So sánh kiểu truyện "người lạc
cõi tiên" trong văn học Việt Nam
với tiểu thuyết cứu Vân Mộng
(Hàn Quốc)
1. Trước hết chúng tôi cần giới thuyết kiểu truyện "người lạc cõi tiên" theo
một nghĩa rộng, bao gồm kiểu nhân vật kỳ lạ lạc cõi bồng lai tiên cảnh, cõi trời,
cõi Phật, cõi mơ, chốn đào nguyên, thủy cung, âm ti, địa phủ Chủ đích của
chúng tôi trong việc so sánh kiểu truyện "người lạc cõi tiên" trong văn học Việt
Nam với tiểu thuyết Cửu vân mộng (Hàn Quốc) không nhằm chỉ ra những tương
đồng về mặt thể loại mà cơ bản hướng đến khảo sát tính chất, mức độ, biện pháp
nghệ thuật ở các tác phẩm văn xuôi đoản thiên của Việt Nam so với thiên tiểu
thuyết đã đạt tới độ hoàn chỉnh, bề thế của Hàn Quốc khi cùng thể hiện kiểu
truyện "người lạc cõi tiên"
Trên thực tế, kiểu truyện con người đi vào giấc mơ, sống trong cõi mơ, lạc vào
động tiên đã từng xuất hiện trong các sách cổ Trung Hoa (Liệt tử, Long thành lục, Dị
văn lục, Nam Hoa kinh, Sơn hải kinh, Thập châu ký, Chẩm trung ký ) và trở thành
điển tích như hoàng lương, hoàng lương mộng, giấc lá hươu, giấc mai, hồn mai, giấc
Nam Kha, giấc hòe, giấc Hòe An, kiến cành hòe, hồ điệp, giấc hồ, giấc bướm, hồn
bướm, Vu Sơn, non Vu, nước Nhược, Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai
(1)
Hệ thống điển
tích này đã đi vào kho tàng ngữ liệu và được sử dụng phổ biến trong các tác phẩm
văn học Việt Nam và các nước cùng chịu ảnh hưởng văn hóa Hán.
Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam cũng có nhiều truyện với nội dung
tương tự; hoặc sử dụng một số đoạn, sự kiện, chi tiết, tình tiết với những mức độ đậm
nhạt khác nhau như Miếng trầu kỳ diệu, Tú Uyên, Nợ duyên trong mộng, Cây thuốc
cải tử hoàn sinh hay là sự tích thằng Cuội cung trăng, Sự tích động Từ Thức, Thánh
Gióng, Người dân nghèo và Ngọc Hoàng, Sự tích đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên, Sự
tích sông Nhà Bè hay là truyện Thủ Huồn, Người họ Liêu và Diêm Vương, Sự tích
công chúa Liễu Hạnh, Cường Bạo đại vương, Sự tích bãi Ông Nam, Ả Chức chàng
Ngưu, Người cưới ma
được mô tả họ đang sống ở chính cõi đó như thế nào.
Tác phẩm Lĩnh Nam chích quái liệt truyện do Vũ Quỳnh (1453-1516) kế thừa
và hoàn chỉnh văn bản gồm 22 truyện, chủ yếu là những dã sử, truyện dân gian. Liên
quan đến mẫu hình "người lạc động tiên" có truyện Tiên Dung - Chử Đồng Tử: "Bấy
giờ những dân cư mới tới đều sợ chạy tứ tán, chỉ có dân cũ ở lại cùng Tiên Dung. Khi
quân Hùng Vương đến, đóng doanh trại ở châu Tự Nhiên, còn cách một con sông lớn
thì gặp trời tối, chưa kịp tiến quân. Đến nửa đêm, bỗng nổi gió to, nhổ cây tung cát,
quân Hùng Vương hỗn loạn. Tiên Dung, Chử Đồng Tử cùng quần thần, bộ hạ, thành
quách phút chốc bay lên trời. Chỗ đất cũ sụt xuống thành cái chằm lớn. Ngày hôm
sau dân chúng nhìn không thấy nữa, cho là linh dị, liền lập miếu thờ, thường xuyên
cúng tế" (Truyện Nhất Dạ Trạch); có truyện kể về sự xuất hiện của Long Quân: "Vua
nghe theo, bèn cho dựng đàn tế, thắp hương, kính cẩn cầu xin suốt ba ngày. Cuối
cùng trời nổi mưa to sấm chớp, bỗng thấy một cụ già cao hơn sáu thước, mặt đen,
bụng lớn, râu tóc bạc phơ, ngồi ở ngã ba đường, nói cười múa hát. Những người
trông thấy biết là bậc phi thường liền vào trình báo với vua. Vua thân hành ra vái
chào, đón vào trong đàn ( ). Nói xong, cụ già vút lên trên không mà đi. Bấy giờ mới
biết cụ là Long Quân". Truyện này cũng kết thúc bằng việc Phù Đổng Thiên Vương
sau khi đánh tan giặc Ân đã bay về trời: "Đi đến thôn An Việt, tổng Sóc Sơn, ông cởi
áo, cưỡi ngựa mà lên trời, để lại vết tích ở hòn đá trên núi" (Truyện Đổng Thiên
Vương)
(4)
Tác phẩm Thiền uyển tập anh (Anh tú vườn thiền) hoàn thành vào năm Khai
Hựu Đinh Sửu (1337). Đây là tập sách ghi chép 68 tiểu truyện thiền sư, trong đó có
viết về những cuộc vân du, những giấc mơ gặp thần nhân hoặc tu luyện nơi nhà chùa
mà như đã thoát tục, sống giữa cõi Phật. Chẳng hạn như Đại sư Khuông Việt (933-
1011): "Sư thường đi chơi ở núi Vệ Linh, quận Bình Lỗ, thích nơi đây cảnh trí đẹp,
thanh u, muốn dựng am để ở. Ban đêm sư chiêm bao thấy thần nhân mặc áo giáp
vàng, tay phải đỡ ngọn bảo tháp, theo sau có hơn chục tên quân hầu dáng mạo hung
dữ. Vị thần bảo với sư rằng: "Ta là Tì-sa-môn Thiên vương, quân hầu theo ta đây đều
Tông Thốc khi đi sứ mơ gặp và phê phán mạnh mẽ Hạng Vương (Câu chuyện ở đền
Hạng Vương); Phùng Trọng Quỳ khi nằm ngủ đã mơ gặp và trò chuyện với vợ là Nhị
Khanh đã chết từ lâu (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu); Dương Đức Tạc khi
bất tỉnh thấy mình lạc cõi trời, sau được Thượng đế sai gã trà đồng thác sinh làm con
mình (Chuyện gã trà đồng giáng sinh); một người họ Trịnh được thần Bạch Long
Hầu dẫn xuống Long cung gặp Long Vương và đòi được vợ (Chuyện đối tụng ở Long
cung); chàng Ngô Tử Văn xuống cõi âm gặp Diêm Vương để kể tội viên Bách bộ họ
Thôi (Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên); Từ Thức cáo quan về ở ẩn rồi lạc vào nơi
suối Sậu nguồn Đào, được sống yên bình giữa cõi tiên, đến khi trở về cố hương thì
thời gian đã trôi qua 80 năm (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên); Phạm Tử Hư có lần được
vong hồn thầy Dương Trạm đưa du chơi trên Thiên Tào, biết được quang cảnh và
gặp được nhiều bậc hiền tài thuở trước (Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào);
người họ Hoàng lấy hồn ma nàng Nghi Thị, sau bị bắt xuống cõi âm cho Diêm
Vương tra xét (Chuyện yêu quái ở Xương Giang); người họ Trương đời nhà Hồ gặp
người tiều phu tiên phong đạo cốt trong núi: "Chống gậy trèo lên thì thấy một cái am
nhỏ, hai bên tả hữu trồng mấy cây kim tiền chen lẫn vào những cây bích đào, hồng
hạnh, đều xanh tốt đáng yêu. Trong am đặt một cái giường mây, trên giường để đàn
sáo và chiếc gối dựa" nhưng lần sau vào tìm chỉ thấy "rêu trùm cửa hang, gai góc đầy
núi, dây leo, cành rậm đã lấp mất cả lối đi rồi" (Câu chuyện đối đáp của người tiều
phu núi Nưa); nàng Vũ Thị Thiết thác oan nhưng lại được sống dưới Thủy Tinh cung
và gặp người làng họ Phan cũng bị chết đuối mà xiêu giạt đến (Chuyện người con gái
Nam Xang); Lý Thúc Khoản đời Hậu Trần từng được đưa xuống cõi âm xem xử kiện,
sau trở về dương gian biết thật lòng hối cải (Chuyện Lý tướng quân); người học trò
Mao Tử Biên khi qua huyện Kim Hoa đã lạc vào cõi âm và gặp những thi nhân đời
trước như Ngô Chi Lan, khi tỉnh lại thấy mình nằm bên hai ngôi mộ (Cuộc nói
chuyện thơ ở Kim Hoa); Võ Dĩ Thành thường giao du với ma quỉ, sau làm quan cõi
âm và hiển linh cứu giúp cả nhà bạn Lê Ngộ thoát khỏi dịch bệnh (Chuyện tướng Dạ
xoa)
(6)
Có thể nói Truyền kỳ mạn lục có số lượng nhân vật phong phú, tràn ngập
thanh) của Nguyễn Đăng Tuyển (Thế kỷ XIX) và các bộ tiểu thuyết chương hồi cũng
đều có sử dụng hình ảnh những điềm lạ, những giấc mơ lạ và chuyện người lưu lạc
đến chốn xa lạ, hoang đường. Không thấy có những tác phẩm trường thiên viết riêng
về nhân vật phi thường và những chuyến du ngoạn đến cõi thần tiên kỳ ảo.
3. Tương đồng với kiểu nhân vật "người lạc cõi tiên" trong văn xuôi Việt
Nam thời trung đại song tác phẩm Cửu vân mộng (Giấc mơ chín tầng mây) của nhà
văn Kim - Man - Chung (Kim Vạn Trọng, 1637-1692) lại có qui mô to lớn, đạt đến
sự đa dạng, phong phú cả về số lượng nhân vật, nội dung hiện thực, thời gian và
không gian nghệ thuật. Điều may mắn là tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng Hàn Quốc này
đã vừa được dịch và đến với đông đảo bạn đọc Việt Nam
(7)
.
Với Giấc mơ chín tầng mây, Kim Vạn Trọng dẫn dắt nhân vật Dương Thiếu
Du từ cõi thực đi vào cõi mộng, lạc vào cõi tiên, đầm Bạch Long, hồ Động Đình,
cung Thúy Vi và gặp các bậc vua chúa, đạo sĩ, thiền sư, tiên nữ. Trong cuộc ngao du
khắp chốn Bồng Lai tiên cảnh, nhân vật chính có dịp trải nghiệm và chiêm nghiệm
mọi buồn vui của kiếp con người, thấy rõ mọi sự giàu sang, quan cao lộc hậu cũng
chỉ như đám mây nổi và giấc mơ hư ảo. Cho đến đoạn kết, Dương Thiếu Du trở lại
thành tiểu hòa thượng Tính Chân ở đạo tràng Liên Hoa: "Tính Chân hồi tưởng lại,
ban đầu bị sư phụ khiển trách, theo lực sĩ tới Phong Đô, hoàn sinh trần thế, làm con
trai nhà họ Dương, sớm đỗ Trạng nguyên, làm quan Hàn lâm, thăng chức làm tướng
thống lĩnh ba quân, tổng quản trăm quan, dâng sớ xin lui, từ quan về sống thư nhàn,
cùng hai công chúa sáu nương tử hòa hợp sắt cầm, đàn ca vui múa, chung vui chén
rượu. Tất cả những chuyện sớm tối hành lạc đều chỉ là một giấc mộng xuân mà thôi"
(tr.277) Nhìn chung, thiên truyện in đậm dấu ấn cả ba yếu tố Nho - Phật - Đạo,
trong đó cảm quan Phật giáo trở thành dòng chủ lưu với những suy tưởng về cõi đời
"sinh ký tử qui", giả định đặt mình vào cõi hư để soi nhìn lại kiếp người và ước mơ
về một cuộc sống an lành, bình dị.
Về nội dung, thiên tiểu thuyết trầm tích vốn lịch sử - văn hóa phong phú, vừa
ghi dấu truyền thống Hàn Quốc sâu đậm vừa có ý nghĩa tiếp nhận và bao quát tư
trên, sau Kim Vạn Trọng hơn một thế kỷ, nhà văn Trung Hoa Lý Nhữ Trân (1763-
1830) đã viết Kính hoa duyên (Mối duyên hoa trong gương) dài tới 100 hồi
(10)
cùng
theo một phong cách và hình thức của Cửu vân mộng Nhà nghiên cứu Phạm Tú
Châu nhấn mạnh: "Tác phẩm được đánh giá là kết hợp khéo léo đặc trưng của nhiều
loại tiểu thuyết, từ tiểu thuyết huyễn tưởng, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết châm biếm
đến tiểu thuyết du ký"
(11)
Các học giả Trung Quốc cũng xác định đây là tác phẩm
"xuất sắc nhất" trong nền tiểu thuyết khoảng hai mươi năm đầu thế kỷ XIX (niên hiệu
từ Gia Khánh đến Đạo Quang): "Tác phẩm này thông qua việc miêu tả thế giới hải
ngoại ảo tưởng, vạch trần và châm biếm xã hội hiện thực đen tối bất công, nhằm gửi
gắm lý tưởng xã hội kiểu không tưởng, có nhân tố tư tưởng dân chủ", đồng thời tầm
quan trọng của việc xuất hiện Kính hoa duyên cũng được ghi nhận trong phần Niên
biểu những sự kiện lớn của văn học Trung Quốc
(12)
4. Kết luận
Đặt trong phối cảnh rộng lớn của truyền thống văn hóa phương Đông có thể
nhận thấy mẫu hình nhân vật "người lạc cõi tiên" có nguồn gốc từ kho văn liệu cổ
Trung Hoa và hệ thống văn học dân gian của các nước trong khu vực. Khảo sát riêng
trong nền văn học trung đại sẽ thấy những điểm tương đồng và khác biệt ở kiểu nhân
vật cũng như hình thức thể loại. Việc so sánh của chúng tôi ở đây chỉ nhằm bước đầu
nêu lên tính xu hướng và những tương đồng về kiểu nhân vật "người lạc cõi tiên"
trong các tác phẩm văn xuôi Việt Nam và tiểu thuyết Cửu vân mộng của Hàn Quốc.
Mặc dù có sự khác biệt về qui mô và mức độ nhưng có thể thấy rõ những tương đồng
về sự chi phối của tư tưởng Nho - Phật - Đạo và hình thức các chuyến viễn du đến cõi
tiên, thủy cung, địa ngục và những miền đất lạ khác. Đây cũng chính là những đặc
điểm cơ bản mang tính cộng đồng của một bộ phận văn xuôi Hàn Quốc và