ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HIỀN KHẢO SÁT CÁC PHÁT NGÔN HỎI ĐÁP TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
TÍNH TRÊN CỨ LIỆU MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC
TRƢỚC CÁCH MẠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Hà Nội-2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HIỀN KHẢO SÁT CÁC PHÁT NGÔN HỎI ĐÁP TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
TÍNH TRÊN CỨ LIỆU MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC
TRƢỚC CÁCH MẠNG
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Mục đích nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
7. Kết cấu của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
1.1. Hội thoại và phát ngôn ngôn ngữ 9
1.1.1.Hội thoại 9
1.1.2. Phát ngôn ngôn ngữ 9
1.2. Vấn đề hỏi – đáp 12
1.2.1. Khái quát về câu hỏi 12
1.2.1.2. Đặc điểm về hình thức của câu hỏi 13
1.2.1.3. Đặc điểm về nội dung của câu hỏi 13
1.2.1.4. Phân chia câu hỏi và phương thức biểu hiện hành vi hỏi 14
1.2.2. Khái quát về câu trả lời 16
1.2.2.1. Trả lời trực tiếp 17
1.2.2.2. Trả lời gián tiếp 17
1.3. Chiến lược giao tiếp 18
1.4. Một số vấn đề về giới và giới trong ngôn ngữ 18
1.4.1. Khái niệm về giới 18
1.4.2. Giới trong ngôn ngữ 19
Chƣơng 2: CHỦ ĐỀ VÀ CÁCH XƢNG HÔ TRONG CÁC PHÁT NGÔN HỎI – ĐÁP
ĐỐI VỚI CẶP GIAO TIẾP VỢ CHỒNG QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TRƢỚC
CÁCH MẠNG 21
2.1. Chủ đề của các phát ngôn hỏi – đáp 21
3.1.1.2. Câu hỏi không đích thực 41
3.1.2. Chồng là trí thức, vợ là lao động bình dân 43
3
3.1.2.1. Câu hỏi đích thực 44
3.1.2.2. Câu hỏi không đích thực 46
3.1.3. Vợ chồng thành thị 48
3.1.3.1. Câu hỏi đích thực 48
3.1.3.2. Câu hỏi không đích thực 49
3.1.4. Vợ chồng quan lại 50
3.1.4.1. Câu hỏi đích thực 51
3.1.4.2. Câu hỏi không đích thực 52
3.2. Phát ngôn đáp 55
3.2.1. Vợ chồng lao động bình dân 56
3.2.1.1. Trả lời trực tiếp 56
3.2.1.2. Trả lời gián tiếp 57
3.2.2. Chồng là trí thức, vợ là lao động bình dân 59
3.2.2.1. Trả lời trực tiếp 59
3.2.2.2. Trả lời gián tiếp 60
3.2.3. Vợ chồng thành thị 61
3.2.3.1. Trả lời trực tiếp 61
3.2.3.2. Trả lời gián tiếp 62
3.2.4. Vợ chồng quan lại 63
3.2.4.1. Trả lời trực tiếp 64
3.2.4.2. Trả lời gián tiếp 64
Tiểu kết chƣơng 3 66
PHẦN KẾT LUẬN 66
tổng quan về việc sử dụng ngôn ngữ trong các phát ngôn hỏi - đáp từ góc độ giới tính
ở giai đoạn này, chúng tôi đã lựa chọn tên đề tài là: Khảo sát các phát ngôn hỏi – đáp
từ góc độ giới tính trên cứ liệu một số tác phẩm văn học trước Cách mạng. Tuy nhiên,
5
trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy các phát ngôn hỏi – đáp của nam và nữ
xuất hiện dàn trải và không tiêu biểu nếu xét chung ở các cặp giao tiếp khác nhau (ví
dụ: trong giao tiếp gia đình: bố mẹ với con cái – bố với con trai, bố với con gái, con cái
với nhau – con trai với con gái, vợ chồng với nhau , trong giao tiếp xã hội: bề trên với
dân thƣờng – quan ông với dân thƣờng là nam, quan ông với dân thƣờng là nữ, quan
ông với đầy tớ nam, quan ông với đầy tớ nữ ). Trong khi đó việc sử dụng các phát
ngôn hỏi – đáp của cặp giao tiếp vợ - chồng khá nổi trội dƣới các tầng lớp xã hội khác
nhau. Chính vì thế, chúng tôi quyết định đi sâu khảo sát các phát ngôn hỏi – đáp với
cặp giao tiếp này. Chúng tôi cũng giới hạn phạm vi khảo sát hiện tƣợng ngôn ngữ này
trong một số truyện ngắn giai đoạn trƣớc Cách mạng để có cái nhìn khách quan hơn
với cùng một thể loại tác phẩm văn học.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề hỏi – đáp và vấn đề giới tính là đề tài của nhiều công trình nghiên cứu từ
trƣớc tới nay đặc biệt là các công trình nghiên cứu về hành vi hỏi và về vấn đề giới
tính.
Trong nền ngôn ngữ học Việt Nam, nghiên cứu về câu hỏi cần phải kể đến các
tác giả nhƣ: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Hoàng Lê, Lê Đông, Hồ
Lê, Hoàng Trọng Phê, Trần Thị Thìn, Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Đăng Sửu Tác giả Lê
Đông trong công trình nghiên cứu “Ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu hỏi chính danh”
[1996] đã chỉ rõ mối quan hệ giữa ngữ cảnh và câu hỏi, tiền đề và câu hỏi, tác giả đã
phân tích cụ thể một số kiểu loại câu hỏi đặt trong ngữ cảnh thực. Năm 1991, trong
công trình “Sơ thảo ngữ pháp chức năng” tác giả Cao Xuân Hạo đã phân tích hiệu lực
ngôn trung của câu nghi vấn, từ đó thấy câu nghi vấn không chỉ đƣợc dùng để thể hiện
hành vi hỏi.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm giải quyết ba nhiệm vụ cơ bản sau:
7
Thứ nhất là tổng hợp và khái quát một số vấn đề về lý thuyết liên quan đến đề
tài nghiên cứu: vấn đề hội thoại, phát ngôn ngôn ngữ, vấn đề hỏi đáp, vấn đề giới trong
ngôn ngữ.
Thứ hai là khảo sát và phân tích chủ đề giao tiếp và xƣng hô trong giao tiếp của
các cặp vợ chồng qua các phát ngôn hỏi - đáp trên một số truyện ngắn trƣớc Cách
mạng. Từ đó thấy đƣợc các chủ đề chi phối cách giao tiếp của các cặp vợ chồng, cách
thức xƣng hô giữa vợ và chồng, giữa các cặp vợ chồng thuộc các tầng lớp xã hội khác
nhau.
Thứ ba là khảo sát và phân tích về đặc điểm ngôn ngữ biểu hiện cụ thể trong các
phát ngôn hỏi và phát ngôn đáp trong giao tiếp của vợ, của chồng, của các cặp vợ
chồng ở các tầng lớp khác nhau, qua một số truyện ngắn trƣớc Cách mạng.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng mà chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu là các phát ngôn hỏi – đáp với
cặp giao tiếp vợ - chồng trong tất cả các truyện ngắn của 4 tác giả: Nam cao, Nguyễn
Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam. Khi đó chúng tôi tìm đƣợc và khảo sát hiện
tƣợng ngôn ngữ trên qua 28 truyện ngắn với 184 cặp hỏi đáp, cụ thể:
Nam Cao - 16 truyện ngắn, đƣợc trích từ “Tuyển tập Nam Cao”, Nxb Văn học
(2005)
Nguyễn Công Hoan – 6 truyện ngắn, đƣợc trích từ “Nguyễn Công Hoan Truyện
ngắn chọn lọc”, Nxb Văn học (2004)
Vũ Trọng Phụng - 1 truyện ngắn, đƣợc trích từ “Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, tập
II”, Nxb Văn học (2011)
Thạch Lam - 5 truyện ngắn, đƣợc trích từ “Thạch Lam tuyển tập”, Nxb Văn học
(2008)
Sở dĩ chúng tôi chỉ chọn khảo sát trong phạm vi các truyện ngắn, không bao
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Hội thoại và phát ngôn ngôn ngữ
1.1.1.Hội thoại
Nhƣ chúng ta biết, giao tiếp bằng ngôn ngữ có nhiều hình thức: Giao tiếp một
chiều (độc thoại), giao tiếp hai chiều hoặc nhiều hơn. Giao tiếp hai chiều là hoạt động
cơ bản nhất, phổ biến nhất của con ngƣời. “Hội thoại là một trong những hoạt động
ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất
định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức
nhằm đi đến một mục đích nhất định.” [23, tr. 18]
Hội thoại là một hoạt động xã hội. Trong cuộc thoại khi hoạt động phản hồi nảy
sinh, vai trò của hai ngƣời tham gia cuộc thoại đã thay đổi. Bên nghe trở thành bên nói
và bên nói trở thành bên nghe. Hội thoại là một sự nỗ lực hợp tác giữa các bên tham
gia, có thể có ba bên hoặc nhiều hơn thế. Tuy nhiên hội thoại gồm hai bên là quan
trọng nhất. Trong khuôn khổ luận văn của mình, chúng tôi cũng chỉ đề cập đến hội
thoại hai bên.
Có rất nhiều yếu tố liên quan đến hội thoại. Theo Đỗ Hữu Châu, các cuộc thoại
có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh nhƣ: thời gian, không gian, nơi chốn, số lƣợng
ngƣời tham gia, về cƣơng vị với tƣ cách ngƣời tham gia cuộc thoại, về tính chất cuộc
thoại, về vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không
hình thức, về ngữ điệu hay động tác kèm lời…Những yếu tố này không tách rời nhau
mà liên kết nhau, tạo thành một khối lƣợng thống nhất hữu quan trong hội thoại, chi
phối và điều hòa cuộc thoại để đạt đến đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo
những quy tắc nhất định. [4, tr. 72]
1.1.2. Hành động ngôn ngữ
Cũng nhƣ mọi hệ thống xã hội khác, hệ thống ngôn ngữ đƣợc sinh ra để thực
hiện chức năng hƣớng ngoại – chức năng làm công cụ giao tiếp. Khi ngôn ngữ đƣợc sử
10
J.R. Searle chỉ ra 4 điều kiện cụ thể sau: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện
chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản.
Tiêu chí nhận diện và phân loại hành động ở lời:
Để nhận diện hành động ở lời, có thể căn cứ vào các tiêu chí sau:
- Đích ở lời
- Cấu trúc hình tƣợng, bao gồm: Các kiểu kết cấu, những từ ngữ chuyên dùng
cho biểu thức ngữ vi, ngữ điệu, động từ ngữ vi
- Nội dung mệnh đề
- Theo cách thể hiện lực ngôn trung
Phân loại hành động ở lời:
Để phân loại hành động ở lời, Austin đƣa ra 5 phạm trù: (1) Phán xử, (2) Hành
xử, (3) Cam kết, (4) Biểu cảm, (5) Tuyên bố.
1.1.3. Phát ngôn ngôn ngữ
Theo tác giả Hoàng Trọng Phiến: “Nếu xét ở góc độ nhận thức và sử dụng thì,
phát ngôn là phạm trù ngữ pháp – lôgic. Ở phát ngôn có các nhân tố của tư duy, tức là
có cơ cấu của phán đoán logic gồm thành phần hư thể, thành phần vị thể, thành phần
xác định và có các nhân tố ngữ pháp. Nói đến phát ngôn là nói cú pháp và tư duy
thống nhất nhưng không đồng nhất”
“Nếu xét ở góc độ cấp độ hệ thống cấu trúc thì câu là cái trừu tượng còn phát
ngôn là cái cụ thể, câu là bất biến thể phát ngôn là biến thể, các phát ngôn làm chức
năng hiện thực hóa các mô hình cú pháp của câu, đồng thời là phương thức tồn tại của
mô hình đó Đến lượt mình, câu vừa thuộc bình diện ngôn ngữ vừa thuộc bình diện lời
nói, còn phát ngôn là thuộc vào bình diện lời nói” [44, tr. 199]
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “Phát ngôn chính là các thông điệp hình thành trên
cấu trúc của câu nhưng phải là kết quả của tất cả những quy tắc, những tác động vừa
miêu tả” [44, tr. 200]
12
Theo tác giả Diệp Quang Ban, “Nhìn chung, phát ngôn được hiểu là một hành
Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “câu hỏi” theo cách gọi truyền thống. Nó trƣớc hết
dùng để hỏi những điều chƣa biết, vì thế nghiên cứu câu hỏi thì cũng có nghĩa là đề cập
đến vai trò nhận thức của con ngƣời, đây là một quá trình phức tạp. Bất cứ ngôn ngữ
nào cũng có câu hỏi, và mục đích chính là dùng để hỏi. Nhƣng câu hỏi không chỉ yêu
câu trả lời mà trong giao tiếp ngôn ngữ câu hỏi còn để thể hiện một lời chào, sự mỉa
mai, trách móc, khẳng định, phủ định hoặc có thể hỏi để khuyên nhủ, hỏi để lảng tránh
câu trả lời, hỏi để gây nên một trạng thái cảm xúc nào đó…
1.2.1.2. Đặc điểm về hình thức của câu hỏi
Theo Bách khoa thƣ ngôn ngữ học do William Bright chủ biên (1992) thì câu
hỏi trong các ngôn ngữ thƣờng có đặc trƣng hình thức phổ biến là:
- Ngữ điệu lên giọng ở cuối câu với câu hỏi có – không.
- Các từ nghi vấn đứng ở vị trí đầu câu hoặc đứng ở vị trí trƣớc động từ.
- Đảo vị trí của động từ làm vị ngữ đứng sau chủ ngữ trong câu tƣờng thuật lên
trƣớc chủ ngữ trong câu hỏi. Việc đảo trật tự này chỉ xảy ra trong các ngôn ngữ có hiện
tƣợng đảo trật tự từ trong các câu hỏi đặc biệt mà trong các câu hỏi ấy có từ nghi vấn
đứng ở đầu câu.
1.2.1.3. Đặc điểm về nội dung của câu hỏi
Theo Bách khoa thƣ ngôn ngữ học do William Bright chủ biên thì câu hỏi là
một loại câu có cấu trúc phổ quát, và có ít nhất một chức năng phổ quát là nhằm cung
cấp một lƣợng thông tin nào đó. Xét về mặt ngữ nghĩa câu hỏi khác câu tƣờng thuật đó
là chúng không thể là chân thực hay không chân thực, là hành động ngôn ngữ câu hỏi
giống với câu mệnh lệnh là chúng cần phải có phản ứng đáp lại nào đó. Ngoài yêu cầu
cung cấp lƣợng thông tin, câu hỏi có thể có một số chức năng khác nữa, câu hỏi có thể
dùng nhƣ những yêu cầu gián tiếp mà không cần câu trả lời bằng ngôn từ.
14
Ở Việt Nam, câu hỏi thƣờng đƣợc nhận diện theo mục đích nói. Tác giả Nguyễn
Kim Thản cho rằng: “Câu nghi vấn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi của người nói
và nói chung đòi hỏi người nghe tường thuật về đối tượng hay đặc trưng của đối
a. Câu hỏi đích thực: “là những câu hỏi yêu cầu người nghe trả lời, cung cấp
lượng thông tin còn khuyết thiếu hoặc còn chưa rõ theo mục đích của người phát
ngôn”
Tác giả Nguyễn Đăng Sửu cũng đƣa ra các mô hình câu hỏi cụ thể (trong sự đối
chiếu với câu hỏi trong tiếng Anh).
b. Câu hỏi không đích thực: “là loại câu hỏi không liên quan đến câu trả lời, nó
được dùng như một phương tiện truyền cảm, hỏi để thực hiện những mục đích khác
nhau của người phát ngôn”.
Đây là loại câu hỏi dùng với mục đích khác nhau trong giao tiếp, và trong tƣ
duy hết sức đa dạng.
Trong thực tế tiếng Việt, chúng ta có thể gặp nhiều trƣờng hợp hỏi để mà hỏi,
hỏi cho có chuyện, hỏi để chào, để ca thán, cầu khiến, khẳng định, phủ định…Nhƣ vậy,
việc hỏi và đáp không phải là đặc trƣng tất yêu của câu hỏi. Tác giả Nguyễn Đăng Sửu
cho rằng: “Bản chất của câu hỏi là sự diễn đạt những điều còn băn khoăn, chưa rõ,
những tâm sự, những ước muốn hoặc những nhận xét… của người nói dưới dạng thức
nghi vấn trong giao tiếp hàng ngày.”
Đối với câu hỏi không đích thực, chúng ta cần phải chú ý tới các yếu tố nhƣ: các
nguyên tắc hội thoại, phép lịch sự…Tác giả Nguyễn Đăng Sửu đã chỉ ra “điều kiện sử
dụng câu hỏi không đích thực”. Cụ thể nhƣ sau:
Trong giao tiếp ngôn ngữ, ta có thể gặp trƣờng hợp cần phải lựa chọn các câu
hỏi “đồng nghĩa”: một câu hỏi không đích thực tƣơng đƣơng với một câu hỏi không
đích thực. Tính đa dạng ở mặt biểu hiện của ngôn ngữ (cấu trúc ngữ pháp, hình thức),
năng lực ngôn ngữ của đối tƣợng sử dụng (vai giao tiếp – ngƣời nói/ ngƣời nghe) và sự
16
vận dụng ngôn ngữ (mục đích giao tiếp) là những nhân tố chi phối cách hiểu nội dung
hỏi trong các câu hỏi đồng nghĩa. Thí dụ trong hai câu nói:
Có ai ngồi đây chƣa? (a)
Tôi có thể ngồi đây đƣợc không? (b)
Với các hành vi trả lời (nói chung) cũng vậy. Xét một cách tổng quát, hành vi trả lời
đƣợc thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu của hành vi hỏi. “Tuy nhiên trong từng trường
hợp cụ thể, hành vi trả lời nói chung và nhất là các câu trả lời gián tiếp nói riêng, có
thể chỉ đáp ứng một trong các yếu tố của câu hỏi như: điều tiền giả định, điều hỏi,
người hỏi, cách thức hỏi hoặc đối tượng dược nhắc đến trong câu hỏi…Có khi nghĩa
tình thái trong câu hỏi cũng là đích của hành vi trả lời” [43, tr.21]
1.2.2.1. Trả lời trực tiếp
Nhƣ trên đã nói: trả lời trực tiếp là trả lời một cách hiển ngôn, đáp ứng trực tiếp
vào điểm hỏi. Khi nghe câu trả lời, ngƣời hỏi có thể hiểu và thỏa mãn đƣợc yêu cầu hỏi
của mình. Đây thƣờng là đích hƣớng tới của ngƣời hỏi.
1.2.2.2. Trả lời gián tiếp
Là loại câu trả lời mang tính chất hàm ngôn, không trực tiếp. Ngƣời hỏi có thể
nhận đƣợc những thông tin gián tiếp liên quan đến câu hỏi để từ đó có thể suy diễn,
hiểu đƣợc những điều mình muốn biết. Một số biểu hiện của trả lời gián tiếp:
a.Phủ định lại điều đƣợc hỏi
Đôi khi ngƣời hỏi đƣa ra tiền giả định và hỏi về những điều liên quan. Trong
một số trƣờng hợp ngƣời trả lời phủ định lại những tiền giả định đó.
b. Lảng tránh câu trả lời
Có thể vì một lí do nào đó nhƣ một vấn đề tế nhị, khó nói, ngƣời trả lời chọn
cách lảng tránh. Họ có thể đáp lại bằng những câu trả lời mang ý khác, cũng có thể
không trả lời.
c. Trả lời bằng câu hỏi lại
Ngƣời đƣợc hỏi có thể hỏi lại thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi ngƣời hỏi đặt ra.
18
1.3. Chiến lược giao tiếp
“Chiến lược giao tiếp là một loạt những biện pháp làm thuận lợi cho giao tiếp,
làm cho phát ngôn của người nói phù hợp với chuẩn xã hội” [25, tr. 54]
Để tiến hành giao tiếp, mỗi bên tham gia phải thiết lập quan hệ giao tiếp tức là
giả Nguyễn Văn Khang, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa hai giới thể hiện chủ yếu trên
ba phƣơng diện:
Thứ nhất, đó là sự khác nhau về cấu tạo cơ thể, “nhƣ vị trí của phần “chứa”
ngôn ngữ trong não cũng nhƣ những đặc điểm về sinh lí cấu âm”
Thư hai, thể hiện ở ngôn ngữ đƣợc dùng để nói riêng về từng giới .
Thứ ba, là sự khác nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ ở mỗi giới.
Để giải thích sự khác biệt này, ngƣời ta thƣờng dẫn ra những nguyên nhân sau
đây:
- Do sự khác nhau về cấu tạo sinh lý (chủ yếu là cơ quan phát âm) dẫn đến
phƣơng thức phát âm khác nhau.
- Do đặc điểm sinh lý khác nhau của nam và nữ tạo nên sự khác biệt trong sử
dụng ngôn ngữ.
- Do những mặc định về quan niệm xã hội và truyền thống văn hóa đã ảnh
hƣởng tới ngôn ngữ của mỗi giới.
- Do sự bất bình đẳng về quyền lực và địa vị trong xã hội tạo nên hiện tƣợng kì
thị giới tính trong ngôn ngữ .
- Do ảnh hƣởng của hoàn cảnh sống và bối cảnh ngôn ngữ của mỗi ngƣời trong
quá trình phát triển ngôn ngữ.
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, cùng với các công trình nghiên cứu về giới,
thì mối quan hệ giữa giới và ngôn ngữ đã thu hút đƣợc sự chút ý của nhiều nhà ngôn
20
ngữ học xã hội. Sự nghiên cứu này chỉ rõ những khác biệt trong sử dụng ngôn ngữ của
từng giới cụ thể ở các bình diện nhƣ ngữ âm, từ vựng, ngữ dụng.
Ở Việt Nam có thể kể đến các công trình nói về sự khác biệt ngôn ngữ giữa hai
giới nhƣ: Bùi Thị Minh Yến, 1990; Vũ Thị Thanh Hƣơng, 1999; Nguyễn Thanh Bình,
2000, 2003; Lƣơng Văn Hy, 2000; Vũ Tiến Dũng, 2002; Trần Xuân Điệp, 2001, 2002,
2003. Đặc biệt phải kể đến tác giả Nguyễn Văn Khang với công trình “Ngôn ngữ học
xã hội những vấn đề cơ bản”, 2003. Theo tác giả, mối quan hệ giữa giới tính và ngôn
con, gánh nặng tâm lý lại càng đè nặng lên đôi vai họ, vì vậy cãi vã, chửi mắng là điều
tất yếu xảy ra với họ.
22
Chính vì bắt nguồn từ những chủ đề này mà với các cặp vợ chồng lao động bình
dân, lối xƣng hô đƣợc dùng chủ yếu là xƣng hô trống không và xƣng hô mày - tao/ông.
Đôi khi có tình cảm hơn nhƣng lại với mục đích lợi dụng nhau hoặc mục đích kinh tế.
Một lúc thật lâu, anh chồng về. Anh vừa lau tay vào vạt áo, vừa tươi cười hỏi:
- Nhà còn gạo không?(Anh chồng hỏi chị vợ về gạo để đãi cơm khách)
- Làm gì mà còn gạo! (Chị vợ trả lời chồng bằng thái độ tức tối)
(Trẻ con không đƣợc ăn thịt chó – Nam Cao)
Nhà đang thiếu gạo chồng lại rƣớc khách về nhà tiếp đãi, khiến vợ bực tức, hai
vợ chồng nói chuyện xƣng hô trống không, tiếp đó là cãi và và lên đến cao trào, chồng
chuyển sang cách xƣng hô mày – tao
Mắt hắn trợn lên. Hắn gườm nhìn vợ một giây, rồi hục hặc:
- Cái giống nhà mày khó bảo!
Mắt người vợ đã rân rấn nước. Hắn biết là hắn thắng. Chỉ cần khéo hơn một
chút. Hắn lại xoay ra đấu dịu:
- Cái thứ người đâu mà ngang như cua vậy? Phải biết: tao muốn mất tiền làm gì
chứ? Nhưng chết cái ăn của người ta mãi, chẳng lẽ không mời lại người ta một bữa thì
cái mặt mình còn ra mặt gì? Nhân tiện con chó nó ăn phải bả hay sao mà chẳng biết,
sáng hôm nay cứ rú lên rồi lăn ra giãy chết…
(Trẻ con không đƣợc ăn thịt chó – Nam Cao)
Với tƣơng quan chủ đề giao tiếp trong các phát ngôn hỏi đáp của các cặp vợ
chồng là lao động bình dân chủ yếu xoay quanh vấn đề kinh tế gia đình, ngƣời chồng
dƣờng nhƣ là ngƣời chủ động hơn trong các cuộc giao tiếp. Ngƣời chồng sử dụng
nhiều câu hỏi hơn và chủ yếu là câu hỏi không đích thực với mục đích khẳng định lại
điều gì đó. Trong khi đó, với câu trả lời, ngƣời vợ lại sử dụng nhiều hơn, đặc biệt là
cách trả lời gián tiếp.