÍN HUẾ.
3.1. Yíu cầu đổi mới tổ chức vă hoạt động của UBND tỉnh Thừa
Thiín Huế
3.2. Kiện toăn câc cơ quan chuyín mn của UBND tỉnh
3.3. Đổi mới phương thức hoạt động, chế độ lăm việc của UBND
tỉnh để nđng cao hiệu lực quản lý, cải câch thủ tục hănh chnh.
3.4. Xđy dựng đội ngũ cân bộ cng chức trong sạch, c năng lực,
chế độ thu ht nhđn tăi vă sử dụng nhđn tăi.
3.5. Tăng cường sự lênh đạo của Đảng, sự gam sât của HĐND vă
phât huy vai tr của quần chng trong việc xđy dựng chnh quyền
vững mạnh.
3.6. Một số kiến nghị đối với Trung ương.
KẾT LUẬN
DANH MỤC TĂI LIỆU THAM KHẢO

35
44
58

63

63
64

XHCN : Xã hội chủ nghĩa
và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu qủa công việc của Nhà

1
[ 12, 133 ]

7
nước nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND các cấp. Đề cao
trách nhiệm và kỷ luật của HĐND và UBND trong việc chấp hành pháp luật và
các Nghị định của Quốc hội, Chính phủ và cơ quan hành chính cấp trên”.
Về vấn đề này đã có nhiều tác giả nghiên cứu và nhiều công trình khoa
học đã được công bố như: Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, PTS Nguyễn Hữu Đức,
Cải cách hành chính địa phương lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản chính trị
quốc gia 1998; TS ThangVăn Phúc, Cải cách hành chính Nhà nước thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp, Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2001; Bùi Xuân
Đức, Vấn đề tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật 3/1991; Vũ Văn Thái, Một số quan điểm và giải pháp tiếp tục cải
cách, kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước, Tạp chí Quản lý Nhà nước
2/2001.Nhưng hầu hết các đề tài nghiên cứu đều ở phạm vi rộng, chưa đi sâu
vào một tỉnh, một địa phương cụ thể.
Đề tài của Luận văn này chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu vấn đề: ”Đổi
mới tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế”, vì ngoài những
nguyên tắc chung thì các yếu tố như vị trí địa lý, dân cư, phong tục tập quán,
truyền thống cũng ảnh hưởng đến vấn đề tổ chức và hoạt động của UBND
mỗi tỉnh. Do vậy, yêu cầu về tổ chức và hoạt động của UBND mỗi tỉnh sẽ có
những điểm không giống nhau.
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề cụ thể về tổ
chức và hoạt động của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như những yếu tố ảnh
hưởng đến tổ chức và hoạt động của nó trong quản lý nhà nước tại địa phương,
từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của UBND
tỉnh Thừa Thiên Huế.

nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà
nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Điều này thể hiện bản chất của nhà nước ta
“là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân”
2
. Tôn chỉ hoạt
động của nhà nước ta là: ”Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền
làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm cấm mọi hành động xâm phạm lợi
ích của Tổ quốc và nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công
bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện” (điều 3 Hiến pháp 1992).
Để đảm bảo cho nhà nước thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình,
đáp ứng được những yêu cầu của xã hội thì việc phân cấp, phân quyền trong
quản lý hành chính chiếm vị trí hết sức quan trọng. Từ khi xuất hiện Nhà nước
cho đến nay, dù là hình thức Nhà nước cát cứ hay tập quyền thì việc phân chia
lãnh thổ thành các đơn vị hành chính để Nhà nước Trung ương thực hiện quyền
quản lý, điều hành luôn tồn tại. Điều này mang tính khách quan. Bởi lẽ, “không
một Chính phủ của một Nhà nước nào chỉ thực hiện quyền lực Nhà nước của
mình ở tại một chỗ, nơi tọa ngự của các cơ quan Nhà nước Trung ương”
3
. Như
các quốc gia khác trên thế giới, nền hành chính quốc gia nước ta cũng được
phân theo thứ bậc: Chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương, bởi lẽ:
- Các cơ quan Nhà nước Trung ương không thể tự mình trực tiếp quản lý,
điều hành, xử lý tất cả mọi công việc, tình huống nảy sinh ở các địa phương.
Thông qua việc phân cấp trong quản lý, chính quyền địa phương sẽ thay mặt

2[ 12, 131 ]

3[ 12, 131-132]

11
pháp”
4
. Có nghĩa là, không thể có quan niệm quyền lực nhà nước ở Trung ương
và quyền lực nhà nước ở địa phương mà chỉ có một bộ máy thống nhất. Trong
bộ máy đó có các cấp chính quyền Trung ương và địa phương, đó là sự phân
cấp thứ bậc cần thiết mà không phải là sự phân chia quyền lực tạo ra sự cát cứ
địa phương
Trong các cấp chính quyền địa phương, chính quyền cấp tỉnh chiếm vị
trí rất quan trọng, là cấp chính quyền sau cấp Trung ương và là cấp chính quyền
đầu tiên trong hệ thống chính quyền địa phương. UBND tỉnh là một bộ phận của
chính quyền cấp tỉnh. UBND tỉnh là cơ quan chấp hành của HĐND tỉnh và cơ
quan hành chính nhà nước tại địa phương, thực hiện hoạt động mang tính chấp
hành - điều hành để quản lý các lĩnh vực khác nhau trong địa bàn tỉnh. UBND
tỉnh là một tổ chức có cơ cấu thống nhất, nằm trong hệ thống hành chính thống
nhất có tính thứ bậc từ Trung ương đến địa phương và được thành lập theo Hiến
định.

1.2. Lịch sử hình thành, phát triển của UBND các cấp và vị trí chức
năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh theo Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức
HĐND và UBND năm 1994.
1.2.1. Lịch sử hình thành, phát triển của UBND các cấp
Lịch sử hình thành và phát triển của chính quyền địa phương (HĐND và
UBND các cấp) gắn liền với cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Sự phát triển của chính quyền địa phương có thể chia ra
làm 4 giai đoạn: từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước tháng 12/1959; từ
tháng 12/1959 đến trước tháng 12/1980; từ tháng 12/1980 đến trước tháng
4/1992 và từ tháng 4/1992 đến nay.
* Giai đoạn từ sau Cách mạng thángTám 1945 đến trƣớc tháng
12/1959

trên.
Uy ban hành chính tỉnh gồm 3 thành viên do HĐND tỉnh bầu ra trong số
đại biểu biết đọc, biết viết của mình.
Sau cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung cho cả nước, ngày

13
09/11/1946 Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Hiến
pháp 1946 tiếp tục duy trì mô hình tổ chức chính quyền địa phương như Sắc
lệnh số 63/SL.
Trước tình hình thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, ngày
28/12/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 3-NV/SL về việc tạm hoãn
các cuộc bầu cử vào HĐND và UBHC.
Để tiếp tục củng cố kiện toàn chính quyền địa phương trong tình hình
thời chiến, ngày 19/11/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 254/SL về
tổ chức chính quyền nhân dân địa phương trong thời kỳ kháng chiến. Theo quy
định của Sắc lệnh này, chính quyền địa phương được chia thành 4 cấp: liên khu
(thay cho cấp kỳ), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Ở cấp tỉnh và cấp xã có
HĐND và Uy ban kháng chiến hành chính; liên khu và cấp huyện có Uy ban
kháng chiến hành chính.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Uy ban kháng chiến hành chính tập trung vào
lĩnh vực thực hiện các chính sách của Chính phủ , các Sắc lệnh, mệnh lệnh chỉ
thị của cấp trên, điều hòa phối hợp và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn
bản này tại đại phương. Nhìn chung, nhiệm và quyền hạn của Uy ban kháng
chiến hành chính cũng được thay đổi phù hợp với điều kiện chiến tranh.
Uy ban kháng chiến hành chính tỉnh do HĐND tỉnh bầu ra, nơi chưa có
HĐND thì Uy ban kháng chiến hành chính tỉnh do Hội đồng quốc phòng tối cao
chỉ định theo đề nghị của Uy ban kháng chiến hành chính liên khu. Uy ban
kháng chiến hành chính tỉnh có từ 5-7 thành viên. Như vậy, số lượng thành viên
Uy ban kháng chiến hành chính tỉnh tăng so với quy định của Sắc lệnh 63/SL.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình được lập lại ở miền Bắc và

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự ra đời của Hiến pháp 1959 đánh dấu một bước
phát triển mới trong tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền địa phương.
Hiến pháp 1959 quy định chính quyền địa phương gồm ba cấp: tỉnh, huyện, xã.
Khác với trước đây, HĐND chỉ được thành lập ở cấp tỉnh và cấp xã, theo Hiến
pháp 1959 ở tất cả các đơn vị hành chính lãnh thổ đều thành lập HĐND và Uy
ban hành chính. Uy ban hành chính là cơ quan chấp hành của HĐND và cơ

15
quan hành chính của Nhà nước ở địa phương.
Trên cơ sở Hiến pháp 1959, ngày 27/10/1962 Quốc hội khóa II đã thông
qua Luật tổ chức HĐND và Uy ban hành chính các cấp. Luật tổ chức HĐND và
Uy ban hành chính các cấp năm 1962 quy định cụ thể về tổ chức, quyền hạn và
hoạt động của HĐND và Uy ban hành chính ở mỗi cấp.
Luật tổ chức HĐND và Uy ban hành chính các cấp năm 1962 quy định
Uy ban hành chính tỉnh có từ 9-15 thành viên, như vậy có giảm so với trước
đây. Các thành viên của Uỷ ban hành chính không những phải chịu trách nhiệm
chung về công tác của Uy ban mà còn phải chịu trách nhiệm riêng về phần công
tác của mình. Ngoài ra, luật quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn cho UBHC tỉnh.
Đây là sự phân cấp quản lý thể hiện quan điểm từng bước mở rộng quyền hạn
cho UBHC tỉnh về quản lý kinh tê - xã hội, luật cũng quy định việc tham gia
của UBHC tỉnh vào việc quản ly các đơn vị kinh tế, đơn vị sự nghiệp của Trung
ương đóng trên địa bàn tỉnh. UBHC có quyền thành lập hoặc bãi bỏ các cơ quan
chuyên môn thuộc UBHC.
Như vậy, từ giai đoạn này cơ quan chính quyền địa phương được tổ chức
trên cơ sở Hiến định và hoạt động ổn định trong một thời gian tương đối dài.
Nguyên tắc “song trùng trực thuộc” đã được áp dụng một cách toàn diện trong
tổ chức và hoạt động của UBND các cấp. Chính quyền địa phương đã đóng một
vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh
giải phóng miền Nam.
* Giai đoạn từ tháng 12/1980 đến trƣớc tháng 4/1992

hoạt động của thường trực Uy ban không những không đạt hiệu quả như mong
muốn mà còn làm hạn chế vai trò của Chủ tịch UBND.
Trong thời kỳ này, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác
nhau, hiệu quả quản lý Nhà nước có nhiều hạn chế, khủng hoảng kinh tế xã hội
kéo dài. Yêu cầu đặt ra là phải có những thay đổi cơ bản trong quản lý, Đại hội
Đảng VI đã đề ra chu trương đổi mới toàn diện, trong đó có cải cách bộ máy
Nhà nước. Văn kiện Đại hội Đảng VI đã chỉ rõ:”Theo phương hướng sắp xếp lại
bộ máy Nhà nước Trung ương, bộ máy UBND các địa phương cũng phải được

17
tổ chức lại tinh gọn, có đủ quyền hạn, nhiệm vụ và năng lực quản lý trên địa bàn
lãnh thổ”
5
.
Do vậy, ngày 30/06/1989 Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức HĐND và
UBND. Đây là một bước thực hiện chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động
của UBND, một khâu quan trọng nhằm tăng cường sức mạnh của hệ thống
chính quyền địa phương, phát huy dân chủ XHCN. Khắc phục những hạn chế
của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983, luật quy định bỏ thường trực
UBND. Cũng như Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983, Luật tổ chức
HĐND và UBND năm 1989 không liệt kê nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của
UBND, mà chỉ quy định những nhiệm vụ và quyền hạn chung, đồng thời vẫn
giữ nguyên quy định giao cho UBND, giữa hai kỳ họp của HĐND, thực hiện
những nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND, trừ những vấn đề thuộc nội dung kỳ
họp và thuộc thẩm quyền của Thường trực HĐND.
Trong giai đoạn này, tổ chức và hoạt động của UNBD các cấp có nhiều
có nhiều thay đổi. Sự thay đổi đó tạo tiền đề cho việc tiếp tục củng cố và hoàn
thiện tổ chức và hoạt động của UBND sau này.
* Giai đoạn từ tháng 4/1992 cho đến nay
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới đất

Chính phủ phê chuẩn, đây là điểm mới so với Luật tổ chức HĐND và UBND
năm1989.
1.2.2. Vị trí, chức năng, quyền hạn của UBND cấp tỉnh theo Hiến
pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994
Các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương có một vị trí rất quan trọng
trong bộ máy Nhà nước ta, là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của bộ
máy Nhà nước. Vì vậy, xác định vị trí của UBND cấp tỉnh là một bước quan
trọng trong việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của cơ quan này.
Nói đến vị trí của UBND tỉnh tức là nói đến mối quan hệ của UBND tỉnh
trong hệ thống các cơ quan Nhà nước. Vị trí theo từ điển tiếng Việt có nghĩa
là:”địa vị, vai trò trong tổ chức”
6
.
Trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND 6[42, 1147 ]

19
tỉnh có một vị trí quan trọng. Vị trí pháp lý của UBND tỉnh được Hiếp pháp
1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 xác định là cơ quan chấp
hành của HĐND cùng cấp, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (điều
123 Hiến pháp và điều 2 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994). Như vậy,
trong quan hệ với HĐND tỉnh, UBND tỉnh là cơ quan do HĐND cùng cấp bầu
ra, về nguyên tắc nó có thể bị HĐND tỉnh bãi miễn. Với tư cách là cơ quan chấp
hành của HĐND tỉnh, UBND tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện
các Nghị quyết của HĐND trong phạm vi toàn tỉnh, chịu trách nhiệm trước
HĐND, thực hiện chế độ báo cáo trước HĐND, mọi hoạt động của UBND đều
nằm dưới sự kiểm tra, giám sát của HĐND. Với tư cách là cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương, xét trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống các cơ quan

cấp đã cụ thể hóa các nhiệm vụ và quyền hạn của UBND tỉnh tại các điều 14
đến điều 30.
Tóm lại: UBND cấp tỉnh là cơ quan thẩm quyền chung, thực hiện quản lý
toàn diện các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh. UBND tỉnh có thể hình
dung như một “Chính phủ thu nhỏ”, gắn với đơn vị hành chính - lãnh thổ cấp
tỉnh. Hoạt động quản lý của UBND tỉnh phải tuân theo những quy định của
những văn bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước cấp trên, Nghị quyết của
HĐND tỉnh và bảo đảm việc thi hành pháp luật và các văn bản, Nghị quyết đó ở
địa phương. Hoạt động của UBND tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của
mình mang tính chất tác nghiệp cụ thể và nằm trong mối quan hệ chặt chẽ, tiếp
nối hoạt động quản lý của Chính phủ của cơ quan nhà nước cấp trên và HĐND
tỉnh, bảo đảm cho hệ thống hành chính thông suốt, có hiệu lực và hiệu quả
7
.
7[ 19, 185 ]

21
CHƢƠNG 2:
VAI TRÒ VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UBND
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ


Việt Nam, hiện đang lưu giữ một kho tàng vật chất đồ sộ, có quần thể di tich cố
đô Huế, với những công trình kiến trúc cung đình và danh lam thắng cảnh nổi
tiếng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới. Huế còn có hàng
trăm chùa chiền với kiến trúc dân tộc độc đáo và một kho tàng văn hoá phi vật
thể đồ sộ với các loại hình lễ hội tôn giáo, lễ hội dân gian, lễ hội cung đình.
Thành phố Huế ngoài ưu thế về du lịch văn hoá, còn là trung tâm Đại học
và y tế lớn thứ 3 trong cả nước.
Về dân tộc: Tỉnh có 5 dân tộc thiểu số chính (Tà ôi, Pahy, Pacô, Ka tu,
Vân kiều) với số dân là 3,8 vạn người.
Về tôn giáo: Tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những trung tâm tôn
giáo lớn của cả nước tập trung nhiều tôn giáo: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin
lành với tất cả khoảng 262.665 tín đồ.
Thu ngân sách nhà nước năm 2002 là 502,8 tỷ đồng (KH 393,6 tỷ đồng).
Tổng chi ngân sách địa phương là 1002,5 tỷ đồng (KH 660,8 tỷ)
8
.
Tóm lại: Ngoài những ưu thế về điều kiện tự nhiên, du lịch, văn hóa , y
tế như đã trình bày, Thừa Thiên Huế còn có những hạn chế như: khí hậu thời
tiết khá khắc nghiệt, bão lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên; cơ sở hạ tầng thiếu,
yếu kém và xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt ở khu vực miền núi và miền biển;
địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh; dân số tăng nhanh, nhất là ở vùng nông
thôn, miền núi và ngư dân ven biển, lao động chưa có việc làm ở các đô thị còn
nhiều; trình độ dân trí và thu nhập của các tầng lớp dân cư chênh lệch lớn. Tất
cả những yếu tố này cần phải được đánh giá đúng mức trong quá trình tìm kiếm
các giải pháp đổi mới tổ chức và chỉ đạo, điều hành hoạt động của UBND tỉnh
Thừa Thiên Huế.

2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của UBND tỉnh Thừa Thiên
Huế
Lịch sử hình thành và phát triển của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế gắn

nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Thừa Thiên Huế chính thức ra mắt đồng bào,
với thành phần gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch và các Ủy viên: nội vụ, quốc
phòng, giáo dục, cứu tế xã hội, thanh niên, tài chính, kinh tế. Các đơn vị hành
chính được sắp xếp lại, bãi bỏ cấp tổng, sát nhập 500 thôn thành 98 xã.

24
Chính quyền cách mạng lâm thời đã khẩn trương tiến hành các biện
pháp cấp bách để ổn định đời sống nhân dân, xây dựng và củng cố chính
quyền, mở rộng khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và phát triển các đoàn thể
quần chúng.
- HĐND và UBHC tỉnh Thừa Thiên Huế.
Thực hiện sắc lệnh số 63/SL ngày 22.11.1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký về việc tổ chức HĐND và UBHC các cấp, giữa tháng 3 năm 1946 tỉnh Thừa
Thiên Huế đã tiến hành bầu cử HĐND các cấp và đã bầu ra được 30 đại biểu.
Cuối tháng 3 năm 1946, HĐND tỉnh họp phiên đầu tiên tại Duyệt Thị Đường
trong Đại Nội và bầu ra UBHC tỉnh Thừa Thiên Huế với các thành phần như
sau: 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, Ủy viên thư ký và các Ủy viên: nội vụ, quốc
phòng, giáo dục, cứu tế xã hội, thanh niên, tài chính, kinh tế. UBHC tỉnh có các
cơ quan chuyên môn giúp việc và thực hiện quản lý hành chính trên các lĩnh
vực ở địa phương.
Ngày 23/09/1945, thực dân Pháp chiếm Sài Gòn, âm mưu xâm lược trở
lại Việt Nam. Theo Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946, Huế là điểm tiếp nhận
quân Pháp thay thế quân đội Tưởng dưới danh nghĩa “quân tiếp phòng”. Cuối
tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp đến Huế và gây ra những vụ khiêu khích
nghiêm trọng. Cuối tháng 11 năm 1946, theo chỉ đạo chung của Trung ương, Ủy
ban kháng chiến được thành lập với thành phần gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch,
1 Ủy viên và các đại diện đoàn thể.
- Ủy ban kháng chiến hành chính
Ngày 28/07/1947 Hội nghị hành chính toàn khu quyết định thống nhất
UBHC và Uy ban kháng chiến thành Uỷ ban kháng chiến hành chính.

Tháng 7 năm 1975 Uỷ ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên Huế được
thành lập với thành phần gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó chủ tịch, 1 Ủy viên thư ký và 2
Ủy viên khác. Nhiệm vụ của UBND cách mạng là quản lý mọi mặt đời sống xã
hội, đảm bảo an toàn chính trị và trật tự an toàn xã hội.
- HĐND và UBND tỉnh Bình Trị Thiên.
Ngày 27/12/1975 Quốc hội nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa ban hành

Trích đoạn Vai trò của UBND tỉnh ThừaThiên Huế trong quản lý Nhà nƣớc tại địa phƣơng trong thời kỳ hiện nay Thực trạng tổ chức của UBND tỉnh ThừaThiên Huế Thực trạng hoạt động của UBND tỉnh ThừaThiên Huế Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh NHỮNG KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UBND TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status