SO SÁNH HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH VIỆT NAM VỚI HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ - Pdf 49

SO SÁNH HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH VIỆT NAM VỚI HỆ THỐNG BÁO
CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Các thuật ngữ:
+ IAS: Chuẩn mực kế toán quốc tế
+ IFRS: Chuẩn mực báo cáo tình hình tài chính quốc tế
+ IASB: Tổ chức tiêu chuẩn kế toán
+ VAS: Chuẩn mực kế toán Việt Nam
+ LIFO: Phương pháp nhập sau xuất trước
+ EPS: Lợi nhuận tính trên 1 cổ phiếu
+ 331: Hoạch toán khoản phải trả cho người bán
NỘI DUNG:








Khái niệm và ý nghĩa của báo cáo tài chính
Vai trò và mục đích của báo cáo tài chính
Thực trạng hiện nay của BCTC VN và quốc tế
So sánh bảng cân đối kế toán
So sánh bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
So sánh bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
VN đang hướng tới chuẩn mực BCTC quốc tế

Báo cáo tài chính được chia thành 4 phần:
1234-

Bảng cân đối kế toán

nhất 30 ngày. Còn các DN khác, thời hạn nộp BCTC năm chậm nhất là 90 ngày.
2. Ý nghĩa của Báo cáo tài chính.
BCTC có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp cũng như đối
với các cơ quan chủ quản và các đối tượng quan tâm. Điều đó được thể hiện ở
những vấn đề sau:
-

BCTC là những báo cáo hết sức tổng quát , phản ánh một cách tổng hợp
nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành tài sản, tình hình
tài chính cũng như kết qủa kinh doanh của DN

-

BCTC cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình
hình và kết quả hoặt động SXKD, thực trạng tài chính của DN trong kì hoạt
động đa qua, giúp cho việc kiểm tra, gíam sát khả năng huy động và sư
dụng nguồn vốn trong quá trình SXKD của DN.

-

BCTC là căn cứ quan trọng trong việc phan tích, nghiên cứu, phát hiện
những khả năng tiềm tàng và là căn cứ quan trọng để đề ra các quyết định
về quản lý, điều hành hoạt động SXKD hoặc đầu tư của chủ sở hữu, nhà
đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của DN.


-

BCTC còn là những căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch kinh tế - ky
thuật tài chính của doanh nghiệp, là những căn cứ khoa học để đề ra hệ

- Với nhà quản lý doanh nghiệp, báo cáo tài chính cung cấp thông tin tổng hợp về tình
hình tài sản, nguồn hình thành tài sản cũng như tình hình và kết quả kinh doanh sau một


kỳ hoạt động, trên cơ sở đó các nhà quản lý sẽ phân tích đánh giá và đề ra được các giải
pháp, quyết định quản lý kịp thời, phù hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp trong
tương lai.
- Với các cơ quan hữu quan của nhà nước như tài chính, ngân hàng kiểm toán, thuế...
BCTC là tài liệu quan trọng trong việc kiểm tra giám sát, hướng dẫn, tư vấn cho doanh
nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ kinh tếtài chính của doanh nghiệp.
- Với các nhà đầu tư, các nhà cho vay báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng về tài
chính, tình hình sư dụng các loại tài sản, nguồn vốn, khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh, mức độ rủi ro... để họ cân nhắc, lựa chọn và đưa ra quyết định
phù hợp.
- Với nhà cung cấp, báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng thanh toán, phương
thức thanh toán, để từ đó họ quyết định bán hàng cho doanh nghiệp nữa hay thôi, hoặc
cần áp dụng phương thức thanh toán như thế nào cho hợp lý.
- Với khách hàng, báo cáo tài chính giúp cho họ có những thông tin về khả năng, năng
lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mức độ uy tín của doanh nghiệp, chính sách đãi ngộ
khách hàng... để họ có quyết định đúng đắn trong việc mua hàng của doanh nghiệp.
- Với cổ đông, công nhân viên, họ quan tâm đến thông tin về khả năng cũng như chính
sách chi trả cổ tức, tiền lương, bảo hiểm xã hội, và các vấn đề khác liên quan đến lợi ích
của họ thể hiện trên báo cáo tài chính.
III. THỰC TRẠNG HIỆN NAY
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng trở nên đa dạng và bức thiết.Hiện
nay thông tin được xem như một yếu tố trực tiếp của quá trình sản xuất kinh doanh.Bất
kỳ một nhà quản lý nào trong bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực gì muốn
thực hiện tốt công việc của mình đều phải dựa vào thông tin kế toán. Báo cáo tài chính là
biểu hiện kết quả của công tác kế toán ở các đơn vị kế toán, là nguồn thông tin quan
trọng, cần thiết cho các quyết định kinh tế của nhiều đối tượng khác nhau bên trong cũng

trên báo cáo kết quả. Các khoản chứng khoán sẵn sàng để bán cũng được điều
chỉnh theo giá trị hợp lý cuối kỳ, nhưng nó được ghi tăng giảm vốn chủ sở hữu
trên bảng cân đối kế toán không ghi vào báo cáo lãi lỗ. Việc nhận cổ tức bằng cổ
phiếu không ghi tăng thu nhập mà chỉ thuần túy ghi bút toán ghi nhớ làm tăng số
lượng cổ phiếu lên, đồng thời giảm đơn giá vốn nhưng tổng giá vốn không đổi.
Các khoản đầu tư bằng trái phiếu được ghi nhận theo giá vốn đã trừ (cộng) khấu
hao chiết khấu (phụ trội). Đầu tư vào công ty liên doanh được hợp nhất theo
phương pháp hợp nhất tương ứng, giải pháp thay thế là theo phương pháp vốn chủ
sở hữu. VAS chỉ đưa ra phương pháp vốn chủ sở hữu. Phương pháp hợp nhất
tương ứng khác với hợp nhất thông thường ở chỗ chỉ phần tài sản, nợ phải trả, thu
nhập và chi phí thuộc sở hữu tập đoàn là được đưa vào trong tài khoản báo cáo.
Nó không có lợi ích thiểu số (minority interests).Việc hợp nhất các báo cáo tài
chính bắt buộc thực hiện cho cả báo cáo năm và báo cáo giữa niên độ.
TSCĐ có thể lựa chọn mô hình giá phí hoặc áp dụng mô hình giá trị hợp lý nếu nó
có thể đo lường một cách đáng tin cậy. Chênh lệch giá trị hợp lý giữa các kỳ được
ghi vào vốn chủ sở hữu.Riêng đối với bất động sản đầu tư, chênh lệch này được
phép ghi vào lãi lỗ trên báo cáo kết quả.Tuy nhiên, khi dùng mô hình giá trị hợp


lý, trong phần thuyết minh, DN vẫn phải thuyết minh giá gốc của nó để nhà đầu tư
có thể tự đánh giá và so sánh. TSCĐ được cho tặng ghi vào thu nhập phần phù hợp
với chi phí để nhận được tiền cho tặng đó (phần khấu hao của kỳ đó chẳng hạn).
Khi tài sản cố định hữu hình hoặc vô hình và tài chính bị giảm giá trị, IAS yêu cầu
ghi nhận ngay vào chi phí. Theo IAS, đất đai thuộc tài sản hữu hình. Các khoản
phải trả thương mại được tách biệt với các khoản phải trả do mua sắm TSCĐ hay
mua tài sản tài chính. Khoản phải trả bao gồm cả các khoản thưởng và chi phí
phúc lợi cho nhân viên. Vốn chủ sở hữu không bao gồm các quy khen thưởng,
phúc lợi (Theo VAS trước ngày 31.12.2009 quy khen thưởng phúc lợi nằm trong
mục lớn Vốn chủ sở hữu, tuy nhiên theo thông tư 244/2009/TT-BTC ngày
31.12.2009 quy định vấn đề này giống như IAS). Các khoản đánh giá lại tài sản

sản cố định được chính phủ cho tặng, theo IAS doanh nghiệp chỉ được ghi nhận
như một khoản thu nhập trong các kỳ liên quan để phù hợp vs các chi phí liên
quan mà chúng được nhận để bù đắp. Theo VAS nó được ghi nhận toàn bộ thu
nhập vào kỳ nhận được tài sản.


-

Theo IAS lãi dùng để tính EPS( lợi nhuận tính trên một cổ phiếu) cơ bản là lãi
thuần thuộc các cổ đông. Nó không bao gồm các khoản lãi, nhưng được dùng để
chia cho nhân viên hay đối tượng khác như quy khen thưởng, phúc lợi. VAS không
trừ các quy này nên rất nhiều tình huống EPS tính theo VAS cao hơn. Trường hợp
chia cổ tức bằng cổ phiếu, khác với IAS, VAS chưa quy định việc điều chỉnh hồi
tố EPS. Trong trường hợp đó việc phân tích xu hướng EPS qua các năm theo số
liệu EPS gốc sẽ bị sai lệch rất nghiêm trọng.

-

Theo IAS 27 các báo cáo tài chính hợp nhất phải được lập cho các báo cáo tài
chính năm và các báo cáo tài chính tạm thời giữ niên độ. Tuy nhiên theo VAS việc
lập báo cáo năm, các báo cáo giữa niên độ chỉ mang tính khuyến khích. Báo cáo
hợp nhất với các công ty liên doanh, theo IAS các doanh nghiệp nên sư dụng
phương pháp hợp nhất tương ứng tuy nhiên có thể sư dụng phương pháp vốn chủ
sở hữu.

VI. So sánh lưu chuyển tiền tệ
VAS và thông tư hướng dẫn cách lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là lấy từ sổ quy tiền mặt
và sổ cái tiền gưi ngân hàng tương ứng với các tài khoản đối ứng. Theo thông lệ quốc tế,
việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT) chỉ căn cứ thuần túy các số liệu trên bảng cân
đối kế toán số đầu kỳ và cuối kỳ, báo cáo kết quả (và có thể có thêm một vài thông tin từ

(BCTC) giúp nâng cao tính công khai, minh bạch trong BCTC của doanh nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp niêm yết. Đồng thời còn đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong việc
thu hút các nguồn vốn nước ngoài.
Tuy nhiên, viễn cảnh hội tụ kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn là cả một quá
trình đầy thư thách bởi thực trạng việc vận dụng chuẩn mực của các quốc gia và từng khu
vực theo những phương pháp tiếp cận khác nhau. Mặc dù viễn cảnh hội tụ kế toán quốc
tế còn nhiều cản trở phải hướng tới để đạt được mục tiêu chung nhưng phải thừa nhận
rằng hội tụ kế toán quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển. Trước
tình hình đó, một quốc gia đang phát triển như Việt Nam không thể đứng ngoài dòng
chảy của xu hướng này.Song, Việt Nam cần phải nhận định đúng đắn tình hình để có
những lộ trình thích hợp, đáp ứng phát triển kinh tế.
Cơ hội:
 Báo cáo tài chính dựa trên IFRS của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ cung cấp
thông tin nhất quán, chất lượng và có tính so sánh cho các nhà đầu tư nước ngoài
đầu tư vào Việt Nam.
 Việc áp dụng IFRS cũng sẽ cho thấy khung pháp lý về doanh nghiệp của Việt Nam
đạt các tiêu chuẩn quốc tế cao nhất trên các diễn đàn kinh tế toàn cầu.
 Thông qua áp dụng IFRS, các công ty ở Việt Nam sẽ có thể được hưởng lợi từ hội
nhập kinh tế ví dụ như tiếp cận nguồn vốn, duy trì năng lực cạnh tranh và phát
triển một cách bền vững. Điều này củng cố sự ổn định của nền kinh tế Việt
Nam. Sự hội nhập về kế toán giúp cho các công ty huy động vốn trên thi trường
quốc tế


 Tiết kiệm chi phí soạn thảo chuẩn mực và nhanh chóng hòa nhập vào chuẩn mực
kế toán quốc tế được chấp nhận.

MỤC ĐÍCH
BẢN BCTC VN ĐANG HƯỚNG TỚI CHUẨN QUỐC TẾ NHẰM:
1.Thu

 1. Phương pháp kế toán theo IAS/IFRS quá phức tạp.
 2. Chi phí áp dụng phương pháp kế toán theo IAS/IFRS (chi phí thu thập thông
tin, định giá tài sản, vận hành hệ thống đánh giá,…) có thể lớn hơn lợi ích mang
lại.
 3.Nguồn nhân lực chưa đủ trình độ để hiểu và vận dụng những quy định phức tạp
của IAS/IFRS. Do đó phải xây dựng một đội ngũ nhân viên tài chính kế toán có
năng lực. Đây không phải là một công việc dễ dàng vì IFRS được xem là rất phức
tạp, ngay cả ở những nền kinh tế phát triển.
 4. Áp dụng IAS/IFRS, sự không chắc chắn là rất cao bởi vì báo cáo tài chính theo
IAS/IFRS sư dụng nhiều ước tính kế toán ví dụ như giá trị hợp lý. VAS với các
ước tính kế toán ít hơn và thận trọng hơn làm hạn chế những yếu tố không chắc
chắn.
 5.Bên cạnh đó, khoảng cách ngôn ngữ giữa Tiếng Anh và tiếng Việt là rất lớn.
IAS/IFRS sư dụng tiếng Anh và có nhiều thuật ngữ kế toán phức tạp vì vậy dễ gây
ra những hiểu lầm và sai lệch khi dịch sang ngôn ngữ khác. Trong khi ở Việt Nam,
ngôn ngữ chính thức và phổ biến là tiếng Việt, nhìn chung hoàn toàn khác biệt với
tiếng Anh. Có nhiều thuật ngữ tiếng Anh không có từ tiếng Việt tương đương đặc


biệt là trong lĩnh vực kế toán. Thêm vào đó, đa số người Việt Nam không giỏi
tiếng Anh. Sự khác nhau về ngôn ngữ là quan trọng những không phải là yếu tố cơ
bản ảnh hưởng đến việc không áp dụng toàn bộ IAS/IFRS tại Việt Nam.
 Phần lớn những người sư dụng và lập báo cáo kế toán tại Việt Nam chưa thấy
được nhu cầu sư dụng IAS/IFRS và không đánh giá cao vai trò quan trọng của các
chuẩn mực này.
 Hệ thống đào tạo nghề nghiệp của Việt Nam có chất lượng chưa cao. Đa phần họ
chưa được đào tạo bài bản về các kiến thức liên quan tới chuẩn mực kế toán quốc
tế. Trong các trường đại học, các môn học chuyên sâu về IFRS mới chỉ được hình
thành trong vài năm gần đây. Khi đi làm, các nhân viên này phần lớn không có cơ
hội tiếp xúc với môi trường kế toán đòi hỏi phải áp dụng chuẩn mực kế toán quốc

với yêu cầu của IAS/IFRS. Thiết lập thị trường tài chính, các nguyên tắc, cơ sở hạ tầng
về pháp lý ổn định và mang tính quốc tế.Phục vụ cho sự phát triển của các công ty, nhằm
cùng cấp thông tin đầy đủ, hữu ích và công bố cho công chúng không chỉ đến đối tượng
trong nước mà còn cả nước ngoài.
Đặc biệt, Việt Nam phải chú trọng vào việc đào tạo nhân viên kế toán có chất lượng
cao, ngay từ trong trường đại học, cao đẳng, cung cấp các kiến thức sâu, rộng về chuẩn
mực kế toán quốc tế. Từ đó, giúp nhân viên kế toán có thể đáp ứng được nhu cầu của nền
kinh tế hội nhập.
Những đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa, ưu thế về lợi ích mang lại của việc sư dụng
IAS/IFRS, cùng với nỗ lực của IASB, đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hòa hợp và hội
nhập với các chuẩn mực BCTC quốc tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng
không thể nằm ngoài dòng chảy hội nhập này.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status