NGHI THỨC CHÀO HỎI TRONG
GIAO TIẾP VỢ CHỒNG NÔNG DÂN NGƯỜI VIỆT
(Trên cứ liệu một số tác phẩm văn học giai đoạn 1930 - 1945)
Khuất Thị Lan
1
rong giao tiếp nói chung và giao tiếp vợ chồng nói riêng, nghi thức chào hỏi có
một ý nghĩa rất quan trọng. Lời chào thể hiện thái độ, tình cảm, hiện trạng
giữa các thành viên giao tiếp. Nghi thức chào hỏi trong gia đình người Việt rất đa
dạng. Bài viết tập trung tìm hiểu các biểu hiện của nghi thức chào hỏi trong giao
tiếp vợ chồng nông dân người Việt từ góc độ ngôn ngữ học xã hội.
1. MỞ ĐẦU
Có thể thấy giao tiếp vợ chồng là lĩnh vực ứng xử giao tiếp trong gia đình và là giao tiếp
giữa những người khác giới. Theo đó, chủ đề giao tiếp và các hành vi ngôn ngữ chịu ảnh
hưởng của hai nhân tố, đó là gia đình và giới.
Như đã biết, nói đến gia đình là nói đến tôn ti. Tính tôn ti trong giao tiếp vợ chồng, xét
về lí là ngang bằng nhau và gần gũi đến mức dường như là không có khoảng cách. Tuy nhiên,
vì đây là vợ chồng nông dân ở thời kì thực dân nửa phong kiến lạc hậu, cho nên, mặc dù là vợ
chồng nhưng tính tôn ti và khoảng cách vẫn còn bộc lộ ở vai trò làm chủ gia đình của người
chồng và vai trò “tòng phu” của người vợ. Đặc điểm này chi phối các hành vi ngôn ngữ trong
giao tiếp.
Nói đến nhân tố giới là nói đến các đặc điểm riêng của mỗi giới, “Đàn ông đến từ sao
Hỏa, đàn bà đến từ sao Kim”. Đối với ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội gọi đó là “phong cách
ngôn ngữ nữ giới”, “phong cách ngôn ngữ nam giới”. Những đặc điểm này được in dấu vào
từng nghi thức ứng xử lời nói trong giao tiếp nói chung và giao tiếp vợ chồng nói riêng. Vì
thế, một điều dễ nhận thấy là trong cách hành xử của mỗi giới, đặc biệt trong ứng xử ngôn
ngữ, sẽ mang đậm phong cách riêng của mỗi giới.
Với cách nhìn như vậy, chúng tôi tập trung khảo sát chủ đề giao tiếp vợ chồng và nghi
thức “chào hỏi” trong giao tiếp vợ chồng nông dân người Việt (Qua một số tác phẩm văn học
thời kì 1930 - 1945).
Giao tiếp vợ chồng mặc dù tồn tại ở thể động nhưng lại bị chi phối, ràng buộc bởi những
qui tắc xã hội nhiều hơn chúng ta tưởng. Khác với những loại hình giao tiếp xã hội thông
thường, giao tiếp vợ chồng luôn được xác định trước về các mặt cá nhân của những người
tham gia giao tiếp như trật tự, tôn ti, quyền uy, vị thế… và chịu sự qui định của hàng loạt các
tác động xã hội khác như lịch sử, xã hội, dân tộc, vùng văn hóa, tuổi tác, giới tính… Chính vì
thế mà giao tiếp vợ chồng khuôn mẫu trong cách ứng xử, xưng hô, khuôn mẫu trong việc
hình thành đặc điểm ngôn ngữ và các nghi thức lời nói khác. Hay nói khác đi, trong giao tiếp
vợ chồng tất cả các nhân tố đều được xác lập dựa trên một quy chuẩn xã hội nhất định.
Giao tiếp vợ chồng là hình thức giao tiếp vừa mang tính xã hội, vừa mang tính gia đình,
vừa mang tính hiện đại lại vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính nghi thức lại vừa mang
tính phi nghi thức. Điều này khiến cho giao tiếp vợ chồng không chỉ đa dạng về hình thức mà
còn vô cùng linh hoạt, biến hoá về nội dung.
2.1.2. Bức tranh về giao tiếp vợ chồng nông dân
2.1.2.1. Thống kê tư liệu
Tiến hành thống kê tư liệu, chúng tôi đã thống kê được trên 50 cuộc hội thoại giao tiếp
vợ chồng nông dân và thu được những kết quả như sau:
- Có 527 hành vi ngôn ngữ. Trong đó:
- Vợ: 285 hành vi ngôn ngữ (54,1%)
- Chồng: 242 hành vi ngôn ngữ (45,9%)
- Các hành vi ngôn ngữ được sử dụng:
Số TT
Hành vi ngôn ngữ
Số lượng
%
1
Hỏi trực tiếp
82
15,6
2
1,8
10
Than
29
5,6
11
Chửi
6
1,1
12
Trình bày
72
13,7
13
Thách thức
7
1,3
14
Thông báo
25
4,8
15
Cảm thán
38
7,3
16
Giải thích
26
4,9
17
0,4
25
Chấp nhận xin lỗi
1
0,2
26
Không chấp nhận xin lỗi
1
0,2
27
Khen
2
0,4
28
Nhờ vả
1
0,2
29
Gọi
8
1,8
30
Đề nghị
1
0,2
Tổng
527
100
2.1.2.2. Nhận xét về kết quả thống kê
nông dân thường là những người mang bản tính thật thà, chân chất, không ưa hình thức, bóng
bẩy… thậm chí, đôi khi những phép lịch sự tối thiểu trong giao tiếp đối với họ trở thành xã
giao hoặc xa xỉ. Vì thế, trong giao tiếp nói chung và trong giao tiếp vợ chồng nông dân nói
riêng, các hành vi ngôn ngữ có bản chất mang tính lịch sự dương tính như khen, xin lỗi, dỗ
dành, dặn dò, cam kết… được thực hiện với tần số thấp cũng là lẽ đương nhiên.
2.2. Khảo sát nghi thức chào hỏi trong giao tiếp vợ chồng nông dân
2.2.1. Nghi thức và nghi thức chào hỏi
2.2.1.1. Nghi thức
Nghi thức là toàn bộ những điều quy định theo quy ước xã hội hoặc thói quen cần phải
làm đúng để đảm bảo tính nghiêm túc của sự giao tiếp hoặc của một buổi lễ.
“Nghi thức giao tiếp được hiểu là một hệ thống phức tạp các dấu hiệu chỉ ra trong quá
trình giao tiếp, bao gồm lời nói và các dấu hiệu kèm theo hoặc dấu hiệu thay cho lời nói”
(Nguyễn Văn Khang, Ứng xử ngôn ngữ trong gia đình người Việt, tr.5).
Nghi thức ứng xử trong giao tiếp được các nhân vật giao tiếp ý thức và đôi khi trở thành
những “tiền giả định” giao tiếp. Nhờ chúng mà các nhân vật giao tiếp có thể “tiên lượng”
được cách nói năng cũng như những gì cần nói sao cho phù hợp với hướng và đích của cuộc
giao tiếp và hội thoại.
Nghi thức lời nói trong giao tiếp là một lĩnh vực rộng, bao gồm nhiều phạm vi khác nhau
như: nghi thức chào, nghi thức xưng hô, nghi thức mời, xin phép, khuyên bảo, cảm ơn… và
nhiều tình huống giao tiếp cụ thể khác. Trong mỗi tình huống giao tiếp cụ thể, người chủ
động đối thoại phải tìm cách nhập thân vào giao tiếp. Muốn nhập thân vào giao tiếp các nhân
vật giao tiếp cần phải thiết lập được mối quan hệ giao tiếp. Việc thiết lập mối quan hệ giao
tiếp là nhiệm vụ thường trực của nghi thức giao tiếp.
Có rất nhiều nhân tố chi phối đến việc thiết lập mối quan hệ giao tiếp. Tuy nhiên, ở đây
không thể bỏ qua ba yếu tố cơ bản là: đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích
giao tiếp. Tùy từng đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là mục đích giao tiếp
mà các nhân vật giao tiếp có cách ứng xử ngôn ngữ khác nhau đối với cùng một nghi thức.
Trong bài viết này, chúng tôi tập trung đi sâu tìm hiểu các biểu hiện khác nhau của nghi thức
chào hỏi trong giao tiếp vợ chồng nông dân người Việt.
2.2.1.2. Nghi thức chào hỏi
Số
TT
Hành vi ngôn ngữ được sử
dụng làm lời chào
Vợ
%
Chồng
%
1
Hỏi trực tiếp
15
29,41
9
5,25
2
Hỏi gián tiếp
3
1,53
4
6,78
3
Cảm thán
3
1,53
2
3,39
4
Trình bày
6
3,06
2
3,38
10
Giải thích
0
0
4
6,77
11
Chửi
0
0
5
8,47
12
Dọa
0
0
5
8,47
13
Gọi
4
7,84
4
6,77
14
Mắng
1
1,96
tượng thực hiện hành vi chào nhiều hơn cũng là điều dễ hiểu.
Thứ hai: Loại hành vi ưa dùng trong lời chào của vợ và chồng
Hành vi hỏi được vợ sử dụng nhiều hơn chồng (31% ở người vợ so với 12% ở người
chồng); hành vi trình bày được chồng sử dụng vượt trội so với vợ (27% ở người chồng so
với 9% ở người vợ); hành vi cảm thán, than, trách chia đều cho cả vợ và chồng. Từ góc độ
ngôn ngữ và giới có thể giải thích như sau:
Vì đây là thời kì đen tối, người nông dân phải sống dưới ách đô hộ “một cổ hai tròng”,
khó khăn, cực nhọc đủ đường. Lúc này người nông dân chủ yếu quan tâm đến đời sống vật
chất hằng ngày cũng như những đe doạ về quyền con người trong xã hội phong kiến nên hành
vi hỏi xuất hiện nhiều nhất, trong đó tập trung vào người vợ. Người vợ thường hỏi chồng về
công việc (có kiếm được việc làm không), về tiền nong (có kiếm được tiền không, có vay
được tiền không), hỏi chồng về sự an toàn, về sức khoẻ (vì phải sưu cao, thuế nặng, phu
phen, tạp dịch).
2.2.2.2. Các biểu hiện của nghi thức chào
Tác giả Nguyễn Văn Khang trong Ứng xử ngôn ngữ trong gia đình người Việt cho rằng:
nghi thức lời nói chào theo nghĩa thông thường “gặp nhau là chào”. Nhưng điều lí thú là ở
chỗ nghi thức chào trong gia đình, đặc biệt trong giao tiếp vợ chồng, từ chào và từ tạm biệt
được dùng hạn chế ở mức tối đa. Thay vào đó là câu hỏi, lời hỏi thăm hoặc một thông báo…
phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của ngày hôm đó hay lúc đó. Vì thế mà cùng là một nghi thức
chào nhưng lại xuất hiện rất nhiều hình thức lời nói khác nhau. Có mấy dạng biểu hiện nghi
thức chào như sau:
1. Lời chào cụ thể có từ chào và từ tạm biệt đi cùng. Chẳng hạn như: “Con chào mẹ!”
hay “Tạm biệt bố nhé!”.
2. Chào bằng cách dùng một đại từ xưng hô để gọi. Chẳng hạn như: “Mẹ/ bố!” hay “Con
à/ mẹ ơi!”.
3. Chào bằng cách hỏi về những vấn đề mà các nhân vật giao tiếp cùng quan tâm. Chẳng
hạn như: “Đi dâu đấy?” hay “Hôm nay có làm được bài thi không con?”.
4. Chào bằng các thông báo cho nhau một lượng tin mới. Chẳng hạn như: “Tốt rồi mẹ ạ!”
hay “Hỏng mất rồi!” (thông báo về việc con đi thi làm bài tốt hoặc không tốt).
5. Chào giống như một lời dặn dò, nhắc nhở. Chẳng hạn như: “Cầm ô đi con, trời nắng
cũng in đậm dấu ấn của hoàn cảnh giao tiếp, trở nên hết sức thực tế.
Ví dụ 1:
- Nhà còn gạo không?
- Làm gì mà còn gạo!
- Thế thì làm sao được?
- Muốn làm sao thì làm!
(Trẻ con không được ăn thịt chó, Tuyển tập Nam Cao, Tập 1, tr.143)
Ở đây, người chồng đã dùng hành vi hỏi trực tiếp “Nhà còn gạo không?”. Lời chào rất
thực tế này dẫn người vợ vào một nội dung chính mà cả hai vợ chồng đang quan tâm. Đó là
nỗi lo cơm áo, gạo tiền. Nỗi lo ấy dường như đã trở thành vấn đề thường trực, không thể
thoát ra khỏi suy nghĩ của họ.
Ví dụ 2:
- Nó làm sao thế?
Chị đĩ Chuột xốc con lên một cái:
- Nó vòi đấy chứ có làm sao? Cơm gạo đỏ không chịu ăn, đòi ăn cơm trắng của thầy cơ.
- Thì lấy cho nó ăn, tôi ăn làm sao hết?
Chị đĩ Chuột lấy liễn cơm chực moi cho con một ít. Nhưng anh bảo:
- Mang cả ra cho nó ăn, tôi không ăn nữa đâu. Còn bao nhiêu vét cho cái Gái với bu em
ăn hết đi, để nó thiu ra đấy.
(Nghèo, Tuyển tập Nam Cao, tập 1, tr.13-14)
Anh đĩ Chuột chào vợ bằng một hành vi ngôn ngữ hỏi trực tiếp “Nó làm sao thế?”. Câu
hỏi cho thấy một lí do nữa khiến chúng ta thấy vì sao cách chào bằng hành vi ngôn ngữ hỏi
lại được dùng phổ biến trong giao tiếp vợ chồng người nông dân. Đó là vì xuất phát từ chỗ
người nông dân ưa thẳng thắn, không thích vòng vo tam quốc nên họ thường nhập cuộc, vào
thẳng vấn đề giao tiếp ngay từ lời chào đầu tiên. Vì thế mà những hành vi hỏi trực tiếp để hỏi
thăm, thông báo hoặc khai thác thông tin mà các nhân vật giao tiếp đang quan tâm như trên là
cách chào được ưa dùng.
b. Chào bằng hành vi thông báo, trình bày
Đứng sau hành vi hỏi là hành vi thông báo, trình bày được vợ chồng nông dân sử dụng
trong lời chào của mình. Có thể nói, đây là những hành vi được dùng thông dụng trong lời
Ví dụ:
- Ông ơi! Cái Nhâm nó đã về đây này! Con ông nó đã về đây này! Ông tỉnh dậy mà nhìn
mặt con ông.
(Chị Nhâm, Kim Lân, tr.241)
- Mình ơi! mình!
Người vợ ở ngoài run run khẽ gọi vào. Cổ Đoàn nghẹn lại, nức nở như muốn khóc:
- Mình ơi! Mình còn thức hay ngủ đấy?
- Tôi vẫn thức đây…
(Ông lão hàng xóm, Kim Lân, tr.327)
Ví dụ:
- Bu mày! Bu mày! Nhoanh!
- Cái gì?
Anh bẹp mồm cười và gật gật. Như thế thì ai mà giận được? Chị toét miệng cười, nguýt
anh:
- Nợ lắm!
(Rình trộm, Tuyển tập Nam Cao, tập1, tr. 232-233)
Những lời chào được thực hiện bằng hành vi ngôn ngữ gọi như: Ông ơi, Mình ơi!
mình! Bu mày! Bu mày! đã được vợ chồng người nông dân ưa dùng trong giao tiếp. Có lẽ
vì nó đơn giản, không cầu kì nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu của một lời chào. Nó khiến cho
giao tiếp được tập trung hơn ngay từ những phút đầu tiên.
d. Chào bằng cách dùng hành vi than, trách
Loại hành vi này thường được biểu hiện bằng mô hình:
Ối + X… hoặc X + ơi…
Đây là loại hành vi được dùng tương đối phổ biến trong lời chào của vợ chồng người
nông dân. Đứng sau hành vi hỏi, thông báo, trình bày là loại hành vi này. Điều này, theo
chúng tôi cũng không khó lí giải. Có lẽ vì người nông dân, nhất là trong giai đoạn 30 - 45
phải đối mặt với biết bao nhiêu vấn đề cấp thiết. Đó là nỗi lo cơm áo, gạo tiền. Đó là nạn phu
phen, tạp dịch… Người nông dân một cổ hai tròng đối diện với đô hộ, áp bức, túng bấn, quẩn
quanh…, hơn ai hết họ trải nghiệm và thấu hiểu sự thiếu thốn, cùng cực. Vì thế, mà lời than,
trách luôn thường trực trong tư duy khiến những phát ngôn mà họ nói ra in đậm những dấu ấn
khuyên, dặn dò như trên cũng làm ấm lòng người được nhận. Tuy hiếm hoi song nó đã trở
thành những điểm nhấn khó quên trong lời chào của vợ chồng nông dân.
f. Chào bằng hành vi mắng yêu
Hành vi mắng yêu giống như rào đón mang đậm bản sắc văn hóa Việt. Nhưng khác với
rào đón, hành vi mắng yêu thường không mang lượng tin. Nó thể hiện sắc thái tình cảm kín
đáo, tinh nghịch. Hành vi mắng yêu chỉ được người Việt dành cho những đối tượng mà họ
yêu quý.
Ví dụ:
- Phải gió! Dậy đi!… Sáng rồi.
Anh cu mở mắt ra. Chị giục:
- Kìa, dậy đi!
- Tạnh mưa rồi à?
- Tạnh rồi. Dậy đi!
- Yên đã nào!…
(Con mèo, Tuyển tập Nam Cao, tập 1, tr.120)
Ở đây người vợ đã dùng hành vi mắng yêu thay cho lời chào buổi sáng dành cho chồng.
Sự tinh nghịch và bẽn lẽn trong lời chào bằng hành vi mắng yêu “phải gió, nỡm lắm, vẽ
chuyện…” đã góp phần làm cho bộ sưu tập lời chào trong giao tiếp của vợ chồng nông dân
thêm phần sinh động. Nó cho ta thấy, vợ chồng nông dân không hoàn toàn thô thiển, cục
mịch như chúng ta tưởng. Trái lại họ cũng rất lãng mạn, tuy nhiên là theo cách của họ.
g. Chào bằng hành vi khen
Về bản chất, hành vi khen là loại hành vi ngôn ngữ mang tính lịch sự. Vậy ở đây, khi vợ
chồng nông dân dùng hành vi khen làm lời chào liệu có phải là họ đang cố gắng tuân thủ
phương châm lịch sự trong giao tiếp hay không?
Ví dụ:
Chị đem về nửa chai lại kèm theo một đùi gà. Anh chồng sướng quá reo lên:
- Ấy chà! Thế thì nhất bu mày! Nhất vợ nhì trời.
(Tuyển tập Nam Cao, tập 1, Nxb Văn học, H., 1999, tr.235)
Rõ ràng lời chào của người chồng ở trên tuy được thực hiện dưới hình thức của hành vi
khen nhưng lại có bản chất của hành vi nịnh. Người chồng thực ra chẳng phải lịch sự đến
cũng như vấn đề lịch sự của lời chào, người Việt vẫn thường nói “lời chào cao hơn mâm cỗ”.
Trong văn hóa giao tiếp của người Việt, lời chào ít khi thiếu vắng mỗi khi các nhân vật
bắt đầu hoặc kết thúc một cuộc giao tiếp của mình. Lời chào cũng được xem như một phần
tất yếu của cuộc thoại. Nó là dấu hiệu để nhận biết phần mở hoặc kết thoại.
Sẽ là lịch sự nếu lời chào đi trong quỹ đạo của tám mô hình biểu thức chào mà tác giả
Nguyễn Văn Khang đã nêu ra. Tuy nhiên, trong giao tiếp vợ chồng nông dân, lời chào đôi khi
biến hóa thành những mô hình khác. Chẳng hạn, chúng ta bắt gặp cách chào bằng hành vi
ngôn ngữ mắng, chửi, dọa, trách…
Ví dụ:
- Mất sạch rồi! Mất sạch rồi! Chó ! Chó ! Chó!
- Ô hay! Điên đấy à?
- Điên! Điên à? Chẳng điên cuồng gì cả! Đêm nay tôi sẽ chui vào buồng nhà nó có cái gì
lấy tất. Một cái chổi cùn tôi cũng không để nhé! à! Láo thật!
(Rình trộm, Tuyển tập Nam Cao, tập 1, tr.238)
Lời chào ở ví dụ trên lại có nội dung thông báo và được biểu hiện dưới hình thức của
hành vi thông báo và chửi đổng. Lời chào này không đi theo lẽ thường là có biểu thức của
hành vi chào hoặc mời. Nếu chỉ dừng lại ở nội dung thông báo thì không có gì đáng bàn
nhưng ở đây chúng ta thấy xuất hiện thêm ba hành vi chửi đổng “Chó! Chó! Chó! ” suồng
sã và thô tục. Những hành vi này của người nói khiến người nghe phải chú ý tới vấn đề lịch
sự trong lời chào. Không thể nói lời chào kiểu ấy là lịch sự nhưng vấn đề là ở chỗ trong giao
tiếp này nó lại không vi phạm thể diện của đối ngôn và cũng không làm họ khó chịu.
Ví dụ 2:
- À, mày đã khỏe to họng, ông đốt nhà mày cho mà xem.
- Anh đốt nhà thì hàng xóm bắt vạ anh.
- Thì ông đi ngồi tù, cho chúng mày đi ăn mày cả lượt.
(Nhà nghèo, Tuyển tập Tô Hoài, tr.153)
Với hành vi dọa “ông đốt nhà mày cho mà xem” và cặp từ xưng hô chệch chuẩn “ông -
mày”, người chồng đã đe dọa một cách nghiêm trọng thể diện dương tính của người vợ. Sự
không tôn trọng vợ được thể hiện rõ trong hành vi đe dọa trên. Có vấn đề gì trong lời chào
của người chồng ở ví dụ trên? Và với những cách chào như thế liệu giao tiếp có sớm bị triệt
giao tiếp vợ chồng không quan trọng thể diện âm hay dương tính mà cần có một chiến lược
giao tiếp hợp lí dựa trên phông nền văn hóa của mỗi vùng miền hoặc của cả dân tộc.
3. KẾT LUẬN
Trong giao tiếp nói chung và giao tiếp vợ chồng nói riêng, nghi thức chào hỏi có một ý
nghĩa rất quan trọng. Lời chào thể hiện thái độ, tình cảm, hiện trạng giữa các thành viên giao
tiếp. Nghi thức lời nói chào theo nghĩa thông thường “gặp nhau là chào” và thường là một
phần tất yếu cần phải có cho mỗi cuộc giao tiếp. Song điều thú vị là ở chỗ trong nghi thức
chào ở gia đình nông dân người Việt, từ chào và từ tạm biệt được dùng hạn chế ở mức tối đa
mà thay vào đó là câu hỏi, lời hỏi thăm, thông báo, trình bày, than vãn, thậm chí có khi là đe
dọa, mắng, chửi… Chào hỏi cũng được xem như là một trong những chiến lược giao tiếp
giúp hội thoại nhanh đến đích hoặc thành công như mong muốn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nam Cao, Tuyển tập Nam Cao (tập 1,2), Nxb Văn học, H., 2000.
2. Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục, H., 2001.
3. Tô Hoài, Tuyển tập Tô Hoài, Nxb Văn học, H.
4. Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục, H., 2012.
5. Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt, Nxb Văn
hoá Thông tin, H., 1996.
6. Kim Lân, Tuyển tập Kim Lân, Nxb Văn học, H.
7. Vũ Trọng Phụng, Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, Nxb Văn học, H., 2011.
8. Ngô Tất Tố, Tắt đèn, Nxb Văn học, H., 2010.
GREETINGS IN COMMUNICATION
OF VIETNAMESE PEASANT COUPLES
(Based on literature works from 1930 to 1945)
Khuat Thi Lan
Abstract
In communication in general and communication of husband and wife in particular, the
greetings play an important role. The greeting presents the attitudes, the emotions and the situation
among the participants in communication. The greetings in Vietnamese families is very diversified.
This paper emphasizes on the expression of greetings in communication of Vietnamese husband and