ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=======================
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
SỰ TIẾP NỐI CỦA THỂ LOẠI TRUYỀN KỲ VÀ
KỲ ÁN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 1932 – 1945
QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=======================
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
SỰ TIẾP NỐI CỦA THỂ LOẠI TRUYỀN KỲ VÀ
KỲ ÁN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 1932 – 1945
QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyênngành: VănhọcViệt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xuân Thạch
6. Cấu trúc của luận văn .............................................................................. 18
CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ............................................... 20
1.1 Tiến trình hình thành, khái niệm, đặc trƣng của truyền kỳ trung đại và
ảnh hƣởng của thể loại này trong văn học hiện đại ................................. 20
1. 2 Tiến trình hình thành, khái niệm, đặc trƣng của kỳ án trung đại và
ảnh hƣởng của thể loại này trong văn học hiện đại ................................. 28
1.3 Ngôn ngữ sáng tác của truyền kỳ và kỳ án giai đoạn 1932 - 1945 .... 33
TIỂU KẾT.................................................................................................. 39
CHƢƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA THỂ LOẠI TRUYỀN KỲ TRONG
GIAI ĐOẠN 1932 -1945............................................................................ 40
2. 1 Đề tài, chủ đề của truyền kỳ giai đoạn 1932 – 1945......................... 40
2. 1. 1 Đề tài của truyền kỳ giai đoạn 1932 - 1945 ............................... 40
2. 1. 2 Chủ đề của truyền kỳ trong giai đoạn 1932 - 1945 ................... 44
2. 2 Hệ thống nhân vật trong các tác phẩm truyền kỳ giai đoạn 1932 - 1945 47
2.3 Ngƣời kể chuyện và kết cấu tác phẩm ............................................... 55
2. 4 Không gian và thời gian trong thể loại truyền kỳ giai đoạn 1932 – 1945. 61
TIỂU KẾT.................................................................................................. 75
CHƢƠNG 3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA THỂ LOẠI KỲ ÁN GIAI
ĐOẠN 1932 – 1945 .................................................................................... 76
1
3.1 Đề tài, chủ đề trong các tác phẩm kỳ án giai đoạn 1932 – 1945 ....... 76
3. 2 Vai trò của tuyến truyện và điểm nhìn trong các tác phẩm kỳ án .... 80
3. 3 Các kiểu nhân vật trong kỳ án giai đoạn 1932 - 1945 ...................... 86
3.4 Ảnh hƣởng của kỳ án đến các thể tài lịch sử, trinh thám giai đoạn
1932 – 1945 .............................................................................................. 93
TIỂU KẾT.................................................................................................. 98
CHƢƠNG 4 QUAN NIỆM TÁC GIẢ TRONG CÁC TÁC PHẨM
TRUYỀN KỲ VÀ KỲ ÁN GIAI ĐOẠN 1932 - 1945 ........................... 100
nghiên cứu một cách đúng mức với vai trò và tầm ảnh hƣởng của nó trong không
gian văn chƣơng, nghệ thuật 1932 - 1945. Điều này đòi hỏi việc sƣu tầm, nghiên
cứu và công bố văn bản phải đƣợc tiến hành một cách thƣờng xuyên, liên tục.
Thực ra, công việc này đã đƣợc thực hiện đơn lẻ từ lâu và đã đạt đƣợc ít nhiều
thành tựu quý báu, tuy nhiên chúng chƣa toàn diện, triệt để mà minh chứng rõ
ràng nhất là nhiều đối tƣợng/ vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ, nghiên cứu dang dở. Các
tác phẩm truyền kỳ và kỳ án hiện đại đƣợc sáng tác trong giai đoạn 1932 – 1945
nằm trong số các đối tƣợng/ vấn đề nhƣ vậy.
Nhắc đến thể văn trần thuật giai đoạn 1932 – 1945, các nhà nghiên cứu
thƣờng đề cập đến các tác phẩm văn học tiêu biểu cho ba trào lƣu văn học lãng
mạn; văn học hiện thực phê phán; văn học yêu nƣớc và cách mạng nhƣng ít chú ý
3
tới mảng văn học bình dân, văn chƣơng tiêu thụ mà truyền kỳ và kỳ án có thể
xem là những đại diện tiêu biểu. Trong khi đó, thể loại truyền kỳ và kỳ án có thể
xem là hiện tƣợng văn học đặc biệt khi chúng đã hiện diện trong văn học trung
đại với nhiều danh tác nhƣ Thánh tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Điểu thám kỳ
án vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển thay vì biến mất trong thị trƣờng văn học hiện
đại nửa đầu thế kỷ XX. Thậm chí, hai thể loại này không chỉ lƣu truyền rộng rãi
trong tầng lớp bình dân mà còn thu hút sự quan tâm, chú ý từ các nhà văn lớn
đƣơng thời nhƣ Khái Hƣng, Thế Lữ, Lƣu Trọng Lƣ cho tới giới phê bình nhƣ
Trƣơng Tửu, Vũ Ngọc Phan, Dƣơng Quảng Hàm vv. Từ thập niên 90 của thế kỷ
trƣớc, cũng nhƣ nhiều tác phẩm thuộc trào lƣu văn học lãng mạn, văn học hiện
thực phê phán, nhiều tác phẩm truyền kỳ và kỳ án hiện đại nói riêng, văn chƣơng
bình dân nói chung đã bắt đầu đƣợc tái bản nhƣng không thực sự thu hút đƣợc sự
quan tâm từ ngƣời đọc. Điều này phản ánh một quy luật khách quan trong mỹ
học tiếp nhận, là hệ quả tất yếu của những tác phẩm văn chƣơng tiêu thụ vốn có
tuổi đời rất ngắn và lệ thuộc vào nhu cầu của độc giả. Tuy nhiên, với các nhà
ứng của chúng trong môi trƣờng văn học hiện đại để kịp phù hợp nhu cầu của
ngƣời đọc. Trong những năm qua, bên cạnh những công trình, chuyên luận
nghiên cứu thể loại truyền kỳ và kỳ án trong văn học trung đại, một số tác giả
tiêu biểu cho hai thể loại này nhƣ Lan Khai, Phạm Cao Củng, Thế Lữ, Nguyễn
Tuân đã bƣớc đầu đƣợc nghiên cứu, tìm hiểu để chỉ ra các ảnh hƣởng từ văn học
kỳ ảo, trinh thám phƣơng Tây. Tuy nhiên, lại chƣa có nghiên cứu nào trình bày
về “dòng chảy” của truyền kỳ và kỳ án từ văn học trung đại sang văn học hiện
đại. Từ những nguyên nhân đó, luận văn của chúng tôi đặt ra vấn đề Sự tiếp nối
của thể loại truyền kỳ và kỳ án trong Văn học Việt Nam 1932 -1945 qua một số
tác giả tiêu biểu nhằm trình bày một hiện tƣợng/ vấn đề văn học tuy không còn
“mới” nhƣng lại chƣa từng đƣợc quan sát, nghiên cứu, phân tích một cách cụ thể
và đầy đủ.
Trong hai thể loại trên nếu nhƣ “truyền kỳ” là một khái niệm quen thuộc,
không xa lạ trong giới nghiên cứu thì “kỳ án” là khái niệm đƣợc chúng tôi đặt ra,
có nội hàm là những tác phẩm văn chƣơng có yếu tố trinh thám trong văn học
cận, hiện đại. Nhắc đến dòng truyện mang khuynh hƣớng kỳ ảo tồn tại xuyên
suốt từ văn học trung đại đến văn học hiện đại giai đoạn 1900 – 1945, các nhà
5
nghiên cứu gần nhƣ mới chỉ tìm hiểu, tranh luận về nguồn gốc, đặc điểm của các
tác phẩm truyền kỳ, nhƣng lại không hề chú ý tới thể loại “kỳ án”. Điều này, xuất
phát từ những mối tƣơng quan, gần gũi của hai thể loại văn học này. Trong luận
văn Sự tiếp nối của thể loại truyền kỳ và kỳ án trong văn học Việt Nam 1932 –
1945, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, phân tích các tác phẩm văn học thuộc
truyền kỳ và kỳ án hiện đại nhằm cung cấp các gợi ý để có thể xác định rõ hơn
nguồn gốc, đặc điểm của hai thể loại văn học này.
Hiện nay, xu hƣớng nghiên cứu văn học liên ngành, dƣới các góc độ khác
nhau (trần thuật học, mỹ học tiếp nhận, liên văn bản, tâm phân học, văn học…)
một cách đầy đủ. Tuy nhiên cũng vì vậy, chúng tôi không thể tránh khỏi những
hạn chế chủ quan và khách quan do trình độ, năng lực hạn chế của ngƣời viết.
Bởi vậy, những sai sót trong luận văn là điều không thể tránh khỏi.
2. Lịch sử vấn đề
Truyền kỳ và kỳ án là những thể loại văn học mang tính khu vực, ra đời ở
Trung Quốc nhƣng nhanh chóng lan rộng ra các nƣớc đồng văn nhƣ Nhật Bản,
Cao Ly (Triều Tiên và Hàn Quốc ngày nay) và Việt Nam. Tuy nhiên, cần khẳng
định rằng, tuy là một thể loại ngoại nhập nhƣng để có một sức sống lâu dài, ổn
định trong nền văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại, các sáng tác truyền
kỳ và kỳ án với sức sáng tạo của những tác giả Việt Nam đã dần thoát khỏi “cái
bóng” của những tác phẩm Trung Quốc. Trong bối cảnh hiện đại khi văn học
Việt Nam đi từ nền văn học mang tính khu vực sang nền văn học thế giới, truyền
kỳ và kỳ án cũng đứng trƣớc những thách thức mới. Song bên cạnh việc giữ lại
đƣợc một bộ phận ngƣời đọc vốn có niềm say mê với văn chƣơng cổ, truyền kỳ
và kỳ án đã có những sự thay đổi, hiện đại hóa nhằm đáp ứng đƣợc nhu cầu của
các đối tƣợng độc giả mới.Cũng phải nhấn mạnh rằng, việc thay đổi ngôn ngữ
sáng tác từ chữ hán sang chữ quốc ngữ cũng đánh dấu một bƣớc ngoặt của hai
thể loại văn học này. Bên cạnh việc dịch các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án trung
đại của Trung Quốc, Việt Nam từ chữ hán sang chữ quốc ngữ, có thể thấy các
sáng tác mới của đội ngũ tác giả thế hệ sau ngày càng chiếm đƣợc chỗ đứng
trong lòng ngƣời đọc. Xét từ một lịch sử hình thành, phát triển phức tạp của
truyền kỳ và kỳ án nhƣ vậy, việc tìm hiểu lịch sử sƣu tập – nghiên cứu – tiếp
nhận hai thể loại truyền kỳ và kỳ án là tƣơng đối đồ sộ. Bởi vậy, chúng tôi chỉ
trình bày lịch sử vấn đề này trên những nét lớn.
7
Trƣớc hết, cần phải khẳng định do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan, các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án trung đại của Việt Nam gần nhƣ không
phải một công trình ghi chép (…) có tính chất siêu nhân, hoang đƣờng, có phần
xa lạ với truyền thống „quái, lực, loạn, thần‟ của nhà nho (…) nhƣng về thực chất
thì lại phản ánh đƣợc những phần sâu sắc của hiện thực đƣơng thời” [28, tr.506].
Nguyễn Đăng Na xếp các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án vào loại thể “truyện ngắn”
là tiền đề hình thành các tự sự quy mô lớn nhƣ tiểu thuyết chƣơng hồi lịch sử
trong thời kỳ sau của văn học trung đại. Hạn chế của hƣớng nghiên cứu này là
không quan tâm nhiều tới nghệ thuật sáng tác mà chỉ chú trọng tìm hiểu, phân
tích các “giá trị hiện thực” hay vị trí thể loại trong tiến trình văn học. Dẫu vậy là
những nhà nghiên cứu xuất sắc, nhiều nhà nghiên cứu trong đó tiêu biểu là Bùi
Duy Tân đã nhận ra những nét đẹp khác của các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án đó
là “không bị gò bó trong khuôn khổ cứng nhắc của lễ giáo”[28,tr.518]. Hƣớng
nghiên cứu thứ hai, nghiên cứu truyền kỳ dựa trên các đặc điểm của thi pháp
sáng tác mà đại diện tiêu biểu là Vũ Thanh. Thay vì tập trung nghiên cứu các
“giá trị hiện thực”, trong tiểu luận Dư ba của thể loại truyền kỳ trong văn học
hiện đại và nhiều công trình khác, Vũ Thanh tập trung hƣớng đến việc tìm ra
những đặc trƣng riêng làm nền sự khác biệt của thể loại truyền kỳ và kỳ án (ông
gọi chung đây là dòng truyện kỳ ảo) với các sáng tác văn học cùng thời kỳ. Đi xa
hơn các nhà nghiên cứu trƣớc đó, Vũ Thanh đã khái quát lại lịch sử hình thành và
phát triển của truyện kỳ ảo trong văn học Việt Nam trung đại. Trong đó, ông
nhấn mạnh sự tách biệt của dòng văn học này từ ghi chép, sƣu tầm đơn thuần
thành sáng tác văn chƣơng; từ việc tôn trọng hiện thực, bó buộc vào các tài liệu
lịch sử trở thành các tác phẩm văn chƣơng mang có giá trị nghệ thuật, mang màu
sắc huyền ảo, thơ mộng. Tuy nhiên là một nhà nghiên cứu văn học sử, Vũ Thanh
chƣa quan tâm nhiều tới việc trình bày định nghĩa kỳ ảo cũng nhƣ vai trò của yếu
tố kỳ ảo trong các sáng tác truyền kỳ trung đại.
Có thể thấy, hai hƣớng nghiên cứu này đều có những ƣu điểm và hạn chế
khác nhau và đối tƣợng/ vấn đề nghiên cứu chỉ dừng lại ở các sáng tác văn học
trung đại từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và chƣa có liên hệ với các sáng tác hiện đại.
Nam, dƣới Chế độ Việt Nam Cộng Hòa, các sáng tác này tuy tiếp tục đƣợc một
số nhà sách nhƣ Hƣơng Lan, Ngày Nay, Nguyễn Đình Vƣợng vv xuất bản nhƣng
10
không thu hút đƣợc sự chú ý, quan tâm nhƣ giai đoạn trƣớc. Từ hai thập niên trở
lại đây, nhiều tác giả, tác phẩm văn học trong giai đoạn 1900 – 1945 mới bắt đầu
đƣợc tái bản, nghiên cứu và khẳng định lại vị trí trong sự phát triển của văn học
Việt Nam hiện đại. Những tác giả và tác phẩm mang khuynh hƣớng truyền kỳ và
kỳ án nhƣ Lan Khai, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Phạm Cao Củng vv bắt đầu nhận
đƣợc nhiều sự quan tâm từ giới nghiên cứu, phê bình. Tuy nhiên, những công
trình này mới chỉ dừng lại ở việc khẳng định lại vai trò của các nhà văn này trong
tiến trình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, công bố các sáng tác mới đƣợc tìm thấy,
ảnh hƣởng của văn học phƣơng Tây trong các sáng tác giai đoạn này mà chƣa có sự liên
kết với các thể loại truyền thống của văn học Việt Nam trung đại.
Nhƣ vậy, có thể nhận thấy chƣa có công trình nghiên cứu văn học nào thực
sự dẫn giải về sự tiếp nổi của thể loại truyền kỳ và kỳ án trong Văn học Việt
Nam 1932 – 1945 mà chỉ có các gợi mở, lƣu ý từ các nhà khoa học tiền bối. Bên
cạnh đó, vấn đề văn bản cũng là một thách thức không nhỏ trong quá trình hoàn
thành luận văn của chúng tôi khi quá trình tái bản các tác phẩm văn chƣơng
mang khuynh hƣớng truyền kỳ và kỳ án còn chƣa thực sự chuyên nghiệp, bài bản
so với các công trình sƣu tầm tiểu thuyết, truyện ngắn khác của giai đoạn này.
Tuy nhiên, chúng vẫn là những cứ liệu bổ ích, quan trọng giúp chúng tôi hoàn
thành luận văn này.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hƣớng tới việc khảo sát, tìm hiểu và chứng minh về vai trò và tầm
ảnh hƣởng của thể loại truyền kỳ và kỳ án nói chung; truyền kỳ và kỳ án hiện đại
nói riêng trong dòng chảy văn học Việt Nam từ thời kỳ trung- cận đại đến hiện
cách tùy tiện theo chủ trƣơng từ phía tác giả và nhà sách. Trong khi đó, chúng tôi
thực hiện quá trình khảo sát, phân tích tác phẩm theo tiêu chí đặc trƣng thể loại.
Bởi vậy, không tránh khỏi có sự khác biệt về phân loại tác phẩm giữa luận văn
của chúng tôi với các công trình nghiên cứu, khảo sát trƣớc đó.
Cuối cùng, trong phạm vi của đề tài, đối tƣợng/ vấn đề nghiên cứu của chúng
tôi tập trung vào các sáng tác truyền kỳ và kỳ án làm nên tên tuổi của một số nhà
văn trong thời kỳ này nhƣ: Thế Lữ, Lan Khai, Tchya, Lƣu Trọng Lƣ, Phạm Cao
Củng và Nguyễn Tuân. Đối với các tác giả khác từng thể nghiệm hai thể loại này
12
nhƣ trƣờng hợp của Thanh Tịnh, Nam Cao, Bùi Hiển, Khái Hƣng, chúng tôi sẽ
cố gắng phân tích, đề cập tùy theo tầm ảnh hƣởng của những sáng tác này trong
trƣờng văn học Việt Nam 1900 – 1945, cũng nhƣ giá trị của chúng đối với sự
nghiệp văn học của họ.
3. 3 Phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu trong luận văn của chúng tôi là các sáng tác thuộc thể
loại truyền kỳ và kỳ án. Chính xác hơn, là các sáng tác mang khuynh hƣớng hai
thể loại này trong giai đoạn 1932 – 1945. Bởi vậy, việc tái hiện sự phát triển của
hai thể loại này trong giai đoạn 1932 – 1945 đƣợc xem là “xƣơng sống” của luận
văn. Tuy nhiên, do tính chất giao thời và liên văn bản của hai thể loại văn học
này, chúng tôi có tham khảo, khảo sát những tác phẩm văn học truyền kỳ và kỳ
án trung đại của Việt Nam và Trung Quốc nhƣ những dẫn chứng quan trọng bổ
sung cho các luận điểm của luận văn.
4 Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp loại hình
Phƣơng pháp loại hình là một trong những phƣơng pháp tổng quan, có thể
đƣợc áp dụng cho nhiều bộ môn của ngành nghiên cứu văn học trong đó có lịch
sử văn học. Theo Nguyễn Văn Dân: “Trong thực tiễn nghiên cứu khoa học, có
không phải là hai đối tƣợng/ vấn đề văn học mới mẻ tuy nhiên lại chƣa đƣợc tìm
hiểu, định nghĩa một cách rõ ràng, hoàn chỉnh. Cá biệt trong các công trình Quá
trình hiện đại hóa Văn học Việt Nam, Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Phan Cự Đệ
không công nhận hai loại hình văn học này thay vào đó ông quy giản chúng là
những thể tài, chủ đề sáng tác của một số nhà văn tiền chiến nhƣ Lan Khai, Thế Lữ.
Từ kết quả thực tiễn của các nhà nghiên cứu đi trƣớc và tính phức tạp của hai
đối tƣợng/ vấn đề văn học là truyền kỳ và kỳ án nhất là quá trình chuyển mình
của chúng trong giai đoạn văn học 1932 - 1945, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu
loại hình là phƣơng pháp cần thiết và hiệu quả nhằm nắm bắt hai hiện tƣợng văn
học này một cách cụ thể, bao quát.
- Phương pháp văn hóa học
Văn hóa học mới đƣợc hình thành và phát triển vào đầu thế kỷ XX. Phƣơng
pháp văn hóa học là phƣơng pháp nghiên cứu, khám phá vai trò của văn hóa
trong tác phẩm văn học, vận dụng các quan điểm và thành tựu văn hóa để lý giải
14
văn học. Ở Việt Nam, phƣơng pháp văn hóa học trong lĩnh vực nghiên cứu van
học hiện đại đã có mầm mống xuất hiện từ thập niên 40 của thế kỷ XX với đại
diện tiêu biểu là Trƣơng Tửu với các tác phẩm nhƣ Văn học Việt Nam hiện đại,
Kinh thi Việt Nam. Trong đó công trình Văn học Việt Nam hiện đại của Trƣơng
Tửu có thể xem là một tác phẩm nghiên cứu, phê bình văn học thành công khi áp
dụng phƣơng pháp nghiên cứu văn hóa lịch sử từ H. Taine để phân tích hiện
tƣợng sáng tác truyện truyền kỳ và kỳ án của Thế Lữ, Lan Khai và Lƣu Trọng
Lƣ. Dù cách đặt vấn đề, tiếp cận vấn đề cùng nhiều phân tích của Trƣơng Tửu
còn mang tính khiên cƣỡng, áp đặt hơn là từ những kết quả thu đƣợc qua nội
dung văn bản song có thể nhận thấy, bằng tam giác lịch sử - con ngƣời – tác
phẩm của Taine, Trƣơng Tửu đã nhận ra đƣợc nét đặc sắc của ba tác giả Thế Lữ,
Lan Khai, Lƣu Trọng Lƣ. Ông cho rằng tuy chủ đề tác phẩm của ba nhà văn này
các thể loại văn học cổ trong không gian văn học hiện đại nhƣng mặt khác cũng
phản ánh sự khác biệt trong nhận thức, quan niệm sáng tác của các nhà văn
đƣơng thời. Văn hóa học đƣợc xem là một phƣơng pháp hữu hiệu để đi tìm, chú
giải, phân tích những căn nguyên đó.
- Phương pháp xã hội học
Xã hội học là khoa học nghiên cứu các hiện tƣợng/ vấn đề mang tính chất xã
hội. Chính xác hơn là khoa học nghiên cứu về xã hội con ngƣời và về các sự việc
xã hội [13, tr. 208]. Nằm trong bộ môn xã hội học, xã hội học văn học là một
khoa học phát triển và bắt đầu đạt đƣợc nhiều thành tựu kể từ thập niên 50 của
thế kỷ trƣớc cho đến nay. Trong đó có ba khuynh hƣớng nghiên cứu chính. Một
là khuynh hƣớng coi văn học là một đối tƣợng mang tính chất xã hội. Theo đó, nhà
nghiên cứu từ góc độ xã hội học tiến hành điều tra hiện tƣợng/ vấn đề văn học.
Khuynh hƣớng thứ hai và thứ ba là xã hội học sáng tác và xã hội học tiếp nhận là hai
phƣơng pháp đƣợc các nhà nghiên cứu văn học sử dụng phổ biến hiện nay.
Trong đó, phƣơng pháp xã hội học sáng tác là phƣơng pháp nghiên cứu sự
tác động của xã hội đến sáng tác văn học mà nhà nhà nghiên cứu nổi tiếng đầu
tiên cần phải nhắc đến là L. Goldmann với vấn đề cấu trúc phát sinh trong văn
học. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu văn học Goldman chƣa đề cập đến khâu
tiếp nhận văn học bởi vậy xã hội học văn học của ông chủ yếu vẫn là xã hội học
16
sáng tác hay nói cách khác là ảnh hƣởng của xã hội, cơ sở của xã hội đến việc
sáng tác văn học.
Ngƣợc lại, xã hội học tiếp nhận hay phƣơng pháp mỹ học tiếp nhận là khoa
học nghiên cứu môi quan hệ giữa tam giác tác giả, tác phẩm với độc giả. Với
khoa học này, vai trò của độc giả - đối tƣợng tiếp nhận văn học đƣợc đề cao, nhìn
nhận trong vị trí xứng đáng. Nhà nghiên cứu nổi bật của trƣờng phái này là Hans
Robert Jauss khi ông cho rằng khoa nghiên cứu văn học trƣớc đây mới chỉ quan
- Thao tác mô tả: là một thao tác chúng tôi cho là cần thiết. Nhất là đối với
một số hiện tƣợng văn học ít đƣợc nhắc đến hoặc chƣa đƣợc phân tích, nghiên
cứu, tìm hiểu cụ thể.
- Thao tác thống kê: là thao tác bổ trợ, tăng phần chính xác trong luận văn
của chúng tôi
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam (1900 – 1945) tuy chỉ diễn ra trong
một khoảng thời gian ngắn so với tiến trình hình thành và phát triển văn học
trung đại kéo dài 10 thế kỷ tuy nhiên lại ẩn chứa nhiều vấn đề/ đối tƣợng vô cùng
phức tạp. Không ngoa, khi nhiều nhà nghiên cứu nhận định không gian văn học
Việt Nam (1900 – 1945) nhƣ một “phòng thí nghiệm khổng lồ” (từ dùng của
Phạm Xuân Thạch) với một đội ngũ nhà văn đông đảo, nhiều thể loại văn học
“cũ” và “mới” đồng thời hiện diện, phát triển. Truyền kỳ và kỳ án hiện đại có thể
xem là một mảng, khối trong không gian văn học Việt nam (1900 – 1945), là một
minh chứng cho quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam từ nền tảng nội
tại, trƣớc đó. Bởi vậy, nghiên cứu về truyền kỳ và kỳ án hiện đại không chỉ
tái hiện một mảng văn học chƣa đƣợc nhìn nhận, đánh giá cụ thể mà còn góp
phần khẳng định tầm quan trọng của quá trình hiện đại hóa văn học Việt
Nam nửa đầu thế kỷ XX.
6. Cấu trúc của luận văn
Luận văn đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng
Chương 1 Những vấn đề chung
Trong chƣơng này, chúng tôi tập trung làm rõ các khái niệm truyền kỳ và kỳ
án, sự hình thành và phát triển của truyền kỳ và kỳ án trong văn xuôi trung đại
Việt Nam và trong giai đoạn giao thời 3 thập niên đầu thế kỷ XX.
18
Chương 2 Đặc điểm của thể loại kỳ án trong giai đoạn 1932 – 1945
kịp để lại nhiều tác phẩm truyền kỳ có giá trị cả về nội dụng lẫn nghệ thuật. Đại
bộ phận các tác phẩm truyền kỳ thời Đƣờng còn đƣợc sƣu tầm, lƣu giữ trong bộ
sách Thái bình quảng ký đƣợc biên soạn đầu thời Tống.
Ở Việt Nam, những tác phẩm truyền kỳ đầu tiên đƣợc ghi nhận có niên đại vào
khoảng thế kỷ XV nhƣ Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Lan Trì kiến văn lục,
Truyền kỳ Tân phả, Tang thương ngẫu lục. Nhƣ vậy, sự hình thành và phát triển
truyền kỳ ở Việt Nam diễn ra khá muộn màng so với quê hƣơng của thể loại này. Giải
thích về vấn đề này, Vũ Thanh đƣa ra giả thuyết “truyện kỳ ảo Việt Nam không lập
tức tiếp thu truyền kỳ Đƣờng Tống – giai đoạn đỉnh cao của truyền kỳ Trung Quốc,
mà lại phải đi lại còn đƣờng mòn mà văn học Trung Quốc đã trải qua, bắt đầu tƣ u
linh, chí quái. Rõ ràng ở đây có vấn đề tiếp nhận, nhu cầu tiếp nhận. Cái mới, cái lạ
cần phải có một cơ sở xã hội nhất định, một môi trƣờng văn hóa thuận lợi mới có thể
nảy nở và phát triển. Văn xuôi tự sự Việt Nam mới bắt đầu phát triển, văn học dân
gian bản địa và nền móng văn hóa bản địa vẫn còn đậm nét, tính tự sự của nền văn
xuôi non trẻ này còn chƣa phát triển, trong khi lối tƣ duy ảnh hƣởng của văn hóa dân
gian, đặc biệt của thần thoại, của cổ tích còn rất mạnh, vì vậy việc tiếp thu cũng mới
chỉ dừng lại ở mức độ truyện chí quái vừa mới thoát thai từ thần thoại, truyền thuyết,
dã sử… mà chƣa vƣơn tới cấp độ truyền kỳ, chí dị”. [70, tr. 737].
20
Trong quá trình du nhập các tác phẩm văn học nƣớc ngoài, không thể tránh
khỏi tình trạng sao chép, mô phỏng. Thể loại truyền kỳ cũng không ngoại lệ mà
đại diện tiêu biểu nhất chính là Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Tự). Song
cũng cần nhìn nhận một thực tế rằng bản thân quá trình tiếp nhận, bản địa hóa, sự
khác biệt về lịch đại cùng ý thức sáng tạo của Nguyễn Dữ đã khiến cho tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục do ông chấp bút có những giá trị độc đáo về cả nội dung cùng
nghệ thuật. Cũng cần nhấn mạnh sự sao phỏng các tác phẩm truyền kỳ không
diễn ra thƣờng xuyên, theo trào lƣu mà theo sự ngẫu hứng, cảm xúc của tác giả.
thực cuộc sống nhƣ các tác phẩm thuộc Tang thương ngẫu lục; Công dư tiệp ký.
Về mặt thi pháp, kỹ thuật miêu tả của truyền kỳ tƣơng đối sinh động, tỉ mỉ so
với các thể loại văn chƣơng đƣơng thời. Tuy không tránh khỏi nhiều tác phẩm
còn mang tính chất ghi chép, hơn là sáng tác văn chƣơng nhƣ Tang thương ngẫu
lục, Truyền kỳ tân phả nhƣng những áng văn trong Thánh Tông di thảo, Truyền
kỳ mạn lục thật xứng đáng với danh hiệu “thiên cổ kỳ bút”. Nhìn chung, văn
chƣơng truyền kỳ đƣợc viết theo lối đăng đối, vẫn chứa nhiều các yếu tố ƣớc lệ
thay vì mô tả, sao phỏng hiện thực nhƣ văn chƣơng hiện đại.
Nhìn từ các đặc điểm trên có thể thấy “truyền kỳ” có nhiều điểm tƣơng đồng
với loại thể “truyện ngắn” hiện đại. Tuy nhiên, hai khái niệm này không đồng
nhất nhƣ một số nhận xét của các nhà nghiên cứu văn học sử nhƣ Đinh Gia
Khánh, Bùi Duy Tân, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Đăng Na. Khái niệm truyền kỳ
mang nội hàm hẹp hơn so với loại thể truyện ngắn chỉ các “tiểu thuyết văn ngôn”
có chứa yếu tố “kỳ” nhƣ Doãn Sự Lộ đời Tống nhận định “dùng lời đăng đối để
tả phong cảnh, đời lấy làm lạ”. Mặc dù, nhiều tác phẩm truyền kỳ có chứa đựng
yếu tố hiện thực, hoặc ám chỉ hiện thực tồn tại trong xã hội song chúng vẫn là
những tác phẩm đƣợc viết bằng bút pháp “kỳ” với nhiều yếu tố thần linh, ma
quái, siêu nhiên, hoang đƣờng, có phần xa lạ với truyền thống bất ngữ “quái, lực,
loạn, thần” theo tinh thần Nho giáo nhƣ chính các tác giả viết nên chúng nhận
định “những truyện huyền bí thuộc thuyết nhà Phật, ngƣời quân tử không nên nói
đến” [44, tr.24]; “chƣa rõ thuyết nào đúng, nên xin chép cả hai vào đây” [44,
tr.61]. Các tác giả truyền kỳ đều phủ nhận ý thức sáng tạo của mình nhƣ Bùi Duy
Tân nhận định “ông (tác giả) muốn phân bua với độc giả rằng trƣớc tác của mình
không phải sách có tính chất nghiêm trang nhƣ thực lục, liệt truyện, rằng đây chỉ
22