CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH
CÁC SẢN PHẨM XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA TÂY NGUYÊN
1.1 Cơ sở lý luận về lợi thế cạnh tranh các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Tây
Nguyên
1.1.1 Khái niệm lợi thế cạnh tranh
* Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh của một quốc gia, một ngành kinh tế, hay một sản phẩm là một vấn đề
quan tâm hàng đầu của Chính phủ và các doanh nghiệp khi bước vào tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế. Cạnh tranh là động lực, là một trong những nguyên tắc cơ bản, tồn tại
khách quan và không thể thiếu được của sản xuất hàng hóa. Nói cách khác cạnh tranh là sự
ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh nhằm
giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để
thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận
lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh.
* Khái niệm lợi thế cạnh tranh
Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia
đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái
niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp, sản phẩm), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia).
Lợi thế cạnh tranh được hiểu là những ưu thế vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh
nhờ sở hữu các nguồn lực, các điều kiện thuận lợi hơn, ưu việt hơn trong hoạt động kinh tế.
Lợi thế cạnh tranh giúp cho nhiều doanh nghiệp có được “quyền lực thị trường” để thành
công trong kinh doanh và trong cạnh tranh. M. Porter lập luận rằng, lợi thế cạnh tranh phát
sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp (sản phẩm) có thể tạo ra cho người mua, giá trị này
phải lớn hơn chi phí của doanh nghiệp đã bỏ ra.
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá về sản phẩm chủ lực
* Nhóm tiêu chí định lượng:
- Tỷ trọng của sản phẩm so với toàn
vùng
- Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm
trong vùng.
- Hệ số vượt trội của sản phẩm
điều là các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Tây Nguyên
1.1.4. Ý nghĩa của việc nâng cao lợi thế cạnh tranh các sản phẩm xuất khẩu chủ lực
của Tây Nguyên
Tạo lập và nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngành cà phê, cao su, điều Việt Nam nói
chung và của Tây Nguyên nói riêng là một việc làm có tính tất yếu khách quan trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần nâng cao giá trị thặng dư cho ngành cà phê, cao su,
điều. đồng thời khẳng định uy tín của quốc gia trên thị trường thế giới.
Ý nghĩa của việc nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê, cao su, điều của Tây
Nguyên được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Một là, để sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao, đòi hỏi người sản xuất
kinh doanh phải thường xuyên nhạy bén, năng động trong cải tiến kỹ thuật, áp dụng quy
trình sản xuất an toàn, tổ chức quản lý có hiệu quả, hướng đến sản xuất hiệu quả cao và
bền vững.
Hai là, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị
trường, góp phần tạo giá trị gia tăng lớn, từ đó tăng lợi nhuận cho tất cả các đối tượng tham
gia bao gồm người trồng, chế biến, kinh doanh và xuất khẩu cà phê, cao su, điều.
2
Ba là, nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê, cao su, điều Tây Nguyên đồng
nghĩa với việc tạo lập và nâng cao uy tín của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Bốn là, nâng cao lợi thế cạnh tranh các sản phẩm là cơ sở để Việt Nam có thể xây
dựng và khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế.
1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu chủ lực của
Tây Nguyên
1.1.5.1. Điều kiện tự nhiên của sản xuất
Điều kiện tự nhiên đối với sản xuất cà phê, cao su, điều được coi là nguồn tài sản vật
chất, là nguồn lực ban đầu của lợi thế cạnh tranh. Sự dồi dào, chất lượng, khả năng tiếp cận
và chi phí khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên đất đai, nước và khí hậu có tác động đáng
kể đến hiệu quả (năng suất, giá thành, lợi nhuận) và chất lượng cà phê, cao su, điều.
khích các nhà sản xuất cà phê trong nước tích cực cải tiến, nâng cao chất lượng và hiệu quả
để đáp ứng nhu cầu. Ngành sản xuất cà phê của quốc gia có cầu tiêu dùng trong nước cao
và khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng nội địa tốt sẽ tạo dựng lợi thế cạnh tranh tốt hơn
với các đối thủ quốc tế. Chính vì vậy, việc đẩy mạnh tiêu thụ trong nước là một hướng phát
triển đúng đắn để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành xuất khẩu cà phê, cao su, điều.
1.1.5.4. Các ngành hỗ trợ và đầu tư công
Các lĩnh vực hỗ trợ cho ngành cà phê bao gồm các ngành sản xuất và cung ứng các
yếu tố đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiên liệu, máy móc... Tạo lập được
các ngành phụ trợ trong nước có khả năng cạnh tranh cao sẽ đem lại lợi thế lớn hơn nhiều
so với sự phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài, đồng thời giúp hạn chế những rủi ro
trong sản xuất. Các lĩnh vực đầu tư công như xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng (như hệ
thống giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống thủy lợi, kho tàng bến bãi...), phát triển hệ
thống tín dụng, khuyến nông, khoa học công nghệ, hỗ trợ thông tin thị trường và các hỗ trợ
khác của Chính phủ giúp các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh cà phê nâng cao năng lực
hoạt động, từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh.
1.1.5.5. Chính sách của Chính phủ
Chính phủ đóng vai trò quan trọng đối với việc tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh
sản phẩm cà phê nhân. Vai trò của Chính phủ được thể hiện ở việc tác động tới tất cả các
yếu tố trên. Chính sách của Chính phủ tác động theo hướng kích cầu và cải thiện chất
lượng cầu trong nước cũng có vai trò lớn đối với lợi thế cạnh tranh của ngành. Tác động
của Chính phủ đến các ngành sản xuất phụ trợ lại đóng vai trò không thể thiếu đối với quá
trình nâng cấp lợi thế cạnh tranh của ngành. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sản
xuất và xuất khẩu cà phê, cao su, điều của Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng
chịu tác động lớn từ thị trường thế giới về cả đầu vào và đầu ra cho sản xuất thì chính sách
4
của Chính phủ đóng vai trò quan trọng, giúp nâng cao năng lực sản xuất và năng lực tham
gia chuỗi giá trị toàn cầu cho các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh cà phê nhân, tạo nền
tảng để nâng cao lợi thế cạnh tranh. Bên cạnh đó, chính sách còn có tác động thúc đẩy
chế biến ướt và chế biến nửa ướt. Trong thời gian qua, Brazil đã đầu tư đáng kể thời gian
và tài chính để phát triển hệ thống sấy khô mới có khả năng ngăn chặn quá trình lên men.
Nhờ đó, chất lượng sản phẩm cà phê tiêu thụ của quốc gia này luôn bảo đảm chất lượng và
có uy tín trên thị trường thế giới.
* Đầu tư thích đáng cho công tác nghiên cứu, tăng cường khả năng công nghệ để
nâng cao khả năng cạnh tranh: Brazil là quốc gia tiên phong trong đổi mới về sản xuất và
tiếp cận công nghệ cao, với một hệ thống nghiên cứu khoa học rất tốt. Nhờ công nghệ sẵn
có, Brazil có khả năng tăng sản lượng cà phê Arabica lên 20 – 40 bao/ha và Robusta lên 30
- 60 bao/ha để tăng khả năng cạnh tranh. Sản phẩm cà phê của Brazil rất có uy tín trên thị
trường thế giới nhờ chất lượng cao.
* Coi trọng thị trường tiêu dùng nội địa: Không chỉ là quốc gia có sản lượng cà phê
xuất khẩu lớn nhất thế giới, Brazil còn là nước có sản lượng tiêu thụ cà phê lớn thứ 2 thế
giới chỉ sau Mỹ. Hàng năm có gần 50% sản lượng cà phê sản xuất ra của Brazil được tiêu
thụ trong nước. Điều này đã giúp cho nhà sản xuất cà phê hàng đầu thế giới xây dựng
thương hiệu tốt và tạo lập lợi thế cạnh tranh mạnh từ thị trường nội địa, tạo cơ sở vững
chắc để cạnh tranh ở thị trường nước ngoài. Bên cạnh đó còn giúp cho ngành cà phê trong
nước giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường bất ổn trên thế giới.
* Giám sát nguồn cung hiệu quả: Brazil là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới
với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tương đối ổn định. Thành tựu này đạt được một
phần là nhờ nước này có hệ thống giám sát nguồn cung cà phê hiệu quả. Việc giám sát
được nguồn cung là vô cùng quan trọng giúp đưa ra những thông tin và dự báo thị trường
chính xác, phục vụ các quyết định chính sách, sản xuất và đầu tư. Các thông tin này được
công bố qua Hội thảo triển vọng thị trường được tổ chức hàng năm tại Brazil.
* Tổ chức quản lý tốt ngành hàng: Hệ thống tổ chức này hoạt động một cách chuyên
nghiệp và mang lại lợi ích cho các nhóm tham gia trong ngành.
1.2.2. Những bài học kinh nghiệm về nâng cao lợi thế cạnh tranh các sản phẩm xuất
khẩu chủ lực của Tây Nguyên
Ngành xuất khẩu cà phê, cao su, điều Tây Nguyên đang đối mặt với những thách
thức, làm hạn chế lợi thế cạnh trên thị trường thế giới, đó là: Chi phí sản xuất cao do hiệu
- Điều kiện khí hậu mang đặc điểm của khí hậu cao nguyên mát mẻ, phù hợp với
nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cà phê, điều, cao su với chất lượng tự nhiên tốt.
- Nền văn hóa đa dạng, kết hợp với những tiềm năng lớn về du lịch, tạo cơ hội để
phát triển ngành hang xuất khuaur chủ lực bền vững theo hướng gắn kết với du lịch và văn
hóa để nâng cao giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh.
7
2.1.2 Khó khăn
- Chênh lệch về trình độ và mức sống giữa các vùng lớn. Trình độ dân trí ở vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thấp; thiếu đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và
cán bộ quản lý; trình độ chuyên môn kỹ thuật và trình độ quản lý chưa đáp ứng được yêu
cầu phát triển nhanh của nền kinh tế. Điều này đã gây ra những cản trở lớn trong việc tiếp
cận với tiến bộ kỹ thuật mới và phương thức kinh doanh hiện đại.
- Cơ sở hạ tầng nông thôn bao gồm cả hạ tầng giao thông, thủy lợi và thông tin liên
lạc thấp kém. Mùa mưa, tình trạng lũ lụt xảy ra làm cho khu vực vùng sâu, vùng xa thường
xuyên bị cô lập. Mùa khô kéo dài kèm theo hạn hán, thiếu nước tưới, nhiều vùng sản xuất
nông nghiệp phải phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời (chỉ canh tác vào mùa mưa). Yếu kém
về cơ sở hạ tầng là yếu tố cản trở lớn không chỉ đối với phát triển kinh tế mà còn khó khăn
hơn đối với phát triển xã hội ở khu vực nông thôn.
2.1.3 Khái quát tình hình xuất khẩu các sản phẩm chủ lực cảu tây nguyên
Năm 2018, xuất khẩu cao su tăng 13,3% về lượng, nhưng giảm 7% về trị giá so với
năm 2017.
Xuất khẩu cà phê năm 2018 tăng 19,9% về lượng và tăng 1,1% về trị giá so với năm
2017.
Tháng 12/2018, giá xuất khẩu bình quân hạt điều tăng nhẹ so với tháng 11/2018,
nhưng vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2017.
2.1.4 Đặc điểm các tổ chức kinh tế
* Người cung cấp đầu vào: Bao gồm các đại lý và cửa hàng kinh doanh phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật, nhiên liệu,... Các nhà cung cấp đầu vào đóng vai trò quan trọng đối
điều kiện yếu tố sản xuất); Những yếu tố này tác động nhiều chiều đến lợi thế cạnh tranh
sản phẩm. Phương pháp tiếp cận ngành hàng giúp nhìn nhận rõ vai trò của mỗi tác nhân
tham gia trong chuỗi hàng, và xác định biện pháp tác động phù hợp nhằm năng cao lợi thế
cạnh tranh sản phẩm của các đơn vị sản xuất - kinh doanh
2.2.1.2. Tiếp cận 2 khu vực kinh tế (khu vực kinh tế tư nhân và Chính phủ)
Lợi thế cạnh tranh của các tổ chức kinh tế được tạo ra trước hết bởi sức mạnh bên
trong của từng tổ chức kinh tế, nhưng đó không phải là yếu tố duy nhất mà một phần quan
trọng nó còn chịu tác động của Chính phủ qua Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng (như giao
thông, thủy lợi, kho tàng bến bãi…); Hình thành và phát triển hệ thống khuyến nông, phát
triển khoa học công nghệ… và Hỗ trợ qua chính sách khuyến công, tín dụng cùng các
chính sách khác của Chính phủ. Nhờ những tác động đó, trong từng hoàn cảnh cụ thể, các
tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh có được cơ hội thụ hưởng lợi ích làm tăng thêm lợi thế
9
cạnh tranh như việc tiết kiệm chi phí vận chuyển, tăng năng suất sản phẩm và năng suất lao
động, hạ giá thành sản phẩm… hoặc được hỗ trợ tăng thêm nguồn lực (đặc biệt là vốn)
trong những trường hợp cần thiết.
2.2.1.3 Tiếp cận sinh thái nhân văn
Lợi thế cạnh tranh trong sản xuất sản phẩm cà phê, điều. cao su phụ thuộc rất lớn
vào năng suất, kết quả và hiệu quả sản xuất. Và đến lượt mình, các kết quả đó lại chịu ảnh
hưởng rất lớn của các điều kiện sinh thái như đất đai, khí hậu. Ngay như Tây Nguyên được
mệnh danh là “Thủ phủ” cà phê của cả nước nhưng cũng chỉ có một số diện tích thích hợp
cho phát triển cà phê, tức là không phải bất cứ diện tích nào cũng có thể phát triển cà phê.
Mặt khác kiến thức bản địa về kỹ thuật trồng, chăm sóc, chống hạn, phòng trừ sâu bệnh,
thu hái, sơ chế… cà phê, cao su, điều đối với người dân Tây Nguyên khá nổi trội so với nơi
khác. Từ đó có sự khác biệt về kết quả và chất lượng sản xuất sản phẩm do tính lành nghề
của lao động giàu kiến thức bản địa tạo ra.
2.2.2 Khung phân tích lợi thế cạnh tranh
Các ngành hỗ trợ và
đầu tư công
- Cung cấp đầu vào
- Khuyến nông
- Tín dụng
- PT CSHT…
Thị phần
-Trong nước
-Nước
ngoài
Đáp ứng cầu
- Kênh tiêu thụ
- Thương hiệu
- Chủng loại
- Mẫu mã…
Điều kiện
tự nhiên
Tổ chức quản lý ngành hàng
- Liên kết SX, CB, tiêu thụ
-Cung cấp thông tin thị
trường, luật, chính sách…
- Đất đai
- Khí hậu
Tổng hợp những thông tin, số liệu đã tìm hiểu được, sau đó chọn những thông tin rõ
rang, đầy đủ, có sự tin cậy cao.
2.3.3. Phương pháp phân tích
- Phân tích hiện trạng sản xuất, chế biến, chất lượng sản phẩm, công nghệ và tiêu thụ cà phê ở
các nông hộ, các hộ tiểu thương và doanh nghiệp.
- Phân tích ngành hàng: ngành hàng là tập hợp các tác nhân kinh tế đóng góp trực tiếp vào việc
tạo ra các sản phẩm cuối cùng.
- Phân tích SWOT: phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc nâng cao
lợi thế cạnh tranh.
2.3.4. Phương pháp phân tích tác động của chính sách đối với sản xuất cà phê
Đo lường ảnh hưởng của các chính sách của Chính phủ tới lợi ích của người sản xuất cà
phê.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC SẢN PHẨM XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA TÂY
NGUYÊN
3.1. Thực trạng lợi thế cạnh tranh các sản phẩm chủ lực của Tây Nguyên
3.1.1 Hiệu quả sản xuất
12
a, Cách thức sản xuất
Với hơn 2 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có hơn 850 nghìn ha đất trồng cây
hằng năm, và hơn 1,15 triệu ha đất trồng cây lâu năm, hiện toàn vùng Tây Nguyên có hơn 582
nghìn ha cà-phê, hồ tiêu với tổng diện tích hơn 71 nghìn ha, cao-su gần 252 nghìn ha, điều 74
nghìn ha…
Nhờ lợi thế về đất đai, cộng với thực hiện tốt biện pháp thâm canh, nhất là áp dụng tiến
bộ kỹ thuật vào trồng, chăm sóc, bón phân, tưới nước cho cây trồng, Nhiều nhà vườn đã trồng
các loại cây che bóng, chắn gió trong vườn cà phê để tiết kiệm nước tưới,; quy trình thực hành
nông nghiệp tốt (VietGAP) trên cây cà phê cũng được triển khai; hàng chục nghìn nông hộ
tham gia sản xuất các sản phẩm nông sản bền vững để gia tăng giá trị của sản xuất. Nhờ vậy,
năng suất cà phê ngày càng tăng, bình quân đạt từ 2.350 đến 2.500 kg cà phê nhân/ha, sản
nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao như tưới nước tiết kiệm cho cà phê, tiêu, cây ăn trái;
trồng rau, củ, quả trong nhà lưới theo tiêu chuẩn VietGAP. Tuy nhiên, quy mô và mức đầu tư
cho nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn Đắk Lắk còn rất hạn chế nên chưa tạo được những
sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao.
c, Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực chủ yếu trong ngành sản xuất các sản phẩm nông sản xuất khẩu chủ yếu
vẫn là người dân trong địa bàn Tây Nguyên
-
Điểm mạnh: Nguồn lao động dồi dào, những người trong độ tuổi lao động đông.
-
Điểm yếu: Trình độ học vấn trong lực lượng lao động còn ở mức thấp so với chỉ số chung của
cả nước; lao động chưa qua đào tạo vẫn còn nhiều; nhận thức, kỹ năng, khả năng thích ứng với
môi trường mới, tác phong, kỹ luật lao động… còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu.
d, Chi phí cho hoạt động sản xuất
Chi phí cho hoạt động sản xuất từ khâu mua giống, phân bón, tưới tiêu đến hoạt động
chế biến, bảo quản hằng năm mà Tây Nguyên bỏ ra đầu tư cho các sản phẩm xuất khẩu như cà
phê, cao su, điều,… là rất lớn. Tuy nhiên vẫn thấp hơn các nước xuất khẩu khác trong khu vực
và trên thế giới.
14
Gần đây do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chế biến nên tiết kiệm
được rất nhiều chi phí cho hoạt động sản xuất. Cũng nhờ đó mà hiệu quả sản xuất cao nên Tây
Nguyên trở thành vùng thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài.
3.1.2. Chất lượng sản phẩm
21,9% năm 2017, khiến Việt Nam "nhường" vị trí số 1 cho Brazil trở thành nhà cung cấp cà
phê lớn thứ 2 cho Hàn Quốc. Hiện nay, giá cà phê đang giảm mạnh làm cho các nhà vườn
không chịu bán ra, dẫn đến lượng sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam nói chung và Tây Nguyên
nói riêng đang giảm mạnh.
b, Cao su
Sau Đông Nam bộ, Tây Nguyên là vùng trồng cao su lớn thứ 2 Việt Nam. Trên thị
trường thế giới, Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu cao su thiên nhiên đứng thứ ba trên
thế giới, chỉ sau Thái Lan, Indonesia; vượt qua Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc. Trung Quốc, Ấn
Độ và Malaysia là ba thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm
2018, chiếm thị phần lần lượt 62,8%, 6,4% và 4,3%. Tuy nhiên thì hiện nay, giá cao su đang có
xu hướng giảm do năng suất và chất lượng cao su thấp nên thị phần xuất khẩu cao su của Việt
Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng có xu hướng giảm trên thị trường thế giới.
c, Điều
Sáng 11-1, Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động sản
xuất kinh doanh điều năm 2018. Theo đó, ngành điều Việt Nam vẫn tiếp tục là giữ vị trí số 1
thế giới về chế biến và xuất khẩu nhân điều, chiếm thị phần trên 60% tổng giá trị xuất khẩu
nhân điều toàn cầu (khoảng 5,7 tỷ USD), xếp trên Ấn Độ và Brasil. Sản lượng chế biến đạt
1,65 triệu tấn hạt điều thô; xuất khẩu 391.000 tấn nhân điều, đạt kim ngạch xuất khẩu 3,52 tỷ
USD, tăng 7,8% về lượng so với năm 2017. Dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh điều năm
2019 sẽ tiếp tục duy trì mục tiêu “giảm lượng và tăng chất”, với tiêu chí xuất khẩu 350.000 tấn
điều nhân.
3.1.4 Khả năng đáp ứng cầu
16
Bên cạnh hiệu quả, chất lượng và thị phần, nội dung cuối cùng nghiên cứu lợi thế cạnh
tranh sản phẩm cà phê nhân đó là khả năng đáp ứng cầu. Để xây dựng hình ảnh và phát triển
lợi thế cạnh tranh, điều quan trọng nhất là phải chiếm lĩnh trái tim người tiêu dùng. Đáp ứng
tốt yêu cầu khách hàng chính là con đường ngắn nhất để chiếm lĩnh được trái tim người tiêu
dùng. Mức độ và khả năng đáp ứng cầu thể hiện thông qua mạng lưới tiêu thụ, sức mạnh
nó.
Trên thực tế, nhiều sản phẩm nông sản mang tầm quốc tế của Việt Nam tham gia vào
chuỗi giá trị toàn cầu nhưng vẫn ở dạng nguyên liệu đầu vào nên giá trị mang lại rất thấp. Điển
17
hình là sản lượng hồ tiêu và cà phê của ta thuộc top đầu của thế giới nhưng đến nay vẫn ì ạch
chạy theo thị trường, thường xuyên bị đối tác ép cấp, ép giá… Trong khi các đối tác nước
ngoài chỉ giữ vai trò trung gian thu mua nông sản Việt Nam sau đó chế biến sâu đã gia tăng giá
trị lên gấp 2 – 3 lần so với giá trị nguyên liệu nhập khẩu từ Việt Nam. Một số lô hàng cà phê
của doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài có chỉ dẫn địa lý, mang thương hiệu Cà
phê Buôn Ma Thuột nhưng nó chỉ đến được nhà rang xay mà thôi. Còn trên các sản phẩm của
các nhà rang xay thế giới không có thông tin về nguồn gốc cũng như thương hiệu cà phê Việt
Nam, và đương nhiên người tiêu dùng cũng không biết họ đang sử dụng cà phê có nguồn gốc
từ Việt Nam. Không những thế, việc xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô nên việc xây dựng
nhãn hiệu hàng hóa không được các doanh nghiệp chú trọng và đã xảy ra nhiều vụ tranh chấp
không đáng có, điển hình như nhãn hiệu Cà phê Buôn Ma Thuột trong suốt một thời gian dài
chúng ta “quên” xây dựng để nâng tầm thương hiệu để dẫn đến tranh chấp với một doanh
nghiệp Trung Quốc và phải mất công sức, tiền bạc để mua lại thương hiệu của chính mình từ
một nước chẳng có tiếng tăm gì về sản phẩm cà phê
c, Phương thức đóng gói, vận chuyện và bốc xếp
-
Mẫu mã bao bì thiếu sự hấp dẫn và chậm cải tiến
-
Vận chuyển: Đa phần là vận chuyển đường biển theo điều kiện FOB, có ít đơn hàng vận
chuyển theo điều kiện CIF
lệ này tương ứng là 74 - 75%. Lợi thế này đã giúp Đắk Lắk hình thành và phát triển vùng cà
phê tập trung, chuyên canh lớn nhất ở Việt Nam. Chất lượng đất sản xuất cà phê có vai trò
quan trọng, quyết định năng suất và hiệu quả sản xuất cà phê. Cà phê được trồng trên loại đất
thích nghi và rất thích nghi cho năng suất cao gấp 1,3 đến 1,6 lần so với loại đất ít thích nghi,
trong khi đó giá thành chỉ bằng 73 đến 88%. Theo kết quả phân loại đất của Viện Quy hoạch và
Thiết kế Nông nghiệp (phân loại đất trồng cà phê theo mức độ thích nghi, dựa vào 4 yếu tố loại
phát sinh đất, độ dốc, độ cao và độ dày tầng đất), Đắk Lắk là tỉnh có tỷ lệ diện tích đất rất thích
nghi và thích nghi cho sản xuất cà phê cao nhất ở Vùng Tây Nguyên, trong đó diện tích đất rất
thích nghi chiếm 60% tổng diện tích của cả vùng Tây Nguyên.
Như vậy, nhờ sở hữu nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ, chất lượng tốt nên Đắk Lắk trở
thành vùng phát triển cà phê hiệu quả nhất ở Việt Nam, tạo nền tảng để nâng cao lợi thế cạnh
tranh trên thị trường quốc tế.
19
Cao su:
Vườn trồng cao su có khả năng trồng xen với các cây trồng khác hoặc cây rừng và kết
hợp chăn nuôi, giúp tăng thu nhập, giảm rủi ro khi giá biến động và duy trì sự đa dạng sinh
học. Cây cao su thu hút khí phát thải và tăng trữ lượng cac-bon, góp phần chống biến đổi khí
hậu. Là cây trồng thân thiện môi trường, không làm giảm nguồn nước và sử dụng ít phân bón,
ít hóa chất phòng trừ sâu bệnh so với cây trồng khác. Bộ lá rụng hàng năm là nguồn phân bón
hữu cơ cho cây cao su và các cây trồng khác.
Sau Đông Nam bộ, Tây Nguyên là vùng trồng cao su lớn thứ hai Việt Nam. Theo thống
kê, hiện toàn vùng có 256.283ha cao su, trong đó, diện tích cho thu hoạch hơn 140.000ha, năng
suất bình quân 1,42 tấn/ha, sản lượng mủ đạt hơn 200.000 tấn/năm, chiếm 27% diện tích và
20% sản lượng cao su cả nước. Diện tích cao su quốc doanh chiếm 48%, cao su nông hộ 31,8%
và cao su doanh nghiệp tư nhân chiếm 20,2%. Gia Lai là tỉnh dẫn đầu về diện tích với
100.429ha, kế đến là Kon Tum có 74.718ha, Đắc Lắc 38.493ha, Đắc Nông 29.643ha và Lâm
Đồng 13.000ha. Diện tích cao su vùng Tây Nguyên tăng nhanh trong giai đoạn 2006-2013.
Giai đoạn này, mủ cao su có giá khá cao, đỉnh điểm vượt mốc 45 triệu đồng/tấn. Bên cạnh đó,
tạo nghề nông ngắn hạn hoặc trung cấp nghề. Trình độ lao động hạn chế là yếu tố cản trở khả
năng tiếp cận nguồn thông tin kiến thức và ra quyết định sản xuất.
Bên cạnh đó, phân bố sản xuất chủ yếu của các hộ nông dân còn ở quy mô nhỏ lẻ. Diện
tích sản xuất manh mún, phân tán là yếu tố căn bản làm hạn chế khả năng cải tiến công nghệ và
hiệu quả sản xuất. Trong khi đó, quy mô diện tích có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả sản xuất
các sản phẩm nông sản, các hộ có quy mô diện tích canh tác lớn có điều kiện phục vụ sản xuất
khá tốt (máy móc, tài sản, liên kết trong sản xuất, tiêu thụ và tiếp cận thông tin kiến thức), nhờ
đó hiệu quả sản xuất kinh doanh ổn định hơn. Như vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo nền
tảng để nâng cao lợi thế cạnh tranh, cần thực hiện có hiệu quả việc tích tụ, tập trung đất đai, mà
trước hết là thông qua con đường liên kết để nâng cao năng lực cho người sản xuất.
3.2.2.2. Năng lực của các công ty chế biến xuất khẩu:
21
Năng lực công ty bao gồm năng lực tài chính, năng lực công nghệ, nguồn nhân lực, năng
lực nghiên cứu và phát triển (nghiên cứu thị trường, nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật,
đầu tư phát triển nguồn nhân lực...). Năng lực của các công ty chế biến, xuất khẩu cà phê được
coi là yếu tố trung tâm để tạo lập và nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân. Các
yếu tố này luôn được các công ty đánh giá cao, từ mức độ khá quan trọng đến rất quan trọng.
Thực tế, điểm số về năng lực cạnh tranh của các công ty chế biến, xuất khẩu cà phê trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk chỉ đạt mức trên trung bình (từ 58 đến 68/100 điểm) so với năng lực
chung của toàn ngành (cả nước). Tuy nhiên, so với năng lực của các công ty nước ngoài, có thể
thấy rõ điểm yếu của các công ty trong tỉnh, đặc biệt về khả năng tài chính. Do thiếu vốn nên
nhiều công ty luôn bị thua thiệt trong cạnh tranh thu mua nguyên liệu. Các công ty còn chấp
nhận tìm kiếm các hợp đồng giao sau có kỳ hạn với mức giá thấp và mức giá trừ lùi cao để có
hợp đồng vay vốn ngân hàng phục vụ kinh doanh. Ngược lại, các công ty nước ngoài thường
có lợi thế về vốn, vì vậy bên cạnh việc đầu tư mạng lưới thu mua đầy đủ, hiện đại khắp các khu
vực sản xuất trọng điểm, họ còn ký nhiều hợp đồng mua sản phẩm của hộ nông dân với mức
giá chênh lệch từ 20 đến 30%. Tiềm lực tài chính yếu là nguyên nhân gây ra bất lợi đối với khả
Trong hoạt động đầu tư phát triển, khu vực Tây Nguyên cũng đạt được nhiều thành tựu
đáng ghi nhận. Theo đó, vượt qua những khó khăn, hạn chế, từ năm 2014 đến nay, chỉ riêng
tỉnh Đắk Lắk thu hút được 294 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 25 nghìn tỷ đồng.
Đáng chú ý, những dự án đầu tư tập trung đúng định hướng vào phát triển nông nghiệp, năng
lượng tái tạo, hạ tầng đô thị và phát triển các cơ sở giáo dục, y tế.
Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư 2019 tại Đắk Lắk, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ
Trương Hòa Bình cho rằng, Đắk Lắk là thủ phủ của cà phê vùng Tây Nguyên, là trọng điểm
cho phát triển cây công nghiệp; ngoài ra, tỉnh còn rất nhiều tiềm năng cho phát triển công
nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng tái tạo, du lịch, dịch vụ… Tuy nhiên, phải nhìn nhận
vào thực tế, hiện nay Đắk Lắk vẫn là một tỉnh khó khăn trong lĩnh vực như văn hóa, y tế, giáo
dục, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, thu hút đầu tư... Phó Thủ tướng cũng khẳng định, Chính
phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu, có những cơ chế chính sách phù hợp, đặc thù để vùng Tây Nguyên
nói chung, Đắk Lắk nói riêng phát huy tối đa mọi nguồn lực, cải thiện mạnh mẽ môi trường
23
đầu tư, tranh thủ có hiệu quả sự hợp tác, hỗ trợ của cộng đồng đối tác phát triển, các nhà đầu tư
trong và ngoài nước.
Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Phạm Ngọc Nghị cho biết, tỉnh Đắk Lắk có nhiều tiềm
năng và cơ hội để thu hút đầu tư. Tỉnh ưu tiên các dự án chế biến nông - lâm sản thực phẩm
ứng dụng công nghệ cao, không gây ô nhiễm trường, giảm thiểu chất thải; phát triển nền nông
nghiệp chất lượng cao.
3.2.4. Tác động của chính sách
3.2.4.1. Chính sách hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu:
Thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO, ngoài các chính sách hỗ trợ đầu tư công,
Chính phủ có thể tác động đến lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế
thông qua hỗ trợ sản xuất trong nước dưới hình thức hỗ trợ lãi suất và điều tiết quản lý có hiệu
qua thị trường đầu vào và đầu ra.
Tuy nhiên, các chính sách can thiệp của Chính phủ hầu như không có tác dụng bảo hộ
sản xuất, kinh doanh công nghệ cao. Trong đó, các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Kế hoạch và Đầu tư đóng vai trò nòng cốt xây dựng, thiết kế các chương trình nghiên cứu, phát
triển nông nghiệp Tây Nguyên mang tính tổng thể cả về khoa học quản lý, cơ chế, chính sách,
thị trường và kỹ thuật công nghệ; quy hoạch vùng trồng, vùng sản xuất nông nghiệp đi liền với
tổ chức nông dân, tổ chức thị trường gắn với công nghệ cao, tạo dựng nền nông nghiệp hữu cơ.
Các doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân để đưa các ngành hàng chủ lực của Tây Nguyên như
cà-phê, hồ tiêu, ca-cao, hạt điều… tham gia vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu. Còn các
địa phương khu vực Tây Nguyên với vai trò “chủ nhà” cần chú trọng tới quản lý sử dụng đất
nông nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, tránh tình trạng phá vỡ quy hoạch
các loại cây trồng chủ lực như hiện nay.
CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI THẾ CẠNH TRANH SẢN PHẨM XUẤT
KHẨU CHỦ LỰC CỦA TÂY NGUYÊN
25