Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ kết học, nghĩa học và dụng học (trên cứ liệu một số tác phẩm văn học giai đoạn 1930 - 1945 - Pdf 26

1

ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀

̣
I
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TIÊU THỊ THANH BÌNH
KHẢO SÁT TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT TỪ GÓC ĐỘ
KẾT HỌC, NGHĨA HỌC, DỤNG HỌC (TRÊN CỨ LIỆU MỘT SỐ

TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TIÊU THỊ THANH BÌNH
KHẢO SÁT TRẠNG NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT TỪ GÓC ĐỘ
KẾT HỌC, NGHĨA HỌC, DỤNG HỌC (TRÊN CỨ LIỆU MỘT SỐ
TÁC PHẨM VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1930-1945)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201

LUÂ
̣
N VĂN THA
̣
C SI
̃
NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Giáo viên hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp

hẳn là đơn giản. Câu gồm nòng cốt câu và các thành phần phụ.Trạng ngữ
cũng là một thành phần phụ cần được bàn nhiều trong câu.

4

Thuật ngữ “trạng ngữ” rất quen thuộc trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng
Việt. Tuy nhiên, vạch rõ phạm vi của trạng ngữ cũng như nêu được những
tiêu chí hình thức thể hiện nó không phải là việc dễ làm. Trên thực tế, có rất
nhiều quan niệm khác nhau về trạng ngữ, vị trí của trạng ngữ trong câu và
các nghĩa biểu hiện của chúng.
Vấn đề của trạng ngữ được các tác giả Việt ngữ học nghiên cứu ở các
mặt sau:
- Vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu.
- Các phạm vi ý nghĩa mà trạng ngữ biểu thị.
- Ví trí của trạng ngữ trong mô hình tổ chức câu.
- Cấu tạo hình thức của trạng ngữ.
Các tác giả chỉ tạm thống nhất ý kiến với nhau ở mặt thứ 4, khi cho
rằng bất kì ngữ đoạn nào, có giới từ hay không có giới từ đi kèm đều có khả
năng đóng vai trò của trạng ngữ trong câu. [Nguyễn Văn Hiệp - Nguyễn
Minh Thuyết, 2004].
Về vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu, đa số các tác
giả đều cho rằng, trạng ngữ là một thành phần phụ của câu. [Hoàng Tuệ - Lê
Cận – Cù Đình Tú, 1962; Diệp Quang Ban, 1985, Nguyễn Kim Thản,
1964…].
Theo tác giả Cao Xuân Hạo, tổ chức cú pháp hình thức của tiếng Việt
chỉ có một mô hình duy nhất là Đề - Thuyết với các biến thể của nó. Đề lại
gồm hai loại là: chủ đề và khung đề. Theo đó, xét về hình thức, khung đề có
thể một chu ngữ hay giới ngữ, tức là một ngữ đoạn có một giới từ làm trung
tâm kèm theo một danh ngữ hay một động ngữ làm bổ ngữ cho nó, không
khác gì trạng ngữ.

2. Mục đích của luận văn
6

Khi bàn về vấn đề trạng ngữ, qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu,
chúng tôi nhận thấy, có quá nhiều quan điểm, ý kiến về trạng ngữ, vai trò và
phạm vi của nó. Tuy nhiên, điều đó càng cho thấy sự thiếu nhất quán trong
việc đưa ra một cái nhìn chung nhất về khái niệm này.
Tuy có khá nhiều quan niệm khác nhau, song hầu hết các nhà nghiên
cứu mới chỉ tập trung vào việc phân loại trạng ngữ, vị trí của trạng ngữ mà
chưa đưa ra được tiêu chí hình thức nào cho việc nhận diện và phân biệt nó
với các thành phần còn lại của câu.
Vì thế, mục đích của luận văn là đi sâu phân tích và làm rõ những đặc
điểm hình thức để nhận diện và phân biệt trạng ngữ với các thành phần còn
lại trong câu với tư cách là thành phần phụ của câu thông qua việc khảo sát
các kiểu loại trạng ngữ trong tiếng Việt trên cứ liệu các tác phẩm văn học đã
lựa chọn của đề tài. Cũng từ những khảo sát đó để thấy được các kiểu loại
trạng ngữ đa dạng trong tiếng Việt và phân loại chúng một cách chính xác
triệt để.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là những câu có trạng ngữ. Tuy nhiên, về các
câu có trạng ngữ rất phong phú và đa dạng, được sử dụng hầu hết và chiếm
đại đa số trong các câu của văn bản, vì thế, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát,
nghiên cứu những trường hợp tiêu biểu, phổ biến, rõ nét nhất về các kiểu loại
trạng ngữ khác nhau.
Chúng tôi chủ trương nghiên cứu trạng ngữ trên một vài tác phẩm văn
học từ thời kỳ 1930-1945 của một số tác giả: Nam Cao, Nguyễn Công Hoan,
Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học, dụng
học.
7

nhìn nhận khác nhau, cần làm rõ.Qua đó đưa ra các tiêu chí phân biệt trạng
ngữ với một số thành phần khác dễ nhầm lẫn trong câu.
Chƣơng 2: Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ kết học.
Chương này nội dung chính là nghiên cứu cấu tạo của trạng ngữ và vị trí của
nó khi xuất hiện trong mô hình cấu trúc câu.
Chƣơng 3: Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ nghĩa học.
Nội dung của chương này là thu thập và tìm hiểu ý nghĩa của trạng ngữ và
phân loại chúng vào theo các tiêu chí về nghĩa học.
Chƣơng 4: Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ dụng học.
Chương này khảo sát trạng ngữ trên bình diện dụng học, tức là sự tác động
của trạng ngữ đối với việc bổ sung ý nghĩa cho câu trong giao tiếp, liên kết
văn bản và hiệu quả giao tiếp.

9

NỘI DUNG

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Vấn đề trạng ngữ trong câu tiếng Việt
1.1.1. Khái niệm chung
Thuật ngữ “trạng ngữ” dù quen thuộc nhưng cũng là khái niệm gây
nhiều tranh cãi, đặc biệt ở các tiêu chí hình thức nhận diện trạng ngữ, cũng
như việc phân biệt nó với các thành phần khác của câu.
Dù có quá nhiều công trình nghiên cứu về trạng ngữ, và cũng có không
ít các tiêu chí xác định trạng ngữ trong câu, tuy nhiên, vẫn có những trường
hợp không biết nên xếp vào kiểu loại nào là hợp lý, và điều đó lại dựa vào
những quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu Việt ngữ.
Việc nhận diện trạng ngữ trong câu hẳn không phải là vấn đề đơn giản.
Vì thế, cần xem xét trạng ngữ trên những bình diện, khía cạnh khác nhau với


1.1.2. Những quan điểm khác biệt của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về
trạng ngữ
Trạng ngữ là một khái niệm phức tạp lại xuất hiện thường xuyên trong
câu, nên các nhà Việt ngữ học cũng rất chú trọng việc phân tích, nghiên cứu
các tiêu chí nhận diện.Và trong quá trình nghiên cứu, có rất nhiều quan điểm
và ý kiến khác nhau, chưa nhất quán.
Vấn đề của trạng ngữ được các tác giả Việt ngữ học nghiên cứu ở các
mặt sau:
- Vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu.
- Các phạm vi ý nghĩa mà trạng ngữ biểu thị.
11

- Ví trí của trạng ngữ trong mô hình tổ chức câu.
- Cấu tạo hình thức của trạng ngữ.
Các tác giả chỉ tạm thống nhất ý kiến với nhau ở mặt thứ 4, khi cho
rằng bất kì ngữ đoạn nào, có giới từ hay không có giới từ đi kèm đều có khả
năng đóng vai trò của trạng ngữ trong câu. [Nguyễn Văn Hiệp - Nguyễn
Minh Thuyết, 2004].
- Về vai trò của trạng ngữ đối với tổ chức cấu trúc của câu
Đa số các tác giả cho rằng, trạng ngữ có thể chiếm 3 vị trí khác nhau
trong mô hình cấu trúc câu: đứng đầu, đứng cuối hoặc đứng giữa câu.
Theo Hoàng Tuệ, trạng ngữ có thể đứng ở cả 3 vị trí nhưng cần phải
thống kê đầy đủ để xem vị trí nào chiếm ưu thế. Hoàng Trọng Phiến lại quan
niệm, trạng ngữ cũng có thể đứng ở cả 3 vị trí nhưng chiếm đa số vẫn là vị trí
đầu câu.[Hoàng Trọng Phiến 1980, 156].
Nhưng theo tác giả Nguyễn Kim Thản, hai vị trí thường thấy của trạng
ngữ là đầu và cuối câu. Tác giả cho rằng, vị trí ở giữa câu của trạng ngữ chỉ
thảng hoặc mới xuất hiện và đó là lối cấu tạo câu đã Âu hóa.[Nguyễn Kim
Thản 1981, 182].

tác phẩm văn học giai đoạn 1930 – 1945), để làm rõ các tiêu chí nhận biết
trạng ngữ và phân biệt trạng ngữ thế nào với các thành phần còn lại trong câu
trên cả tiêu chí hình thức và ý nghĩa.
13

1.2. Phân biệt trạng ngữ với một số thành tố khác dễ nhầm lẫn trong
câu
Lâu nay, việc nhận diện một số thành phần câu trong tiếng Việt, nhất là
thành phần trạng ngữ với người sử dụngcòn có nhiều vướng mắc. Không ít
trường hợp, người ta băn khoăn không biết xếp chúng vào thành phần gì.
Trạng ngữ hay vế của câu ghép tỉnh lược? Trạng ngữ hay vị ngữ phụ? Trạng
ngữ hay bổ ngữ, định ngữ? Trạng ngữ hay vị ngữ chỉ quan hệ? Trạng ngữ hay
quan hệ từ, hay các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản. Do đó, việc đưa ra
các tiêu chí phân biệt trạng ngữ với các thành phần đó trong câu là điều hết
sức cần thiết.

1.2.1. Phân biệt trạng ngữ với các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản,
thuộc cấu trúc bậc trên câu
Cũng có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân biệt trạng ngữ với
các yếu tố có tác dụng liên kết văn bản, thuộc cấu trúc bậc trên câu.
Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi theo quan điểm của tác giả
Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn “Thành phần câu tiếng
Việt”, 2004. Và theo đó, có thể phân biệt các yếu tố này với trạng ngữ dựa
vào các tiêu chí sau:
- Khả năng cái biến vị trí
- Ý nghĩa biểu hiện
- Khả năng tham gia phân đoạn thực tại

15

Hay: Mỗi khi trời mưa rét Ninh lại nhớ đến bu. (Từ ngày mẹ chết,
Nam Cao, maxreading.com)
 Ninh lại nhớ đến bu mỗi khi trời mưa rét.
 Ninh mỗi khi trời mưa rét lại nhớ đến bu.
Qua phân tích những ví dụ trên, chúng tôi nhận thấy vị trí linh hoạt của
trạng ngữ trong câu cũng như khả năng cải biến của chúng mà không hề làm
thay đổi ý nghĩa, nội dung truyền đạt trong câu. Chúng bổ sung thông tin về
mặt thời gian cho toàn bộ câu, để người đọc hiểu được sự việc xảy ra khi nào
, trong khoảng thời gian nào, bao lâu.
- Về khả năng cải biến vị trí và ý nghĩa biểu hiện của các yếu tố liên
kết văn bản, thuộc cấu trúc bậc trên câu:
Xét ví dụ:
Thế là,Pha phải viết nhà, viết ruộng cho ông ấy. (Bước đường cùng,
NCH, 135)
Cho nên, vợ Pha có dám nói gì đâu. (Bước đường cùng, NCH, 156)
Thế mà nó lại lần sang nhà bác Vụ. (Từ ngày mẹ chết, Nam Cao,
maxreading.com)
Những từ “thế là”, “cho nên”, “thế mà” chính là các yếu tố liên kết văn
bản, thuộc cấu trúc bậc trên câu. Nhìn vào tiêu chí “khả năng cải biến vị trí”
ta thấy được rằng, các yếu tố này không thể đứng cuối câu mà chỉ có thể
đứng đầu câu hoặc xen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ.
Cải biến vị trí của yếu tố này trong ví dụ:Thế là,Pha phải viết nhà, viết
ruộng cho ông ấy. (Bước đường cùng, NCH, 135)
16

 Phathế là phải viết nhà, viết ruộng cho ông ấy.
 * Pha phải viết nhà, viết ruộng cho ông ấythế là.
Về ý nghĩa biểu hiện, “thế là” biểu hiện mối quan hệ nối tiếp về thời

phương tiện…), trong khi đó các yếu tố liên kết văn bản chỉ biểu thị mối
quan hệ ngữ nghĩa (quan hệ lôgic – ngữ nghĩa) giữa câu chứa nó với các câu
khác trong văn bản, chẳng hạn, chúng biểu thị quan hệ về thời gian (rồi, và,
thế rồi…), quan hệ nhân quả (vậy, vậy thì, vậy nên…), quan hệ tương đồng
(hơn nữa, ngoài ra, vả lại…), quan hệ tương phản (nhưng, song, tuy nhiên, có
điều…) v.v. [Nguyễn Văn Hiệp, Cú pháp tiếng Việt, 2009, tr. 211].
1.2.1.2. Khả năng phân đoạn thực tại
Vì những lý do ngữ nghĩa trên mà trạng ngữ có thể tham gia vào cấu
trúc phân đoạn thực tại, còn các yếu tố liên kết văn bản thuộc cấu trúc bậc
trên câu chỉ có thể có tác dụng đánh dấu câu có thông báo “gộp” hoặc đánh
dấu cho phần báo. [Nguyễn Văn Hiệp, Cú pháp tiếng Việt 2009, tr. 211].
Ví dụ về trạng ngữ:
Bên trong, vợ anh nghiến răng, vừa thở hổn hển vừa kêu ngắc từng
tiếng. (Bước Đường Cùng, NCH, 10)
18

Trạng ngữ “bên trong” trong ví dụ trên tham gia vào cấu trúc phân
đoạn thực tại, đứng ở vị trí đầu câu và bổ sung thông tin về không gian, nơi
chốn cho toàn bộ câu trên.
Xét các ví dụ về yếu tố liên kết văn bản thuộc cấu trúc bậc trên câu:
Thành thửPha còn có hăm tám đồng. (Bước đường cùng, NCH, 154)
Trái lại, ông ta còn xử tàn nhẫn với chúng ta, chỉ rình dịp để cướp
ruộng của chúng ta. (Bước đường cùng, NCH, 275)
Những từ bôi đậm, in nghiêng trên là các yếu tố liên kết thuộc cấu trúc
bậc trên câu và có tác dụng liên kết câu sau với các câu trước đó của văn bản,
có tác dụng đánh dấu câu có thông báo “gộp”.
Ta có thể khôi phục văn cảnh của hai ví dụ này để thấy rõ được câu sau
có liên hệ với câu trước một cách rất rõ ràng.
Thành thửPha còn có hăm tám đồng. (Bước đường cùng, NCH, 154)
 Nợ ba mươi đồng, lý trưởng lấy hai đồng tiền áp triện, thành thử

(1): Lan học ngoại ngữ vì muốn nâng cao trình độ và để đi du học
(1‟): Lan học ngoại ngữ để đi du học và vì muốn nâng cao trình độ
(2): *Lan học ngoại ngữ vì muốn nâng cao trình độ và không nghỉ
(2‟): *Lan học ngoại ngữ không nghỉ và vì muốn nâng cao trình độ
Theo phân tích trên ta nhận thấy, trạng ngữ có quan hệ phụ thuộc vào
nòng cốt câu, nên khi xen vào thành phần đồng vị, ý nghĩa của câu không
thay đổi, chỉ là bổ sung thêm phần thông tin. Còn với các thành tố bậc dưới
20

câu, khi xen vào thành phần đồng vị, ý nghĩa thay đổi, thậm chí phần thêm
vào không liên quan về mặt lôgic.
- Xét về khả năng cải biến vị trí trong câu:
+ Đối với trạng ngữ:
Xét ví dụ:
Lan học ngoại ngữ để đi du học.
Ta có thể cải biến vị trí ở trạng ngữ “để đi du học” như sau:
 Lan, để đi du học, học ngoại ngữ
 Để đi du học, Lan học ngoại ngữ
Rõ ràng dù cải biến vị trí lên đầu và ở giữa nòng cốt câu, ý nghĩa của
câu vẫn không hề thay đổi.
+ Đối với các thành tố phụ thuộc cấu trúc bậc dưới câu của các từ tổ vị từ
làm vị ngữ:
Xét ví dụ:
Lan học ngoại ngữ không nghỉ
 * Không nghỉ, Lan học ngoại ngữ
 * Lan không nghỉ học ngoại ngữ
Ở ví dụ đầu tiên, khi chưa cải biến cụm “không nghỉ”, thì câu mang ý
nghĩa biểu hiện sự chăm chỉ cần cù, chịu khó học ngoại ngữ của chủ thể Lan.
Nhưng trong các ví dụ tiếp theo, khi cụm “không nghỉ” được cải biến lên vị
trí đầu và giữa, câu đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp. Và

+ Đối với chủ ngữ:
Có thể xác định các kiểu câu trên, phần“trên đồn” hay “ở nhà” chính là
chủ ngữ của câu.Bởi, không thể lược bỏ các thành phần này mà ý nghĩa của
câu vẫn nguyên vẹn.
Ví dụ:
22

Trên đồn im như tờ.
 * Im như tờ
Hay: Ở nhà vẫn tốt.
 * Vẫn tốt
 làm mất đi hoàn toàn ý nghĩa của câu.
Ta có thể đặt ra những câu hỏi cho phần bị tỉnh lược như: Ở đâu im
như tờ?/ Cái gì im như tờ? Hay:Cái gì vẫn tốt/ Ai vẫn tốt?
Rõ ràng là không thể trả lời cho các câu hỏi trên nếu phần đầu bị tỉnh
lược đi. Do đó, khi tỉnh lược thành phần đứng ở đầu câu “trên đồn” và “ở
nhà”, người nghe không hiểu câu mang ý nghĩa gì, ám chỉ điều gì hay muốn
đề cập tới vấn đề gì nếu như không đặt chúng trong một văn cảnh cụ thể.
Điều này chứng tỏ rằng, các phần bị tỉnh lược đi chính là chủ ngữ, đóng vai
trò chính trong nòng cốt câu và không thể bị tỉnh lược.
+ Đối với trạng ngữ:
Trạng ngữ hoàn toàn có khả năng tỉnh lược mà vẫn đảm bảo được tính
trọn vẹn về nội dung của câu.
Ví dụ:
Trên đồn, hoa ban nở trắng.
 Hoa ban nở trắng.
Hay:
Ở nhà, mọi người vẫn tốt.
 Mọi người vẫn tốt.
Các trạng ngữ “trên đồn”, “hoa ban” trong các câu trên có tác dụng bổ

tham biến không gian trong nội dung ý nghĩa của mình.
24

(2) Những động từ này phải là những động từ lưu kết quả, vì đó là cơ
sở cần thiết để tạo ra ý nghĩa về một trạng thái tĩnh tại”. [Diệp
Quang Ban, 1980, 163].
Ví dụ về các câu tồn tại:
Trong túi có tiền
Trên bàn có hoa
Ở túi áo có chiếc kẹp đắt tiền
Ý nghĩa chung của câu tồn tại là ở một không gian nào đó tồn tại (hoặc
không tồn tại) các đối tượng của một lớp nào đó. Theo khuôn hình của câu
tồn tại, có 3 thành phần cơ bản.
+ Một thành phần chỉ rõ khu vực của sự tồn tại (trong không gian, có thể mở
rộng ra trong thời gian nếu đối tượng là sự kiện).
+ Một thành phần chỉ cách thức tồn tại của sự vật (hay sự kiện).
+ Một thành phần chỉ rõ đối tượng tồn tại trong khu vực này
Thành phần chỉ rõ khu vực của sự tồn tại thường được xem là trạng
ngữ.[Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp, Thành phần câu tiếng Việt,
2004, 358].
Tuy nhiên, một số tác giả lại nhấn mạnh rằng, đây là loại trạng ngữ có
tầm quan trọng đặc biệt. Diệp Quang Ban viết: “Từ trước đến nay, ít người đế
ý phân biệt yếu tố ngôn ngữ chỉ vị trí không gian của câu tồn tại với cái gọi là
trạng ngữ của câu. Về cả hai phương diện nội dung và hình thức, yếu tố chỉ vị
trí không gian trong câu tồn tại là bộ phận cấu thành hữu cơ của kiểu câu này.
Không có nó không thể tạo ra được cả ý nghĩa tồn tại lẫn khuôn hình đặc thù
có tính chất chuyên dùng cho kiểu câu tồn tại. Trong lúc đó, phần phụ trạng
ngữ không phải là một bộ phận thiết yếu đến như vậy: nói chung, câu vẫn có
thể đứng vững được khi không có nó.” [Diệp Quang Ban, 1980, tr.144]
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status