LUẬN VĂN: Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Thái Bình - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Đổi mới tổ chức và hoạt động của
chính quyền cấp xã ở Thái Bình
mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động của chính quyền địa phương, vấn đề nổi lên bức xúc hiện
nay là tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã. Đây là cấp gần dân nhất, là nơi

Trong bối cảnh trên đã đến lúc cần có sự nghiên cứu toàn diện và nghiêm túc
về chính quyền cấp xã, từ đó nhìn nhận trước hết các vấn đề quan trọng, cấp bách
cần tháo gỡ cũng như hướng cải cách ở tầm chiến lược đối với chính quyền cấp này.
Vì vậy việc lựa chọn vấn đề "Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền
cấp xã ở Thái Bình" trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước làm đề tài luận
văn là cần thiết, phù hợp với yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã từ năm 1991 đến nay đã
được các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và các nhà hoạt động chính trị quan tâm
dưới nhiều góc độ khác nhau như:
- Học viện hành chính quốc gia năm 1991, đã công bố một bộ 3 cuốn sách về:
+ Cải cách bộ máy nhà nước.
+ Cải cách bộ máy quản lý hành chính nhà nước và xây dựng đội ngũ công
chức nhà nước.
+ Cải cách cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế.
Tiếp đó năm 1993 xuất bản kỷ yếu hội thảo đề tài KX 05-08 về phương thức
tổ chức hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước.
Những cuốn sách trên có một số bài của một số tác giả viết về tổ chức, hoạt
động của các cơ quan chính quyền nhà nước ở địa phương, trong đó có chính quyền
cấp xã.
- Tình hình các tổ chức chính trị ở nông thôn nước ta của giáo sư Hồ Văn
Thông được in trong cuốn sách "Kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay", tập
II, NXB Tư tưởng Văn hoá, Hà Nội, 1991.
- Lê Đình Chếch, Về Nhà nước xã hội chủ nghĩa và công tác cán bộ chính
quyền cấp xã ở Hải Hưng, Luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội, 1994.
Đặc biệt trong những năm gần đây, cải cách hành chính nhà nước là một nội
dung rất quan trọng của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, một số đề tài khoa

- Mục đích của luận văn
Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới tổ chức hoạt động của chính
quyền cấp xã trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước; đồng thời trên cơ sở
phân tích thực trạng và những bất cập trong tổ chức và hoạt động của chính quyền
cấp xã ở địa phương, nêu ra phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động
của chính quyền cấp xã ở Thái Bình.
- Nhiệm vụ của luận văn
+ Phân tích cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã. Vị
trí vai trò chính quyền cấp xã, tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã.
+ Phân tích thực trạng tổ chức, hoạt động của chính quyền cấp xã ở tỉnh Thái
Bình, qua đó nêu ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục.
+ Đưa ra những giải pháp đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã
trong điều kiện cải cách hành chính.
4- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn)
là đề tài rộng được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau, luận văn chỉ đi sâu nghiên
cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến chính quyền cấp xã và được minh chứng
bằng thực tiễn tỉnh Thái Bình.
- Giới hạn thời gian nghiên cứu của luận văn từ thời kỳ đổi mới, song chủ yếu
tập trung vào thời kỳ từ sau đại hội VII của Đảng năm 1991 (khẳng định rõ quan
điểm cải cách hành chính) đến nay.
5- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lý luận
Nhà nước - pháp luật nói chung và chính quyền cấp xã nói riêng.
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin, kết
hợp các phương pháp lịch sử - cụ thể; phân tích tổng hợp, điều tra xã hội học

vụ và tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã. Chính quyền cấp xã gồm Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban hành chính, trong đó Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực ở xã do
dân cử ra, bầu ra Uỷ ban hành chính và Uỷ ban hành chính chịu trách nhiệm trước
Hội đồng nhân dân (HĐND); các cơ quan chuyên môn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp
của Uỷ ban hành chính.
Sau cuộc bầu cử HĐND cấp xã khóa đầu tiên (4-1946), Chính phủ tiến hành
hợp nhất một vài thôn, làng thành các xã lớn. Việc lập các xã lớn có vai trò quan
trọng trong việc tổ chức phong trào chiến tranh du kích, động viên lực lượng toàn
dân tham gia kháng chiến. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Uỷ ban hành
chính đổi tên thành Uỷ ban kháng chiến hành chính. Đến thời kỳ cải cách ruộng đất,
việc chỉnh đốn chính quyền cấp xã được tiến hành theo hướng: đề bạt cán bộ nông
dân tốt, loại trừ cán bộ thuộc thành phần địa chủ, cường hào, phú nông, nhấn mạnh
một chiều vào thành phần giai cấp nên đã làm hạn chế năng lực của cán bộ xã.
Những khiếm khuyết đó đã làm suy yếu chính quyền cấp xã trong một thời gian dài.
Hiến pháp năm 1959 tiếp tục củng cố và kiện toàn hệ thống chính trị, trong đó
có bộ máy quản lý cấp xã. Tuy nhiên trong thời gian này, nhìn chung HĐND hoạt
động nặng về hình thức, Uỷ ban hành chính hoạt động theo Nghị quyết của cấp uỷ
và ban quản trị hợp tác xã, hợp tác xã từng bước chi phối các hoạt động ở xã. Hợp
tác xã không những chỉ là tổ chức kinh tế mà còn chi phối các hoạt động chính trị, xã
hội, văn hoá của dân cư trong địa bàn. Cùng với nó là chế độ bao cấp và sản xuất
theo kế hoạch từ trên xuống. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến nạn quan
liêu tham nhũng trong bộ máy quản lý cấp xã, quyền làm chủ của nhân dân bị vi
phạm. Thực tế đã diễn ra sự biến dạng nhất định về phương thức hoạt động của
chính quyền cấp xã.
Trong thời kỳ này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước đang tập trung sức lực
và trí tuệ vào công cuộc chống Mỹ cứu nước, chính quyền cấp xã chủ yếu làm nhiệm
vụ động viên sức người, sức của phục vụ kháng chiến. Trải qua mấy chục năm dân

thống bộ máy nhà nước nên chính quyền cấp xã có đặc điểm
như sau:
Một là, chính quyền cấp xã là cấp cơ sở tiếp xúc trực tiếp với nhân dân. Cán
bộ cấp xã hàng ngày sinh hoạt với dân trong mối quan hệ không chỉ là giữa chính
quyền với dân mà còn là quan hệ gia tộc và xóm làng lâu đời với cả những tập quán
tốt đẹp cơ bản cũng như một số tập quán lạc hậu; là người giải quyết trực tiếp hàng
ngày không qua chính quyền trung gian nào khác những vấn đề dân quyền, dân sinh,
dân trí, dân tâm, làm sao một mặt phải theo đúng chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước; mặt khác phải sát hợp với tình hình thực tế trong xã hội và thấu tình
đạt lý trong quan hệ xóm làng. Sự đổi mới từng ngày của nông thôn về các mặt đòi
hỏi cán bộ chính quyền cấp xã phải có tư duy mới, trình độ và kiến thức mới về
chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, quản lý.
Hai là, tổ chức bộ máy ở xã không giống như ở các đơn vị hành chính cấp
trên, ở xã chỉ có HĐND và UBND thực hiện việc quản lý địa phương. Vì thế chính
quyền cấp xã phải quản lý nhà nước về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh trật tự, an
toàn xã hội theo thẩm quyền do pháp luật quy định. Nó có một vị trí quan trọng
trong hệ thống chính quyền nhà nước, nối liền trực tiếp chính quyền với quảng đại
quần chúng nhân dân. Cho nên HĐND xã phải thực sự là đại biểu cho nhân dân ở cơ
sở; UBND là cơ quan chấp hành của HĐND xã và là cơ quan hành chính nhà nước ở
cơ sở, xử lý kịp thời những yêu cầu hàng ngày của nhân dân.
Ba là, chính quyền cấp xã thuần nông và chính quyền cấp xã ở đó có các hợp
tác xã thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cơ bản giống nhau, đó là, đều thực hiện
việc quản lý địa phương về các mặt chính trị, kinh tế - xã hội, anh ninh trật tự, an
toàn xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục, thi hành pháp luật theo quy định của pháp
luật. Song bên cạnh đó có điểm khác nhau là, chính quyền cấp xã có các hợp tác xã
thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
chính quyền cấp xã nói chung, còn phải thực hiện việc quản lý ngành nghề; Đồng

tiếng nói của các tầng lớp nhân dân địa phương, đại diện cho trí tuệ tập thể của nhân
dân.
1.1.2.2. Vị trí vai trò của UBND
Vị trí pháp lý và vai trò của UBND được quy định rõ trong Hiến pháp và luật
tổ chức HĐND và UBND.
Điều 123 Hiến pháp 1992, Điều 2 luật tổ chức HĐND và UBND sửa đổi quy định:
"UBND do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn
bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp [47,
tr.6].
UBND cấp xã có 2 tư cách: là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan
hành chính nhà nước ở cấp cơ sở.
Với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND cấp xã có vai trò quan
trọng trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực
đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp lụât. Tổ chức và chỉ đạo việc
thi hành pháp luật, Nghị quyết của HĐND cùng cấp.
Còn với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND có vai
trò trong việc quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế -
xã hội ở địa phương mình.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chính quyền cấp xã với hệ thống chính trị cơ sở
1.1.3.1. Quan hệ giữa chính quyền cấp xã với Đảng uỷ cơ sở
Đảng cộng sản Việt Nam được Hiến pháp thừa nhận là lực lượng lãnh đạo
Nhà nước và xã hội. Do đó trong mọi hoạt động của mình, HĐND, UBND cấp xã
phải chấp hành đường lối chủ trương của Đảng và chịu sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ
sở xã, phường, thị trấn.
Ban chấp hành Đảng bộ cơ sở thực hiện sự lãnh đạo đối với HĐND, UBND
xã bằng chủ trương, Nghị quyết và các biện pháp lớn, bằng việc bố trí cán bộ thực

thành tích xuất sắc, đề nghị bãi miễn những đại biểu không còn xứng đáng với sự tín
nhiệm của nhân dân theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch HĐND tổ chức để đại biểu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tham
gia các hoạt động giám sát, kiểm tra phù hợp với ban thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cùng cấp trong việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo văn bản
pháp luật và những vấn đề quan trọng ở cơ sở.
1.1.3.3. Mối quan hệ giữa UBND với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân
ở cơ sở được mời dự các phiên họp của UBND khi bàn về các vấn đề có liên quan.
UBND tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tổ
chức thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước, giám sát các hoạt
động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cư, cán bộ công chức nhà nước.
UBND thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của cơ sở cho Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
UBND và các thành viên của UBND có trách nhiệm giải quyết và trả lời các
kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) có vị trí rất quan trọng, là nơi
trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước. Tuy có chức năng và quyền hạn khác nhau, nhưng HĐND và UBND cấp xã
có mối quan hệ mật thiết về mặt tổ chức cũng như trong việc thực hiện nhiệm vụ
được giao. Do đó việc phát huy và thực hiện tốt vai trò của UBND xã, phường,
thị trấn là góp phần nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cùng cấp và
ngược lại: không ngừng cải tiến đổi mới nội dung phương pháp làm việc để nâng
cao hiệu quả hoạt động là biện pháp thiết thực để củng cố vai trò vị trí của chính
quyền cấp xã, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước trong giai đoạn

1.2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã
HĐND các cấp nói chung và HĐND cấp xã nói riêng đều có 2 chức năng:
- Chức năng quyết định các biện pháp, chủ trương về các vấn đề thuộc quyền
của địa phương. Cụ thể, HĐND cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn quyết định về các
vấn đề thuộc các lĩnh vực sau:
+ Trong lĩnh vực kinh tế, HĐND cấp xã quyết định:
Biện pháp thực hiện việc phát triển kinh tế - xã hội hàng năm nhằm phát huy
mọi tiềm năng của địa phương.
Dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa
phương; các chủ trương biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; điều
chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết.
Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương; biện pháp quản
lý và sử dụng hợp lý có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công ích ở
địa phương.
Biện pháp khuyến khích, vận động nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây
trồng vật nuôi theo quy hoạch chung.
Biện pháp thực hiện chương trình khuyến khích phát triển nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng dẫn của cơ quan Nhà nước cấp
trên.
Biện pháp về xây dựng và phát triển hợp tác xã, tổ hợp ở địa phương; tuyên
truyền vận động nhân dân tham gia hợp tác xã.
Biện pháp quản lý, sử dụng, bảo vệ nguồn nước các công trình thuỷ lợi theo
hướng dẫn của cấp trên; biện pháp phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai bão lụt,
bảo vệ rừng, tu bổ và bảo vệ đê điều ở địa phương.
Biện pháp thực hiện xây dựng, tu sửa đường giao thông cầu cống trong xã và
các cơ sở hạ tầng khác ở địa phương.
Biện pháp thực hiện chính sách tiết kiệm, chống tham nhũng, chống buôn lậu.

phương.
Biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội;
đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa
phương.
Biện pháp bảo đảm trật tự công cộng, an toàn xã hội.
+ Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, HĐND cấp
xã quyết định:
Biện pháp bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, cải thiện đời sống vật chất
và tinh thần, nâng cao dân trí của đồng bào các dân tộc, giữ gìn, tăng cường khối
đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc ở địa phương.
Biện pháp bảo đảm thực hiện chính sách tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.
+ Trong lĩnh vực thi hành pháp lụât, HĐND cấp xã quyết định:
Biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, lụât, các văn bản của cơ quan Nhà
nước cấp trên ở địa phương.
Biện pháp bảo hộ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự nhân phẩm, các quyền và
lợi ích hợp pháp khác của công dân.
Biện pháp bảo vệ tài sản lợi ích của Nhà nước, bảo hộ tài sản của tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế ở địa phương.
Biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công
dân theo quy định của pháp lụât.
+ Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành
chính, HĐND cấp xã quyết định:
Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, chủ tịch, phó chủ
tịch và các thành viên khác của UBND cùng cấp.
Bãi nhiệm đại biểu HĐND, chấp nhận việc đại biểu HĐND cùng cấp xin thôi
làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp lụât.

- Hoạt động tập thể của HĐND: kỳ họp HĐND là hình thức hoạt động của
yếu của HĐND. HĐND cấp xã họp thường lệ mỗi năm 2 kỳ. Trong trường hợp cần
thiết, theo yêu cầu của UBND hoặc ít nhất 1/3 số đại biểu HĐND yêu cầu thì chủ tịch
HĐND quyết định triệu tập kỳ họp bất thường.
Kỳ họp HĐND được tiến hành khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu tham dự.
Trong trường hợp không thể triệu tập kỳ họp HĐND đúng kỳ hạn theo quy định của
pháp luật, chủ tịch HĐND cấp xã báo cáo để thường trực HĐND cấp trên trực tiếp
xem xét và chuẩn y.
Kỳ họp HĐND cấp xã là hình thức hoạt động rất quan trọng của HĐND, vì
thông qua kỳ họp, nhân dân địa phương thực hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm
chủ của mình.
- Hoạt động của chủ tịch, phó chủ tịch HĐND cấp xã - Chủ tịch HĐND cấp
xã có trách nhiệm:
Phối hợp với UBND cùng cấp chuẩn bị dự kiến chương trình làm việc, báo
cáo đề án trình HĐND, triệu tập kỳ họp HĐND.
Đôn đốc kiểm tra việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND.
Tổ chức việc tiếp dân, đôn đốc kiểm tra việc giải quyết các kiến nghị, khiếu
nại, tố cáo của công dân.
Giữ mối liên hệ với các đại biểu HĐND và các tổ đại biểu HĐND, báo cáo
tình hình hoạt động của HĐND cấp mình lên HĐND và UBND cấp trên trực tiếp.
- Hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã:
Đại biểu HĐND cấp xã là người đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân
địa phương, gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, tuyên truyền
vận động nhân dân thực hiện pháp luật chính sách và tham gia vào việc quản lý nhà
nước.
Trong kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND có trách nhiệm tham gia thảo luận và
quyết định chương trình làm việc của kỳ họp HĐND; thảo luận các vấn đề thuộc nội

6- Một uỷ viên phụ trách giao thông thuỷ lợi.
7- Một uỷ viên phụ trách văn phòng.
- UBND phường gồm 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch, 5 uỷ viên, phân công như
sau:
1- Chủ tịch phụ trách chung, nội chính, an ninh đô thị.
2- Một phó chủ tịch phụ trách văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục, thể dục thể
thao.
3- Một uỷ viên phụ trách công an.
4- Một uỷ viên phụ trách quân sự.
5- Một uỷ viên phụ trách tài chính.
6- Một uỷ viên phụ trách nhà đất.
7- Một uỷ viên phụ trách lao động - thương binh và xã hội.
1.2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp xã
a. Về kế hoạch ngân sách, tài chính, UBND cấp xã có những nhiệm vụ, quyền
hạn sau:
+ Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình HĐND cùng
cấp thông qua và trình UBND huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó.
+ Về ngân sách, UBND xã, thị trấn lập dự toán và phương án bổ xung ngân
sách địa phương, dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần
thiết, trình HĐND cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ
quan tài chính cấp trên trực tiếp.
+ Lập quyết toán ngân sách địa phương trình HĐND cùng cấp phê chuẩn và báo
cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.
+ Căn cứ vào Nghị quyết của HĐND cùng cấp, quyết định giao nhiệm vụ thu,
chi ngân sách cho từng cơ quan đơn vị trực thuộc.
Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương.
Báo cáo về ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
+ Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm đường giao thông
và các công trình cơ sở hạ tầng khác ở địa phương theo quy định của pháp luật.
+ Huy động sự đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng đường giao
thông, cầu cống trong xã theo quy định của pháp luật.
- Về thương mại, dịch vụ, UBND cấp xã:
+ Quản lý sắp xếp chợ và các điểm buôn bán dịch vụ ở địa phương.
+ Quản lý các dịch vụ, buôn bán nhỏ ở địa phương theo quy định của pháp
luật.
+ Phối hợp với các cơ quan hữu quan chống buôn lậu, trốn thuế, sản xuất, lưu
hành hàng giả ở địa phương.
e. Về văn hoá giáo dục, UBND cấp xã:
+ Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương.
+ Phối hợp với trường học tổ chức đăng ký huy động trẻ em vào lớp 1 đúng
độ tuổi; hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục, thực hiện xoá mù chữ cho những
người trong độ tuổi.
+ Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu giáo
ở địa phương.
+ Phối hợp với các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên quản lý trường tiểu
học, trung học cơ sở trên địa bàn.
+ Tổ chức các hoạt động văn hoá, thông tin, nghệ thuật, thể dục thể thao; tổ
chức thực hiện việc hướng dẫn các lễ hội truyền thống; bảo vệ di tích lịch sử, vận
động nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá
f. Về y tế, xã hội, UBND cấp xã:
+ Tổ chức và quản lý trạm y tế của xã; tổ chức triển khai các chương trình y
tế cơ sở, dân số kế hoạch hoá gia đình được giao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status