TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
PHAN THỊ LAN CHI
(MSSV: 6062099)
THỂ KÍ CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn – khóa 32 (2006 – 2010)
Cán bộ hướng dẫn: BÙI THANH THẢO
-1-
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
2.
Lịch sử vấn đề
3.
Mục đích nghiên cứu
1.3.2. Tác phẩm
Chương 2: NỘI DUNG BÚT KÍ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
2.1. Vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước
2.2. Vẻ đẹp của con người
2.2.1. Vẻ đẹp của con người trong chiến tranh
2.2.2. Vẻ đẹp của con người trong lao động sản xuất
2.2.3. Vẻ đẹp của quá trình biến đổi tinh tế trong tâm hồn người
trí thức trước thời cuộc
2.3. Vẻ đẹp lịch sử - văn hóa
2.3.1. Vẻ đẹp lịch sử
2.3.2. Vẻ đẹp văn hóa
2.3.2.1. Vẻ đẹp của truyền thống văn hóa Huế
2.3.2.2. Vẻ đẹp văn hóa của truyện thần thoại
Chương 3: NGHỆ THUẬT BÚT KÍ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
3.1. Kết hợp hài hòa chất trữ tình và chất trí tuệ
3.2. Không gian, thời gian nghê thuật
3.3. Giọng điệu trong bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường
3.4. Ngôn ngữ trong bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường
3.4.1. Ngôn ngữ giản dị trong sáng
3.4.2. Ngôn ngữ trữ tình giàu hình ảnh
3.4.3. Ngôn ngữ khoa học chính xác
3.4.4. Ngôn ngữ miêu tả
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
-3-
qua niềm tin yêu độc giả dành cho ông. Tuy nhiên việc nghiên cứu về bút ký của
ông vẫn chưa được chú trọng và đi sâu vào phân tích. Cũng đã có một số bài bình
-5-
luận được đăng trên các báo, nhưng thực chất chỉ là những bài đánh giá ngắn chứ
chưa phải là một bài nghiên cứu hoàn chỉnh. Chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét
của các nhà bình luận về bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường:
Trong tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tập 2, Nhà thơ Hoàng Các đã có
nhận xét: “Hoàng Phủ Ngọc Tường có một phong cách viết bút ký của riêng mình,
thế mạnh của ông là tri thức văn học, triết học, lịch sử, địa lý sâu và rộng, gần
như đụng đến vấn đề gì, ở thời điểm nào và ở đâu thì ông vẫn có thể tung hoành
thoải mái ngòi bút được.” [18;Tr.857]. Nhận xét của nhà thơ Hoàng Các như đã
khái quát được phong cách viết văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Khi nói đến vấn
đề gì, Hoàng Phủ Ngọc Tường không nói bóng gió xa xôi mà ông nói thẳng nói
thực và đúng với bản chất vốn có của vấn đề. Ông đã tạo nên phong cách viết
không lẫn vào đâu được và để lại tên tuổi ở thể loại ký vốn là mảnh đất đào thải
khắc nghiệt.
Trích sách ngữ văn 12 xuất bản 2008 nhận định: “Hoàng Phủ Ngọc Tường
là một trong những nhà văn chuyên về bút ký, nét đặc sắc trong sáng tác của ông
là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc
bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học,
văn hóa, lịch sử, địa lý…tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích,
mê đắm và tài hoa” [12;Tr.108].
Trong quyển Lí luận và phê bình văn học, giáo sư Trần Đình Sử có một bài
cảm nhận về tập bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Trong bài viết này ông đã
nói rằng: “Hoàng Phủ Ngọc Tường từ trước tới nay là nhà văn của nhiệt tình
công dân và cảm hứng thời sự. Ngòi bút của anh hầu như chỉ dành riêng cho đất
nước và con người Việt Nam”. Sau cảm nhận về một vài bài bút kí cụ thể, giáo sư
nổi bậc cái chủ yếu mà không sa vào logic khô khan. Anh hay tạt ngang, tạt ngửa,
đối chiếu không gian, đối chiếu thời gian, liên tưởng hồi ức, hoài niệm - nhưng
không miên man lạc đề” [21;Tr.73].
Trên đây là một số nhận định về bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, đa số
các ý kiến đều khen ngợi sự hiểu biết của tác gia, về cách hành văn của ông chứ
chưa thật sự hệ thống phân tích một cách chi tiết về toàn bộ sáng tác của ông.
Trong đề tài này chúng tôi sẽ hệ thống một cách khái quát về nội dung cũng như
-7-
nghệ thuật về thể loại bút ký của ông, qua đó giúp bạn đọc hiểu hơn về tiểu loại
bút kí nói riêng và thể kí nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu đề tài “Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua một số tác phẩm tiêu
biểu” chúng tôi hy vọng đạt được mục đích:
- Khái quát sơ lược thể loại ký văn học nói chung – bút kí nói riêng và giá
trị của chúng đối với văn học.
- Tuy chỉ kháo sát một số tác phẩm tiêu biểu qua tuyển tập 2 – 3, nhưng
chúng tôi mong muốn có thể khái quát được nội dung chung ở cả 2 tuyển tập
cho bạn đọc.
- Qua các tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường để hiểu thêm về sự đa
dạng phong phú của thể loại ký Việt Nam.
- Tích lũy thêm kiến thức cho bản thân đồng thời góp thêm kiến thức cho
bạn đọc về thể loại bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Về đối tượng nghiên cứu:
Với đề tài “Thể kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường qua một số tác phẩm tiêu
biểu”, đối tượng nghiên cứu là giá trị nội dung và nghệ thuật các tác phẩm bút kí
1.1.1. Sơ lược về sự hình thành loại hình ký
Kí là một loại hình văn học không thuần nhất. Đó là một lĩnh vực văn học
bao gồm nhiều thể loại, chủ yếu là văn xuôi ghi chép, miêu tả và biểu hiện những
sự việc, con người có thật trong cuộc sống.
Kí vốn là tên gọi của một thể văn đã xuất hiện từ trước đời Hán ở Trung
Quốc bên cạnh các thể văn công vụ, hành chính khác. Đời Đường có nhiều tác
phẩm kí dùng để ghi việc xen với lời bình. Kí ngày càng phát triển và được ý thức
về đặc điểm thể loại. Theo Ngô Nạp, học giả đời Minh, “thể kí nói chung nhằm
ghi nhớ không quên…sau khi kể việc, bàn qua để kết lại, đó là chính thể”. Các học
giả đời Thanh nhấn mạnh chức năng ghi việc của kí.
Cùng với thể kí mang đậm tính chất lịch sử, từ đời Đường đã xuất hiện các
tập văn kí, đời Tống trở đi xuất hiện những tập bút kí, tùy bút thuộc loại tạp kí,
tính chất văn học dù đậm nhạt không đều, nhưng chức năng dần rõ hơn. Cùng với
thể kí còn có các hình thức ghi chép khác như lục, sự… Các thể truyện kí như sử
kí, chí quái, chí nhân… mà đặc điểm chung là việc ghi rõ thể văn ngay trên tên gọi
tác phẩm đã hàm ý nhấn mạnh tính chất ghi chép, miêu tả đối tượng, chi tiết, sự
kiện, nhân vật có thật từ cuộc sống.
Với các trước tác Việt Nam thời Trung đại, tình hình cũng tương tự như
vậy. Dù chủ yếu mang hình thức giống kí đời Đường, Tống (như các tác phẩm kí
của các đời Lí, Trần, phần nào của đời Lê, đầu đời Nguyễn…) hay đã phá cách,
sáng tạo phóng túng hơn (như các loại tạp kí ở thế kỷ XVIII – XIX), các trước tác
kí, kí sự, lục, chí, tùy bút… thời Trung đại Việt Nam đều thuộc loại ghi chép, nặng
tính chất lịch sử về nhân vật, sông núi, đền chùa, phương vực, phẩm vật, chuyện
lạ… Tính chất văn học đậm đà hơn của thể kí được thể hiện ở các tác phẩm như
Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Thượng kinh kí sự của Lê Hưu Trác…
-11-
Đặc điểm “ghi việc xen với lời bình” cũng khá nổi bật ở những tác phẩm kí
“loại thể văn học đặc biệt và phức tạp”. Ta cũng có thể thấy cách hiểu đa dạng
qua các cuộc trao đổi về thể kí trên Tạp chí văn học (năm 1966), các bài báo, các
công trình nghiên cứu, các giáo trình lý luận văn học khi đề cập tới vấn đề này.
Tuy nhiên, kí có hạt nhân làm thành đặc trưng riêng của nó. Ở loại này
người ta đặc biệt quan tâm đến các sự kiện, hoàn cảnh lịch sử, những biểu hiện của
đời sống có thực ngoài đời và đồng thời muốn bộc lộ trực tiếp cá tính sáng tạo và
tinh thần trách nhiệm xã hội của tác giả. “Với thể loại kí, từ sự thôi thúc của cuộc
sống mà tác giả có nhu cầu được công bố kịp thời những nhận xét, những đánh
giá, những ý tưởng… Kí ghi được rất rõ những nét mang dấu ấn của một sự kiện,
của một thời kì, của một lớp người, của một vùng miền”.
Chính vì các tính chất nói trên mà loại kí có một phạm vi biểu hiện đời
sống rất rộng lớn. Kí có thể thiên về ghi chép sự việc, hiện tượng như phóng sự, kí
sự, có thể thiên về biểu hiện những cảm xúc trữ tình như tùy bút, tản văn, có thể
nghiêng về nghị luận như chính luận, có thể nghiêng về ghi chép kiến văn, tri thức
như tạp kí lịch sử…
Chính vì cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong nhìn nhận và khai thác các sự
kiện của đời sống cũng như năng động phát huy vai trò sáng tạo của người cầm
bút mà loại kí rất đa dạng và tác phẩm kí cụ thể luôn độc đáo.
1.1.3. Đặc điểm kí văn học.
1.1.3.1. Kí lấy sự thật khách quan của đời sống và tính xác thực
của đối tượng làm cơ sở.
Xét từ gốc gác và bản chất, kí trước hết nhằm thông tin sự thật. Chức năng
“để ghi nhớ không quên” có từ cội nguồn thể loại khiến các nhà viết kí trước hết
phải hướng về tìm tòi, nghiên cứu, phát hiện rồi ghi lại những “người thật, việc
thật”, những biến cố, những vấn đề của đời sống… phần nhiều tác phẩm kí ra đời
như bộc lộ phản ứng trực tiếp với những biến cố thời sự, những vấn đề nóng bỏng
đang được đặt ra trong đời sống. Chính đặc điểm này làm cho kí văn học gần với
Trên cơ sở gắn bó với cuộc sống, tác giả kí văn học có thể vận dụng sức
tưởng tượng hư cấu để sáng tác. Nói như Nguyễn Tuân: “Chẳng cứ trong truyện
ngắn, truyện dài, kịch, thơ ca, hay trong kí, trong sáng tác nghệ thuật nào cũng có
hư cấu. Hư cấu nói cho nôm na dể hiểu, là tưởng tượng ra… Không có sức tưởng
tượng hư cấu, lấy gì mà sáng tác… Hư cấu không phải là tách rời thực tiễn và
-14-
thực tế đời sống, mà chính là rất gắn bó với cuộc sống. Vốn sống có bao nhiêu thì
càng hư cấu được bấy nhiêu, sức tưởng tượng càng mạnh, sâu, cao rộng hơn”.
Khi sáng tác kí, tác giả có thể và cần phải vận dụng trí tưởng tượng, nhưng so với
các thể loại khác, sự tưởng tượng trong kí có tính chất, phạm vi và mức độ riêng.
Nhằm xây dựng thế giới nghệ thuật, đưa ra những thông tin thẩm mĩ về
người thật việc thật, tạo ra sức thuyết phục và tác động của tác phẩm trên cơ sở tôn
trọng tối đa tính xác thực của đối tượng phản ánh, nói chung tác phẩm kí văn học
thường hư cấu bằng cách loại bỏ những chi tiết thừa, ngẫu nhiên, tổ chức tài liệu
theo một cấu trúc nào đó, chỉ hư cấu ở những thành phần không thể tái hiện một
cách trực quan, chỉ có thể nắm bắt qua tưởng tượng, như nội tâm của nhân vật, sức
liên tưởng và sự cảm thụ cảnh sắc thiên nhiên trong cảm xúc trữ tình của nhân vật.
Quan trọng hơn tác phẩm kí không thể nào viết được sự thật đã xảy ra một cách
tuyệt đối, đa phần người viết không trực tiếp chứng kiến sự việc, phần nhiều là do
nghe kể lại của những người trực tiếp tham gia vào sự kiện, kể cả đọc thêm. Lúc
ấy tính hư cấu được tác giả vận dụng để sắp xếp các sự kiện theo một trật tự thống
nhất. Tuy nhiên hư cấu trong kí phải có giới hạn nhất định, nhà văn phải tôn trọng
quan điểm của nhân vật về cuộc sống, con người và cách nhìn nhận, đánh giá của
bản thân người ghi chép, đánh giá…Hoạt động giao tiếp có giới hạn này rất phong
phú, luôn phải nhằm đạt đến tính chân thực trong tái hiện. Hư cấu trong kí là sáng
tạo tích cực của chủ quan nhà văn, không những không làm mất, làm nhòa địa chỉ
và diện mạo ngoài đời của đối tượng phản ánh, mà còn là biện pháp làm cho hình
tượng về cuộc sống trở nên sống hơn, thật hơn, các chi tiết của đời sống liên kết
của trí tuệ”. Hầu như ở trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm kí nào cũng xuất
hiện hình tượng tác giả như điểm nhìn trung tâm gắn kết, đánh giá các chi tiết, sự
kiện của đời sống. Cái “tôi” hay “chúng tôi” – tác giả ấy cũng thường trực tiếp
giao tiếp với bạn đọc, dẫn dắt người đọc thâm nhập sự thật cuộc đời. Chẳng hạn,
tập Rất nhiều ánh lửa của Hoàng Phủ Ngọc Tường có tới 8/9 tác phẩm nhân vật
“tôi” xuất hiện ngay từ những câu đầu: “Cuối buổi chiều, Huế thường trở về
trong nỗi yên tĩnh lạ lùng, đến nối tôi cảm thấy…” (Rất nhiều ánh lửa), “Buổi
chiều đến trạm sớm, tôi ra ngoài bờ sông Among…”(Như con sông từ nguồn ra
biển),…
-16-
Ở vị trí một hình tượng trung tâm trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm kí,
hình tượng tác giả thường “bộc lộ rõ lập trường, tư tưởng, chính kiến của nhà
văn” về những hiện tượng nào đó của cuộc đời. Với nhiệt tình thuyết phục trong
trình bày, phân tích, lí giải các hiện tượng của cuộc sống, hình tượng tác giả trong
kí là cơ sở khiến “kí mang sức giác ngộ, động viên, giáo dục mạnh mẽ”.
1.1.3.4. Đặc điểm về văn phong, ngôn từ nghệ thuật của kí
Trước hết, ngôn từ nghệ thuật của kí hướng vào miêu tả phong tục qua
những đặc điểm môi trường hoặc những nét tính cách tiêu biểu của cuộc sống, vì
thế vừa cụ thể, sinh động, đậm chất đời thường, vừa khái quát. Đặc điểm phổ biến
này của các tiểu loại kí thường biểu hiện rõ nhất ở phóng sự, kí sự.
Do vai trò đặc biệt nổi bậc và quan trọng của tác giả trong tác phẩm kí,
ngoài những đặc điểm chung của ngôn từ văn học, ngôn từ nghệ thuật trong kí
cũng mang đậm tính chủ thể, gắn liền với những đặc điểm cá tính sáng tạo của tác
giả. Ngôn từ trong tác phẩm kí văn học chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp của tác giả người chứng kiến và tái hiện các hiện tượng đời sống. Đồng thời, tác giả luôn là
người đối thoại, chứng kiến, ghi nhớ và ghi chép lại ngôn từ của các nhân vật
khác. So với ngôn từ nghệ thuật của các loại tác phẩm khác, ngôn từ nghệ thuật
của kí luôn có xu hướng mở rộng, thừa nhận, dung nạp nhiều hình thức và phong
khác về màu sắc thẩm mĩ mà còn có thể linh hoạt vận dụng, kết hợp với các
phương thức tiếp cận, lí giải, phản ánh, khái quát hiện thực của các thể loại khác,
tạo nên giá trị phong phú và độc đáo của riêng mình.
Kí cũng là loại tác phẩm văn học bộc lộ rõ tính tư tưởng, tính khuynh
hướng trong việc tái hiện và tích cực tác động đến đời sống xã hội. Kí không chỉ
có vị trí, vai trò riêng trong đời sống văn học, mà với những đặc điểm của mình, kí
còn là thể loại lưu giữ nhiều tài liệu xác thực về đời sống và cảm quan nghệ thuật
của con ngươi, là nguồn dự trữ tư liệu tin cậy cho sáng tạo nghệ thuật về sau.
1.2. Bút kí – một tiểu loại trong kí văn học
1.2.1. Khái niệm bút ký:
Theo Từ Điển Tiếng Việt “bút ký là thể ký ghi lại những điều tai nghe mắt
thấy, những nhận xét, cảm xúc người viết trước các hiện tượng trong cuộc
sống”[3;Tr.92]
-18-
Theo giáo sư Trần Đình Sử: “bút ký là một thể của văn học, thuộc loại
trung gian giữa ký sự và tùy bút. Bút ký thiên về việc ghi lại một cảnh vật mà nhà
văn mắt thấy tai nghe, thường là một chuyến đi. Nó kết hợp linh hoạt các phương
thức nghị luận, tự sự, trữ tình. Nhiều khi nó nghiêng hẳn về trữ tình, có thể trình
bày những nhận xét, những liên tưởng triền miên, phóng túng như tùy bút. Có lúc
nó lại tăng cường phần nghị luận và trở thành bút ký chính luận. Bút ký chính
luận có thể luận bàn về nhiều lĩnh vực, như kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa.
Giá trị của bút ký chính luận là ở tầm tư tưởng chủ đạo, ở logic lập luận, ở sức
thuyết phục của những dẫn chứng. Nó mang tính chiến đấu rõ rệt, ứng chiến kịp
thời, có tác dụng tuyên truyền, động viên trực tiếp. Đây có thể văn gần với báo
chí. Nó có giá trị văn học khi ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, có khả năng
tác động tới tâm hồn người đọc.
Nhìn chung, phân lượng của các phương thức, phương tiện chiếm lĩnh nội
xem như một thể loại nằm giữa truyện ngắn và thơ. Cái dễ và cái khó của bút ký
có lẽ là ở đó. Dễ là ở chỗ bút ký không đòi hỏi nhất thiết phải xây dựng cho được
nhân vật, nhưng khó là ở chỗ nếu không có cốt truyện để lôi cuốn người đọc thì
phải quyến người đọc bằng cái gì chứ. Nói một cách khác bút ký đứng được phải
dựa vào đâu. Theo tôi nghĩ đó là những cảm xúc thơ, những suy nghĩ thơ”.
[13;Tr.433].
Dù phản ánh hiện thực nhưng bút ký cũng giàu tính nghệ thuật, chứ không
ngắn gọn khô khan như thể loại báo chí. Tôn trọng hiện thực nhưng bút ký nhìn
nhận dưới góc nhìn của nghệ thuật. Tôn trọng khách quan là yếu tố quan trọng
hàng đầu trong bút ký nhưng không có nghĩa bút ký phản ánh vấn đề một cách trần
trụi như nó tồn tại, mà tác giả đã gọt dũa để sự thật càng sáng hơn khi đến với
người đọc.
Yếu tố nghệ thuật hư cấu, liên tưởng được tác giả sử dụng như một thủ
pháp nghệ thuật để làm tăng tính sinh động trong bút ký. Nhà văn không chỉ máy
móc ghi lại sự thật mà phải biết chọn lọc, cắt bớt đi những chi tiết thừa và thêm
vào những chi tiết mà nhà văn do vấn đề này hay lý do khác không thể trực tiếp
chứng kiến được sự việc. Không phải sự việc nào nhà văn cũng có điều kiệc chứng
kiến trực tiếp mà có nhiều vấn đề nhà văn chỉ được nghe kể lại và nhà văn đã diễn
giãi theo suy nghĩ của mình và lúc này yếu tố hư cấu xuất hiện. Hư cấu liên tưởng
-20-
chỉ trong một chừng mực cần thiết, chỉ là phương tiện nghệ thuật chứ nhất định
không được phản ánh sai sự thật. Như trong bút ký “Đất mũi” của Hoàng Phủ
Ngọc Tường trong tuyển tập bút ký tập 2 của ông. Cuộc đấu tranh anh dũng của
nhân dân Cà mau chống Mỹ - Ngụy đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường ghi nhận
qua lời kể của người trực tiếp tham gia chiến đấu như Chú Thím Tám, sự thật là
Hoàng Phủ Ngọc Tường không được chứng kiến trực tiếp cuộc chiến đấu ấy,
nhưng tác giả đã diễn đạt lại một cách sống động, hào hùng do thu thập từ nhiều
nguồn khác nhau.
người viết chiếm một tỉ trọng lớn và tính chất trữ tình khá đậm nét, thì trong bút
ký việc ghi chép chân thực sự việc được coi trọng hơn. Trong bút ký, cái hấp dẫn
lôi cuốn người đọc chính là những hình tượng điển hình, những sự việc, hiện
tượng có thật trong đời sống. Trong khi đó ở tùy bút những chi tiết về con người
và sự kiện cụ thể được ghi chép chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ cảm xúc, suy tư và
nhận thức, đánh giá của mình về cuộc sống. Trong bút ký, dù có xen kẽ vào những
yếu tố cảm xúc thì các sự kiện cũng được trình bày theo một trình tự nhất định,
còn trong tùy bút các sự kiện khách quan không được trình bày liên tục do mạch
liên tưởng, suy tưởng của tác giả. Ngôn từ trong tùy bút thường giàu hình ảnh và
chất thơ, giọng văn rất mượt mà, quyến rũ, và đặc biệt câu văn tùy bút thường giàu
nhịp điệu, âm điệu hài hòa trầm bổng.
- Tiểu loại tiếp theo cần phân biệt với bút ký là ký sự. Ký sự là thể ký ghi
chép khá hoàn chỉnh một câu chuyện, một sự kiện có thật trong cuộc sống. Điểm
tương đồng giữa hai tiểu loại này là đều phản ánh sự việc, hiện tượng bằng cách sử
dụng nhiều biện pháp và phương tiện nghệ thuật, đều không có cốt truyện chặt
chẽ. Nhưng bút ký phản ánh chân thực cả sự việc và con người với tất cả sự biến
đổi lớn lao trong tính cách và tâm hồn, còn ký sự thiên về phản ánh sự việc, sự
kiện hơn là phản ánh tính cách những người trong cuộc. Ký sự thường đậm yếu tố
tự sự, giàu chất sống thực tế, yếu tố bàn luận cá nhân rất ít xuất hiện. Trong khi
đó, bút ký kết hợp mật thiết giữa tự sự và trữ tình, vừa ghi chép sự việc vừa bày tỏ
thái độ chủ quan của người viết.
- Phân biệt giữa phóng sự và bút ký: Phóng sự là tiểu loại ký ghi chép kịp
thời, cung cấp những tri thức chính xác, phong phú, đầy đủ, nhằm làm sáng tỏ
trước công luận một sự việc, một vấn đề có ý nghĩa thời sự. Nội dung chủ yếu của
-22-
phóng sự là qua việc trình bày chính xác các sự việc, người viết nêu lên một ý kiến
đề xuất và giải quyết mà ít bộc lộ tình cảm, thái độ. Bút ký cũng tái hiện con
người, sự việc khá dồi dào, nhưng qua đó bộc lộ trực tiếp cảm nghĩ của tác giả.
đã rực cháy nên ngọn lửa nhiệt tình với quê hương, đất nước. Ông tham gia
nhiều phong trào kháng chiến và đi đến mọi miền của Tổ Quốc. Đi đến đâu ông
cũng dành cho con người, thiên nhiên nơi đó một tình cảm chân thành và luôn
tìm hiểu khá sâu sắc và tinh tế về mọi điều. Chính những chuyến đi đó đã làm
tăng thêm ngày càng nhiều vốn hiểu biết của ông về mọi miền đất nước, tăng
thêm vốn sống, vốn hiểu biết và tình yêu quê hương trong ông. Những chuyến
đi đó cũng thôi thúc ông viết thật nhiều về tất cả những gì mình đã nghe, đã
thấy, đã cảm nhận. Như một điều tự nhiên, Hoàng Phủ Ngọc Tường tìm đến với
bút ký như một sự sắp đặt. Với bút ký, ông có thể tự do sử dụng ngòi bút của
mình để viết nên những trang văn sống động về hiện thực cuộc sống của những
miền quê đã đi qua và tự do để cảm xúc của mình tràn lên trang viết.
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người Huế chính gốc và gắn bó với Huế
bằng cả tâm hồn của một nghệ sĩ. Trong trang viết của ông Huế luôn hiện lên
với tất cả vẻ đẹp dịu dàng và thơ mộng. Quê hương với những nét đẹp hiện hữu
của cảnh vật và còn chất chứa những giá trị về tâm hồn của con người Huế,
-25-