ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o
NGUYỄN TRÀ MY
VẤN ĐỀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XVIII -
ĐẦU THẾ KỶ XIX
(qua một số tác phẩm tiêu biểu)
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Từ góc độ xã hội học, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc khẳng định sự ra
đời của một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học giai đoạn này, mà
- 2 -
một trong những nội dung của nó là nhu cầu giải phóng tình cảm gắn liền
với “sự xuất hiện của hình ảnh người phụ nữ trong văn học”.
Từ góc độ văn hóa học, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn chỉ ra triết lý
thời đại nằm trong hai chữ “tài sắc” và “tài tình”, liên quan tới một loại nhân
vật văn hóa giai đoạn này: các ả đào, kỹ nữ.
Từ góc độ loại hình học, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương phân tích
các loại nhà nho, đưa đến kết luận về mẫu hình nhà nho tài tử và cặp đôi tài
tử – giai nhân, hình tượng trung tâm mới của văn học giai đoạn này.
Những công trình nghiên cứu cụ thể về từng tác phẩm, tác giả tiêu
biểu được nêu trên cũng vô cùng đa dạng, ở đây chỉ xin đề cập đến những
công trình, bài viết có liên quan tới đề tài (có đề cập đến vấn đề thân phận).
Về Nguyễn Du và Truyện Kiều, có các công trình: Truyện Kiều, xã hội
phong kiến và thân phận con người (Lê Đình Kỵ), Thân phận con người
trong Truyện Kiều (Nguyễn Hiến Lê), Quyền sống của con người trong
Truyện Kiều (Hoài Thanh), Thi pháp Truyện Kiều (Trần Đình Sử), Tấn bi
kịch của Thúy Kiều (Lưu Trọng Lư), Xã hội trong Truyện Kiều (Trần Nho
Thìn), Nhân vật Truyện Kiều và vấn đề tiếp cận nhân học văn hóa (Trần
Nho Thìn), … Về Nguyễn Gia Thiều và Cung oán ngâm khúc: Giá trị hư ảo
vô nghĩa của cá nhân con người trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia
Thiều (Trần Đình Sử); Cái bi kịch của người cung phi trong Cung oán ngâm
khúc (Hoàng Như Mai); Tâm sự u uất của người cung nữ trong Cung oán
ngâm khúc (Nguyễn Quang Khải); Nguyễn Gia Thiều và nhân vật người
cung nữ (Trần Thị Băng Thanh); Nỗi buồn tủi giận hờn của người cung nữ
(Hoàng Hữu Yên); Cuộc sống đau khổ của người cung nữ (Nguyễn Lộc)…
Về Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm và Chinh phụ ngâm: Chinh phụ ngâm
và hình ảnh cuộc chiến tranh phong kiến (Nguyễn Lộc); Đoàn Thị Điểm với
- 4 -
tài, có tình, có ý chí và có nghị lực”, dám sống với những tình cảm tự nhiên
của mình.
Trần Đình Sử qua nghiên cứu thi pháp Truyện Kiều, cũng đã có nhl;ận
xét về luận đề “tài mệnh tương đố”, về chủ đề chính của Truyện Kiều, khẳng
định những cách nhìn nhận mới về chữ “thân” so với các giai đoạn trước.
Ông cũng khẳng định mối liên quan chặt chẽ giữa ý thức cá nhân và nhận
thức thân phận con người: “Cảm nhận về nỗi đau khổ là một biểu hiện của ý
thức về cá nhân (…) tiếng mới “đoạn trường” xót thân, thương mình của
Nguyễn Du là một tư tưởng của thời đại” [17; 118].
Như vậy, các tác giả ở góc độ tổng thể hay cụ thể, ở góc độ văn hoá,
xã hội hay thi pháp học đều đã có những quan sát và nghiên cứu khá sâu,
liên quan đến vấn đề thân phận người phụ nữ nói chung trong giai đoạn văn
học này.
3. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi muốn đi sâu khai thác vấn đề này từ việc xem xét loại nhân
vật trung tâm mới của văn học (có so sánh với văn học các giai đoạn trước
đó và văn học dân gian), sau đó tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự ra đời vấn
đề thân phận người phụ nữ trong văn học, các hình tượng tập trung biểu hiện
vấn đề đó và các cách lý giải thân phận của các tác giả giai đoạn này. Về mặt
thi pháp, chúng tôi tập trung phân tích ở ba góc độ: biểu tượng, quan niệm
nghệ thuật về con người và ngôn ngữ. Luận văn của chúng tôi được thực
hiện theo hướng khám phá vấn đề thân phận người phụ nữ trong mối liên hệ
chặt chẽ với bối cảnh văn hóa của thời đại cùng tầm tư tưởng của các tác giả.
Không phân tích toàn bộ các tác phẩm của giai đoạn này, chúng tôi
chỉ tập trung xem xét các góc độ trên ở một số các tác phẩm tiêu biểu.
Những tác phẩm chúng tôi chọn là những thành tựu xuất sắc của thời đại về
mặt nghệ thuật. Đó là những mẫu mực của các thể loại mới của dân tộc phát
- 5 -
dụng một cách tổng hợp những phương pháp sau trong luận văn: tổng hợp,
phân tích, so sánh, thống kê. Trong quá trình tìm hiểu tư tưởng của các tác
giả và thời đại, chúng tôi sử dụng cả phương pháp xã hội học, loại hình học
và văn hoá học, kết hợp với việc phân tích những góc độ thi pháp của các tác
phẩm.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nhân vật người phụ nữ trong văn học trung đại
Chương 2: Vấn đề thân phận người phụ nữ trong văn học Việt
Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX
Chương 3: Vấn đề thân phận người phụ nữ nhìn nhận dưới một
số góc độ thi pháp
- 7 -
CHƯƠNG I: NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
không phong phú, đa dạng về mô típ, cách thức miêu tả, biểu tượng, không
được đi sâu phân tích tâm lý … Để lý giải điều này, trước tiên phải hiểu
được quan niệm chủ đạo chi phối văn học. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII, văn
học chịu ảnh hưởng chủ yếu của Nho-Phật-Đạo, đặc biệt là Nho giáo với
quan niệm “văn tải đạo, thi ngôn chí”. Văn học nghệ thuật trở thành phương
tiện để giáo hóa, tuyên truyền đạo đức. Lực lượng sáng tác lại chủ yếu là các
nhà nho, nhà sư. Thơ bộc lộ cái chí, cái ta đạo lý. Nếu thơ bộc lộ tình cảm
thì chủ yếu là với thiên nhiên hoặc giữa những người đàn ông với nhau
(chẳng hạn như thơ tặng bạn hay thơ ly biệt). Nhân vật trung tâm trong thơ
nói chí của các nhà nho và cả thơ thiền hầu hết là đàn ông (các nho sĩ, quân
tử, nhà sư). Ngay cả những ước lệ về con người trong thiên nhiên cũng đều
nghiêng về phía người đàn ông: “ngư, tiều, canh, mục”. Tỉ lệ các tác phẩm
có xuất hiện nhân vật nữ là rất ít. Có hai trường hợp mà nhân vật nữ xuất
hiện nhiều nhất là trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Truyền kì mạn
lục của Nguyễn Dữ. Trên tổng số 254 bài thơ nôm còn lại đến ngày nay của
Quốc âm thi tập, thì theo chúng tôi, có khoảng 14 bài nhắc đến người phụ
nữ. Trong tổng số 20 truyện trong Truyền kì mạn lục, có 8 truyện người phụ
nữ là nhân vật chính.
Trong những bài thơ: Giới sắc, Vãn xuân, Hạ cảnh tuyệt cú, Tích cảnh
thi (bài số II, III, IV, IX, X, XII), Đào hoa thi (bài số I, III), Ba tiêu, Mạt lị
hoa, Trường An Hoa, Nguyễn Trãi đã có nhắc đến người phụ nữ. Có thể nói
đến hai loại nhân vật nữ trong thơ ông: nhân vật theo điển cố, điển tích và
nhân vật theo kiểu người thực. Những nhân vật như Dương Quý Phi, Tây
Thi, Đát Kỷ xuất hiện trong Vãn xuân và Giới sắc.
- 9 -
“Vườn hoa khóc tiếc mặt phi tử
Đìa cỏ tươi nhưng lòng tiểu nhân”
(Vãn xuân)
“Sắc là giặc, đam làm chi
“Vì ai cho cái đỗ quyên kêu
Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu
Lại có hoè hoa chen bóng lục
Thức xuân một điểm não lòng nhau”
(Hạ cảnh tuyệt cú)
Còn có những bài mà nhân vật nữ được nói đến một cách hết sức mơ
hồ, hoặc ngầm ẩn, kín đáo qua những hình ảnh thiên nhiên như hoa nhài, hoa
đào, cây chuối.
“Một đoá hoa đào khéo tốt tươi
Cách xuân mơn mởn thấy xuân cười”
(Đào hoa thi I)
So với những bài thơ của Nguyễn Trãi, thì những nhân vật nữ trong
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (bên cạnh các nhân vật học trò, nho sĩ,
quân tử, trượng phu, lái buôn, quan lại, đạo sĩ) đã được xây dựng cụ thể hơn,
rõ nét hơn về mặt ngoại hình, tính cách, số phận, … tuy rất ngắn và chưa
thoát khỏi tính ước lệ chung chung. Nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục có
hai loại, đó là nhân vật chính diện và phản diện. Sự phân loại này dựa vào
chính lời bình của tác giả ở cuối truyện. Nhân vật nữ chính diện thường là
những người vợ thuỷ chung, đức hạnh, thủ tiết như trong Chuyện người
nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện Lệ
Nương. Nhân vật nữ phản diện thường là ma quỷ đội lốt để lôi kéo các sĩ tử
làm chuyện “đồi phong bại tục”, như trong Chuyện cây gạo, Chuyện yêu
- 11 -
quái ở Xương Giang, Chuyện kì ngộ ở Trại Tây. Loại thứ nhất được xây
dựng theo đúng “kiểu mẫu” phụ nữ lý tưởng của Nho gia: thông thường có
đủ “công dung ngôn hạnh”, thuỷ chung như nhất, coi danh tiết là quan trọng
hàng đầu. Phần giới thiệu và miêu tả ban đầu về người phụ nữ đó bao giờ
cũng nhấn mạnh đến cái nết, cái đức của họ: chẳng hạn như Nhị Khanh
trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu là người “khéo biết cư xử với
hại gì cho cái đạo theo. Theo nghĩa tức là theo chồng đó. Có người vợ như
thế mà để cho phải hàm oan, Trọng Quỳ thật là tuồng chó lợn”; “Làm người
đàn ông, tưởng đừng để cho giai nhân phải oan uổng thế này”[11; 34]. Nếu
như cái đẹp của nhân vật nữ chính- thông thường là các bậc liệt nữ- là để tôn
thêm cho cái đức của họ theo đúng tiêu chuẩn công dung ngôn hạnh, thì cái
đẹp của nhân vật ma nữ phản diện lại là một thứ yêu ma, quỷ quái mê hoặc
để làm hại con người. Việc liên hệ “nữ sắc” với ma quỷ, điềm xấu là điều
quen thuộc xưa nay với cả Nho-Phật-Đạo. Các nhà nho vẫn thường đổ lỗi
cho người đẹp về chính sự rối ren, triều đình khuynh đảo. Từ đó mà nảy sinh
những truyền thuyết như Đát Kỷ là hồ ly chín đuôi, Thị Lộ là con rắn báo
oán, …
Như vậy, nhân vật phụ nữ không phải nhân vật trung tâm trong nền
văn học viết từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII. Trong số ít những tác
phẩm có xuất hiện nữ nhi, thì “khách má hồng” được nói đến hoặc rất mơ
hồ, ngầm ẩn, hoặc chỉ là những điển tích, điển cố, hoặc là những mô típ quen
thuộc trong truyện dân gian kết hợp với kiểu mẫu điển hình của Nho gia
nhằm mục đích giáo dục đạo đức. Các nhân vật nữ đơn điệu về phương diện
loại hình và sự miêu tả cũng còn nghèo nàn, công thức, đơn giản hoá. Các
nhân vật nữ ở thời kỳ này chưa thoát ra khỏi những khái niệm công thức của
Nho giáo, chưa có được đời sống riêng về mặt tâm lý. Lý do cho sự thiếu
- 13 -
vắng loại nhân vật này và sự nghèo nàn trong miêu tả đó một phần do những
quan niệm thẩm mỹ chi phối văn học, và một phần cũng do giới hạn của
hoàn cảnh lịch sử. Trải qua nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, tâm
thế tác gia nhà nho nước ta vẫn để ở những đề tài liên quan đến vận nước,
đời sống của dân. Do vậy mà những vấn đề thuộc về cá nhân, nhất là những
cá nhân nhỏ bé trong xã hội như người phụ nữ, dường như bị “bỏ quên”,
hoặc trở nên thứ yếu so với những vấn đề “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ”.
danh gia vọng tộc hoặc thê thiếp của quan lại, vua chúa, thông hiểu cầm kì
thi họa. Nhiều ma nữ trong các truyện vốn là những thê thiếp của các bậc
vua chúa, quan lại hoặc phú thương. Trong khi đó, ở giai đoạn này, nhân vật
nữ thuộc đủ các tầng lớp khác nhau trong xã hội. “Người phụ nữ trong giai
đoạn này, có người là phụ nữ quý tộc, có người là phụ nữ bình dân, phụ nữ
lao động, có người là ca nhi, kỹ nữ, … Họ hoàn toàn không phải là người
phụ nữ theo cái mẫu “công dung ngôn hạnh”, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng
phu” … của lễ giáo phong kiến” [15; 77]. Nếu xét theo các kiểu loại, mô típ
phản ánh trong văn học, thì bên cạnh việc vận dụng các điển tích, điển cố
truyền thống, nhân vật chức năng trong truyện dân gian (cổ tích, truyền
thuyết), kiểu mẫu của Nho giáo, thì ở giai đoạn này các tác giả còn đưa vào
rất nhiều những nhân vật nữ có thực trong cuộc sống hay là sự phản ánh rất
gần với cuộc sống thực. Những ả đào, kỹ nữ là nhân vật thời đại nổi bật đã
đi vào thơ của Phạm Đình Hổ, Nguyễn Du, … Nàng cung nữ hẳn không xa
lạ gì với một người sống trong phủ chúa như Nguyễn Gia Thiều. Trong thơ
Hồ Xuân Hương, người phụ nữ còn hiện ra cụ thể và xác thực hơn nữa: đó là
người con gái không chồng mà chửa, người vợ lẽ, người nặng gánh gia đình,
người đàn bà goá, … Hồ Xuân Hương còn đưa vào thơ những tình cảnh rất
- 15 -
thực của bản thân: duyên phận lỡ dở, làm vợ lẽ (Cảnh chồng chung, Mời
trầu, Tự tình I, II, III). Tự nói về mình không phải là xa lạ trong văn học
trung đại. Thơ các nhà nho các giai đoạn trước vẫn thường tự lấy mình làm
đối tượng miêu tả, nói về cảnh sống nghèo khổ, thanh đạm của mình.
“Song viết hằng lề phiến sách cũ
Hôm dao đủ bữa bát cơm xoa”
(Nguyễn Trãi – Ngôn chí, bài số 17)
Song việc “ôn nghèo kể khổ” không phải là để than thở mà lại chính
là để nhà nho “tự hào” về sự bần hàn, trong sạch. Cũng giống như việc họ tự
nhận mình là “dại” , “lười” không phải là để tự hạ thấp, mà chính để tự nâng
nhưng tựu trung lại, đều không đánh giá cao sắc đẹp, tuổi trẻ và tình yêu, là
những giá trị được đề cao và gắn với nhân vật phụ nữ trong văn học giai
đoạn này. Nho giáo đặt phụ nữ trong những mối quan hệ gia đình và xã hội,
trong mối quan hệ đó phụ nữ ở vị trí người phục tùng (tam tòng). Trong
quan hệ vợ chồng, Nho giáo cũng đề cao nghĩa vụ và danh tiết hơn là tình
yêu đôi lứa. Ngay trong mối quan hệ này vẫn có sự kiểm soát nhất định về
mặt thân xác (phê phán những người đẹp làm u mê bậc quân vương). “Đến
là vợ chồng, Nho giáo cũng chủ trương “tương kính như khách” không được
buông tuồng suồng sã đã đành, cũng không được hoàn toàn vui vẻ trẻ
trung”[29; 132]. Khi người phụ nữ vượt khỏi cương thường , họ bị phê phán
và bị cho là nguyên nhân gây họa. Đặt ra tiêu chuẩn cho nữ giới (tứ đức),
Nho giáo đề cao đức hơn là sắc (dung trong “công dung ngôn hạnh” là vẻ ưa
nhìn dung dị không trang điểm). Người phụ nữ khi cần phải hy sinh “thân
thể xác” cho “thân danh tiết”. “Trong các thứ tình, thứ dục thì Nho giáo sợ
nhất là sắc đẹp đàn bà và tình yêu. Đó là thứ tình mạnh nhất, thứ dục thiết
tha nhất, thứ đam mê da diết nhất, dai dẳng nhất, bất trị nhất. Cho nên đối
- 17 -
với tình yêu, các nhà nho tỏ ra có nhiều nghi ngại, đặt ra nhiều lễ tiết, lo
nghĩ, phòng phạm cẩn thận nhất. Họ cho sắc đẹp là một thứ của “làm mất
nước tan nhà”, một điềm “bất tường” (Trần Đình Hượu). “Trong sự đối lập
Tài và Đức, Tài bao giờ ít nhất cũng “kém Đức một vài phân” [29; 128].
Phật giáo có cái nhìn bình đẳng hơn về mặt giới tính so với Nho giáo
(mặc dù Ấn giáo cổ đại cũng có những sự phân biệt đối xử với phụ nữ rất
giống với kiểu “tam tòng” của đạo Nho, nhưng Phật giáo sau này do Đức Bồ
Đề sáng lập lại có nguồn gốc từ những ý tưởng về sự bình đẳng giữa con
người với nhau khi đả kích lại các giáo sĩ Bà la môn). Tuy nhiên Phật giáo
chủ trương kiểm soát và từ bỏ những ham muốn bình thường về mặt thể xác
của con người, trong đó có sắc dục. Đạo giáo cũng khuyên con người chớ
chạy theo những ham muốn dục vọng bản năng. Trong thiên Chí lạc, Trang
chính là đôi tài tử giai nhân đã xác nhận một thời đại quan trọng của chữ
thân trong văn học” [30; 419]. Vẻ đẹp người phụ nữ không chỉ được tả một
cách chung chung mà rất cụ thể gắn với những nét đẹp về thân xác, khêu
gợi, đa tình:
“Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên”
(Truyện Kiều)
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”
(Bánh trôi nước)
“Bóng gương lấp loáng trong mành
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa”
“Tài sắc đã vang lừng trong nước
Bướm ong còn xao xác ngoài hiên
Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn
- 19 -
Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng”
(Cung oán ngâm)
Thật khác với quan niệm về chữ “dung” trong “công dung ngôn hạnh”
của Nho giáo: “nữ dung không phải là làm cho đẹp, giữ sắc đẹp, mà giữ cho
nét mặt dịu dàng, thuỳ mị, không kiêu kì, ăn mặc sạch sẽ, tề chỉnh chứ
không cần đẹp. Không chỉ trau chuốt, làm đỏm, mà cả trang điểm son phấn
nữa cũng ở ngoài nữ dung” (Trần Đình Hượu). Vẻ đẹp nhục cảm được đề
cao như một sự “nổi loạn”, thách thức của văn học với hôn nhân phong kiến.
Mặc dù vẫn tồn tại quan niệm “hồng nhan bạc mệnh”, nhưng không vì
vậy mà các tác giả phủ nhận giá trị của sắc đẹp. Người phụ nữ tự tin sắc đẹp
sẽ đem lại hạnh phúc và may mắn cho họ:
“Song đã cậy má đào chon chót
Hẳn duyên tươi phận tốt hơn người”
(Cung oán ngâm)
nổi loạn khác với cái đức “nhu đạo thuận tòng”
“Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu
Thà khuyên chàng chẳng chịu tước phong”.
Trong văn học trước thế kỷ XVIII, không phải không có những tác
phẩm nói đến thời gian và sự hữu hạn của đời người, sự ngắn ngủi của tuổi
trẻ:
“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai”
(Cáo tật thị chúng - Mãn Giác Thiền Sư)
- 21 -
“Núi Phù Thạch ngày nay lại qua
Non sông như cũ người đã già”
(Phạm Ngộ)
Song nhận thức về tuổi trẻ, thời gian không phải là động lực để các tác
giả thay đổi quan niệm sống khắc kỷ, tu thân của mình. Người quân tử vì
biết mệnh nên an mệnh. Nhà tu hành vì hiểu sự phù phiếm, hư ảo của đời
người nên càng từ bỏ mọi ham muốn, dục vọng.
Trong Truyền kì mạn lục, lời nói của một số nhân vật ma nữ cũng thể
hiện những quan niệm sống mới sinh ra từ ý thức về sự hữu hạn của đời
người: “Nghĩ đời người ta, thật chẳng khác gì giấc chiêm bao. Chi bằng trời
để sống ngày nào, nên tìm lấy những thú vui. Kẻo một sớm chết đi, sẽ thành
người của suối vàng, dù có muốn tìm cuộc hoan lạc ái ân, cũng không thể
được nữa” (Chuyện cây gạo). Quan niệm này cũng bị tác giả phê phán từ
quan điểm chính thống, cho là những lời lẽ yêu nghiệt làm con người mê
muội.
Cùng với sắc đẹp, ý thức về tuổi trẻ là một biểu hiện của sự “quý thân,
trọng thân”, một nội dung quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo và ý thức về
Có âm dương có vợ chồng
Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê”
(Cung oán ngâm khúc)
Nếu không được sống với tình yêu hoặc phải kìm giữ nó, thì mới là
phản tự nhiên, bất nhẫn:
“Ấy loài vật tình duyên còn thế
Sao kiếp người nỡ để đấy đây”
(Chinh phụ ngâm)
- 23 -
Một người phụ nữ có thể yêu nhiều người đàn ông (Kiều); tình yêu có
thể do trai gái cảm mến nhau vì sắc, vì tài (Kiều – Kim Trọng, Kiều – Từ
Hải) nhưng cũng có thể nảy sinh từ mối quan hệ thân xác (Kiều – Thúc Sinh,
nàng cung nữ - bậc quân vương); người phụ nữ có thể chủ động đến với tình
yêu, chủ động bày tỏ những tình cảm và suy nghĩ của mình (Kiều, nàng
chinh phụ, nàng cung nữ) hoặc dám nói lên những khao khát thầm kín
(người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương). Đó đều là những cách nhìn rất
mới mẻ về tình yêu, về quan hệ nam nữ, khác hẳn với mục đích của hôn
nhân phong kiến: “hợp lưỡng tính chi hảo, thượng dĩ sự tôn miếu, nhi hạ dĩ
kế hậu thế dã” (kết hợp cái tốt đẹp của nam nữ, trên nhằm phụng sự tổ tiên,
dưới nhằm có người nối dõi – Lễ kí. Hôn nghĩa).
Trong Truyền kì mạn lục, những mối tình thắm thiết, đầy say mê và
lạc thú giữa những anh học trò, lái buôn, nho sĩ … với các ma nữ hay kĩ nữ
đều bị tác giả lên án kịch liệt. Những anh học trò, lái buôn si tình này đều
được nhìn nhận như những kẻ “thất phu đa dục” mê muội. “Than ôi! Người
con trai bất trung, ông vua trung thường xấu hổ lấy làm bề tôi. Người con
gái bất chính, kẻ sĩ trung thường xấu hổ lấy làm vợ. Thuý Tiêu là một ả ca
xướng, chẳng là người chính chuyên, không hiểu Nhuận Chi ham luyến về
cái gì (…) Như chàng Nhuận Chi, thật là một người ngu vậy” (lời bình cuối
Thuý Tiêu truyện). Giai đoạn này, tình yêu nam nữ dường như luôn gắn bó