Các kiểu dạng nhân vật cô đơn trong văn xuôi Việt Nam đương đại (Qua một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Chu Lai và Nguyễn Danh Lam) - Pdf 28


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI THỊ BÌNH
CÁC KIỂU DẠNG NHÂN VẬT CÔ ĐƠN TRONG
VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
(Qua một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh,
Chu Lai và Nguyễn Danh Lam) Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 01 21
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Hƣơng
Hà Nội - 2014

2
LỜI CAM ĐOAN
4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 15
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 15
5. Đóng góp của luận văn 16
6. Cấu trúc của luận văn 17
PHẦN NỘI DUNG 18
Chƣơng 1: ĐỔI MỚI TƢ DUY NGHỆ THUẬT VÀ CẢM HỨNG CÔ ĐƠN
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI 18
1.1. Bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam sau 1975 18
1.2. Những chuyển đổi tƣ duy nghệ thuật từ sau 1975 22
1.3. Cảm hứng cô đơn trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 26
1.4. Khái quát về kiểu dạng nhân vật cô đơn trong văn học và văn học
Việt Nam 28
1.4.1. Cô đơn – một trạng thái tâm lý bản thể 28
2.1.2.Kiểu nhân vật cô đơn trong tác phẩm văn học 31
Chƣơng 2: CÁC KIỂU DẠNG NHÂN VẬT CÔ ĐƠN TRONG VĂN XUÔI
VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI 37
2.1. Nhân vật cô đơn từ bản thể 37

bức tượng đài bất hủ về con người Việt Nam anh hùng bất khuất, dân tộc Việt Nam từ
trong máu lửa “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Sau năm 1975, đặc biệt là sau đổi mới
(1986), trên tinh thần “đổi mới toàn diện” mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề
ra, văn học thực sự được “cởi trói”. Không khí dân chủ tạo đà cho những chuyển động
mạnh mẽ của văn học, biểu hiện rõ trong sự chuyển đổi về tư duy nghệ thuật. Nhờ nỗ
lực đổi mới và dân chủ hóa đời sống văn hóa văn nghệ, các nhà văn đã hăng hái lao
động nghệ thuật, có ý thức đổi mới ngòi bút của mình để bắt kịp với những biến chuyển
của đời sống. Đó là cơ sở để văn học Việt Nam đương đại nói chung, văn xuôi Việt Nam
đương đại nói riêng mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực, đi sâu khám phá những vấn
đề cốt lõi của đời sống xã hội, phản ánh một cách đa diện về con người. Từ đó, trong
văn xuôi xuất hiện nhiều nguồn cảm hứng mới như cảm hứng đời tư thế sự, cảm hứng bi
kịch, cảm hứng tha hóa, cảm hứng cô đơn… Kéo theo là các kiểu dạng nhân vật bi kịch,
nhân vật tha hóa, nhân vật sám hối, nhân vật cô đơn,…
1.3.Có thể thấy, khoảng mười năm đầu thời kì hậu chiến (1975 – 1985), cảm
hứng sử thi trong văn xuôi vẫn tồn tại theo quán tính. Nhưng được thổi lửa từ sau đổi

7
mới, đặc biệt là nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về văn hóa, cảm hứng sử thi mờ nhạt
dần, cảm hứng đời tư thế sự nổi đậm và dần trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo.
Theo đó, những vấn đề của đời sống cá nhân, số phận riêng tư với những nỗi niềm,
tâm trạng, khát vọng sống, khát vọng hòa nhập cộng đồng, khát vọng hạnh phúc. Cái
thiện – cái ác, cái xấu – cái tốt, cái cao cả - cái thấp hèn, cái bi – cái hài,… vốn còn
khuất lấp ở thời kì văn học trước, thì nay, tất cả đều đi vào trang viết với tinh thần
dân chủ, cởi mở nhất. Con người cá nhân trở thành mối quan tâm hàng đầu của người
cầm bút với đầy đủ tính chất đa dạng, phức tạp trong tính cách, suy nghĩ, biểu hiện
và trong nhiều tầng quan hệ. Trên khuynh hướng chung đó, rất nhiều tác phẩm mang
“hơi gió lạ” của các cây bút tên tuổi trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu
nước như Nguyễn Khải, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, đến những
tác giả gây “chấn động” từ thời kì đầu của văn học đổi mới như Nguyễn Huy Thiệp,
Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Chu Lai, Bảo Ninh, Nguyễn Trí Huân, Dạ Ngân,

trọng về cảm hứng, đề tài, về các kiểu dạng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu… Là
điều kiện để tạo nên những tác phẩm văn xuôi có giá trị, phản ánh đúng tinh thần thời
đại, đúng người, đúng việc. Sự chuyển hướng về quan niệm nghệ thuật trong văn
xuôi đương đại đã thu hút sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu, phê bình.
Qua khảo sát, tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy đã có khá nhiều công trình, bài
viết nghiên cứu chung về văn xuôi đổi mới, trong đó cũng đã đề cập đến sự đổi mới
về tư duy nghệ thuật, sự đa dạng về nguồn cảm hứng, về các kiểu dạng nhân vật
trong văn xuôi Việt Nam đương đại.
Trong bài Mấy nhận xét về nhân vật của Văn xuôi Việt Nam sau 1975, tác
giả Nguyễn Thị Bình đã đưa ra nhận định về sự đa dạng của văn xuôi từ góc độ quan
niệm nghệ thuật: “Từ năm 1986 trở đi, sự đổi mới văn xuôi mới thật sự diễn ra ở bề
sâu với một quan niệm đa dạng, nhiều chiều về đời sống.”[56].
Trong bài viết Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt
Nam giai đoạn từ sau 1975, tác giả Nguyễn Văn Long đã xác định những đặc điểm

9
cơ bản của văn học Việt Nam sau 1975: “Văn học vận động theo hướng dân chủ
hóa”[39, tr. 14] “Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trên cơ sở tinh thần nhân bản là nền
tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo, bao trùm văn học từ sau 1975” [39, tr.15] “Văn
học phát triển phong phú, đa dạng, hướng tới tính hiện đại.” [39, tr.16]. Người viết
đã đề cập đến sự đa dạng của văn học ở các bình diện “đa dạng về đề tài, phong phú
về thể loại, nhiều tìm tòi về thủ pháp nghệ thuật, đa dạng về phong cách và khuynh
hướng thẩm mĩ.” [39, tr.16]. Từ đó, chỉ rõ hơn về đặc điểm của văn xuôi sau 1975 có
“khuynh hướng nhận thức lại”, “Khám phá đời sống trong cái muôn vẻ hằng ngày,
trong các quan hệ thế sự, đời tư” và cuối cùng người viết đi đến nhận định về những
đổi mới của văn xuôi đã “mở rộng quan niệm hiện thực đi liền với đổi mới quan
niệm nghệ thuật về con người, đổi mới nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ, giọng
điệu”[39, tr.18-19].
PGS. La Khắc Hòa trong bài Nhìn lại những bước đi, lắng nghe những
tiếng nói tiếp tục khẳng định: “Đổi mới văn học suy cho cùng là đổi mới quan niệm:

2.2.Cũng theo khảo sát của chúng tôi, các tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Chu
Lai, Tạ Duy Anh, Nguyễn Danh Lam và các sáng tác của họ đã được đông đảo giới
nghiên cứu, phê bình quan tâm. Trong đó cũng đã có những ý kiến đề cập đến thế
giới nhân vật của các cây bút này.
Về Nguyễn Huy Thiệp - sự xuất hiện của ông vào cuối năm 1987 đã thực sự
làm nên một “chấn động” lớn và nhanh chóng trở thành “hiện tượng lạ” trong văn
học cùng với việc khẳng định sức viết dồi dào.
Trong bài viết Truyện ngắn Nguyễn Huy thiệp vài cảm nghĩ Giáo sư
Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét, khái quát như sau: “Nguyễn Huy Thiệp có một thế
giới nhân vật cũng độc đáo. Toàn những con người góc cạnh, gân guốc. Người nào
dường như cũng sống đến tận cùng cá tính của mình. Có loại chui lên từ bùn lầy, rác
rưởi, tâm địa đen tối, có loại lại như những bậc chí thiện, có thể bao dung cả kẻ xấu,
người ác, thậm chí sẵn sàng chết vì đồng loại.”

11
Tác giả Mai Hương trong Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số
cây bút văn xuôi đã chỉ ra kiểu nhân vật cô đơn trong văn Nguyễn Huy Thiệp:
“Tướng về hưu” với lối viết mới lạ đã mang đến cho văn học một chất mới “chất
kiêu bạc, tàn nhẫn, cay đắng”, một “hơi gió lạ”- chủ đề cô đơn, tình trạng con
người cô đơn, lạc loài ngay giữa gia đình, người thân và đồng loại” ”.[23, tr.4]. .
Trong bài Chân dung nhà văn, từ một thế nhìn nhà văn Lê Minh Hà lại
nhận thấy: “Nhân vật của ông là con người trong cái phận vừa lớn lao vừa bé mọn
của mình, trong ý thức về sự biết và không biết của mình, trong nỗi buồn trước cái
đẹp, cái chua chát của đời sống.” [9]
Hồ Tấn Nguyên Minh trong bài Quan niệm về con người trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp đăng trên đã chỉ ra những kiểu con người trong
sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp trong đó đã phân tích kiểu “con người cô đơn, lạc
lõng giữa mênh mông cõi người” ở Tướng về hưu và Con gái thủy thần.
Trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp do Phạm Xuân Nguyên biên soạn, tập
hợp của 54 bài viết của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình, với nhiều cách đọc,

thương tâm trong những hoàn cảnh éo le. Nói như Ma Văn Kháng, tiểu thuyết của
Chu Lai là sự “đối mặt trực tiếp những vấn đề bức bối của đời sống xã hội hôm nay.”
Đề cập đến những vấn đề này,nhà phê bình Lê Thành Nghị qua Những cuốn sách
gần đây viết về chiến tranh cho rằng: “Chu Lai đã không ngần ngại đưa ra ánh sáng
những điều lâu nay còn bị giấu kín.”
Về nghệ thuật, tác giả Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu
thời kì đổi mới chỉ ra rằng: Tiểu thuyết Chu Lai “không chỉ đa dạng trong các phương
thức tiếp cận mà cả trong các biện pháp nghệ thuật, kết hợp độc thoại nội tâm, “dòng
ý thức”, nghệ thuật đồng hiện và có những thành công nhất định”
Còn có khá nhiều ý kiến tập trung phân tích riêng một tác phẩm, song phần lớn
các bài viết đều khẳng định vị trí và đóng góp của Chu Lai trên thể loại tiểu thuyết ở
việc đổi mới cách viết, đổi mới quan niệm về hiện thực và con người.

13
Với Tạ Duy Anh, ông là cây bút thành danh từ trong cao trào đổi mới, người
đã khơi mở một “dòng văn học bước qua lời nguyền” với những thông điệp sâu sắc
về số phận con người. Hơn thế, ông lại “Là tác giả của những tác phẩm luôn khiến
người đọc giật mình và suy ngẫm”. Ông đã tạo ra một “từ trường” riêng để hấp dẫn,
lôi cuốn độc giả cũng như người nghiên cứu, tìm hiểu. Vì vậy, đã có khá nhiều ý kiến
đánh giá, nhận định về những đóng góp của nhà văn trên cả hai phương diện nội dung
tư tưởng và nghệ thuật:
Trong bài viết đăng trên báo Văn nghệ số 50 tháng 12 năm 1989, Giáo sư
Hoàng Ngọc Hiến khẳng định: “Tạ Duy Anh là tín hiệu của một dòng văn học mới,
dòng văn học bước qua lời nguyền”.
Nói về thế giới nhân vật trong sáng tác Tạ Duy Anh, trong bài viết Văn xuôi
Việt Nam hiện nay, logic quanh co của các thể loại, những vấn đề đặt ra và triển
vong, nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét: “Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh gói
gọn trong nửa trang cả một cuộc đời, một kiếp sống, một kiếp người vừa là tác giả,
vừa là nạn nhân của những bi kịch đằng đẵng một thời”.[…]
Trong bài viết Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện ác đăng trên báo

đôi nét về tiểu thuyết của anh, đặc biệt cuốn tiểu thuyết được giải thưởng của Hội
Nhà văn Việt Nam Giữa dòng chảy lạc hoặc mới chỉ tập trung vào một số khía cạnh
nổi bật trong từng tác phẩm cụ thể, chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện
về sáng tác của cây bút này. Người đọc có thể gặp đây đó các bài giới thiệu, phê bình
rải rác trên các báo viết, báo điện tử Phongdiep.net, Văn nghệ, Thể thao và văn hóa,
Báo mới, … của các tác giả Bùi Công Thuấn, Đoàn Ánh Dương, Nguyễn Hoài
Nam,… Bên cạnh đó, còn có một số cuộc trao đổi, phỏng vấn, ở đó, Nguyễn Danh
Lam đã ít nhiều chia sẻ với người đọc những suy nghĩ, trăn trở của mình trong sáng
tác. Cho đến nay, hầu như chưa có bài viết nào nghiên cứu riêng về nhân vật, đặc biệt
nhân vật cô đơn trong sáng tác của Nguyễn Danh Lam.
Nhìn chung, các bài viết và các công trình nghiên cứu cùng đồng thống nhất
ở việc ghi nhận những nỗ lực của các tác giả trong việc đổi mới văn học. Tuy nhiên,

15
theo khảo sát, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu về Các kiểu dạng nhân vật cô đơn
trong văn xuôi Việt Nam đương đại còn mang tính đơn lẻ, rời rạc, mới chỉ dừng lại ở
việc phát hiện, phác thảo chứ chưa được tìm hiểu trực tiếp và nghiên cứu một cách có
hệ thống, toàn diện. Có thể nói, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào lấy Các kiểu
dạng nhân vật cô đơn trong văn xuôi Việt Nam đương đại làm đối tượng nghiên cứu
trực tiếp. Vì lẽ đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy Các kiểu dạng nhân vật cô đơn trong văn xuôi Việt Nam
đương đại (qua một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh,
Chu Lai và Nguyễn Danh Lam) là đối tượng nghiên cứu chính. Bên cạnh đó, luận
văn cũng mở rộng đối tượng khảo sát qua một số tác phẩm, tác giả khác nhằm làm
nổi bật vấn đề nghiên cứu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ có hạn của một luận văn Thạc sĩ, chúng tôi không có điều
kiện, khảo sát, tìm hiểu toàn bộ văn xuôi đương đại mà chỉ tập trung nghiên cứu một số

đề tài, sử dụng phương pháp này giúp chúng tôi có được một cái nhìn toàn diện về
mảng văn học mà luận văn quan tâm nghiên cứu. Phương pháp này giúp người viết
rút ra được những đặc điểm cơ bản của các kiểu dạng nhân vật cô đơn trong văn xuôi
đương đại cùng các phương diện biểu hiện của nó.
5. Đóng góp của luận văn
Từ khảo sát, phân tích, so sánh và tổng hợp, luận văn sẽ đúc kết những nét
đặc sắc của các cây bút từ phương diện thể hiện các kiểu dạng nhân vật cô đơn. Qua
đó góp phần nhận diện một trong những dấu hiệu đổi mới đặc sắc của văn xuôi Việt

17
Nam đương đại. Khẳng định đóng góp của các tác giả vào công cuộc đổi mới văn
học.
Ở một góc độ nhất định, luận văn góp phần đánh giá, tổng kết sự đổi mới của
văn xuôi Việt Nam đương đại nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đổi mới tư duy nghệ thuật và cảm hứng cô đơn trong văn xuôi
Việt Nam sau 1975
Chương 2: Các kiểu dạng nhân vật cô đơn trong văn xuôi Việt Nam đương đại
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật cô đơn

18
PHẦN NỘI DUNG

tưởng đến văn hóa, từng bước hội nhập khu vực và thế giới thì văn hóa văn nghệ mới
có điều kiện để thực sự thay đổi. Trong đó, chủ trương phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lí của Nhà nước
được xem là một quyết sách đúng đắn và sáng suốt. Từ mô hình kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp chuyển sang mô hình kinh tế thị trường sẽ tạo điều kiện tự do cạnh
tranh thương mại, phát huy tính dân chủ, tạo mối liên hệ trong cộng đồng. Từ đó, tạo
nhiều đổi thay quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong nhận thức, tư
tưởng, tình cảm, nhu cầu của con người. Bên cạnh đó, định hướng phát triển nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn liền với sự phát triển chung của xã hội,
trong đó con người phải được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo
năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển cá nhân. Đó là kết quả của việc kết hợp hài hòa các lợi ích toàn xã hội với
lợi ích của các tập thể, cá nhân; là kết quả của việc phát huy dân chủ trên các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Có thể nói, Đại hội Đảng lần VI là sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu
bước ngoặt của lịch sử phát triển đất nước. Trên tinh thần chung, Đại hội đã nhìn
nhận, đánh giá, phân tích đúng thực trạng đất nước sau ngày giải phóng, từ đó đề ra
phương hướng giải pháp tích cực nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn,
lạc hậu về kinh tế, bảo thủ, trì trệ về tư tưởng. Đồng thời, Đại hội cũng tạo ra những
tiền đề chính trị quan trọng để đưa đất nước bước vào thời kì Công nghiệp hóa – Hiện
đại hóa, từng bước phát triển xứng tầm với các quốc gia trong khu vực và trên thế
giới. Tạo tiền đề đảm bảo ổn định, phát triển chung của xã hội, trong đó có văn học.
Trên tinh thần đổi mới toàn diện với không khí cởi mở, dân chủ của toàn dân
tộc, văn học có những điều kiện quan trọng để làm nên một bước nhảy, một cú “vượt
rào”, như Giáo sư Hà Minh Đức đã nhận định: "Đại hội Đảng lần thứ VI đã mở ra

20
một thời kì mới cho đất nước, cho sự đổi mới trong tư duy, bao gồm cả tư duy nghệ
thuật. Thái độ thẳng thắn nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất của các hiện tượng
xã hội, tinh thần dân chủ được phát huy trong quá trình đổi mới đã tạo nên sự thúc

những người sản xuất ra sản phẩm cao cấp cho xã hội”… Chính vì vậy, “Nếu trong
lĩnh vực kinh tế cần phải phát huy dân chủ cho người sản xuất thì ở lĩnh vực của các
đồng chí, các đồng chí cũng phải tự làm chủ”[53], người nghệ sĩ cần phải sáng tạo,
không thể khô cứng làm theo khuôn mẫu, theo con đường sẵn có vậy nên “không
được áp đặt mọi công việc như đặt con tàu chạy trên đường ray”. [61].
Nhiệm vụ cao cả của văn chương là phải sáng tạo, dấn thân tìm tòi và đổi
mới. Người nghệ sĩ phải tạo cho mình một lối đi riêng, mới mẻ, độc đáo; không sao
chụp lối mòn của người đi trước đã đi. Có thể nói, chưa bao giờ vai trò, trách nhiệm
của người cầm bút và tính chân thực của văn học lại được đặt ra một cách khẩn
trương và toàn diện đến thế.
Công cuộc đổi mới đã đáp ứng nguyện vọng của các nhà văn và độc giả cũng
như quy luật phát triển khách quan của lịch sử và nó đã khẳng định tính đúng đắn,
tiên phong của mình trở thành phong trào mạnh mẽ. Bằng chứng là đã có rất nhiều
tác phẩm thời kì này xuất hiện trên văn đàn: Từ những năm 1976 Thái Bá Lợi cho ra
mắt độc giả Hai người trở lại trung đoàn. Nguyễn Trọng Oánh với Đất trắng ,
Nguyễn Khải với Cha và con. Từ đầu những năm 1980 văn học bước vào giai đoạn
sôi nổi hơn, bằng chứng là sự ra đời của nhiều tác phẩm mới như Nguyễn Mạnh
Tuấn với Những khoảng cách còn lại, Đứng trước biển, Cù lao tràm; Ma Văn
Kháng với Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn; Nguyễn Minh Châu với Người
đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê; Lê Lựu với Thời xa vắng; Nguyễn Khải
với Thời gian của người,… Kể từ sau 1986 điểm đến những sáng tác như: Chu Lai
với Ăn mày dĩ vãng, Phố, Ba lần và một lần, Vòng tròn bội bạc,… Nguyễn Huy
Thiệp với Tướng về hưu, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Chảy đi sông ơi,… Tạ

22
Duy Anh với Bước qua lời nguyền, Lão Khổ, Đi tìm nhân vật,Thiên thần sám hối,
Giã biệt bóng tối …
Như vậy, hoàn cảnh lịch sử mới đã tạo nên một thời kì văn học mới với
những thay đổi rõ nét, phát triển theo hướng dân chủ. Trong đó, “Tinh thần nhân bản
và sự thức tỉnh ý thức cá nhân” là nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo bao trùm

người công dân, con người giai cấp, con người dân tộc. Vì thế mà những bình diện
khác của con người, những tư cách khác của con người thường ít được văn học chú ý,
nếu có được quan tâm thì cũng dùng hệ qui chiếu của các giá trị cộng đồng. Nhà văn
thường lấy lí tưởng, hành động cách mạng làm thước đo giá trị, phẩm chất của con
người, vì thế, con người trong giai đoạn ấy được tái hiện trong khuôn mẫu của lí
tưởng cộng sản, hành động anh hùng, khát vọng vì Tổ quốc. Sau 1975, khi cuộc
chiến tranh chống Mỹ của toàn dân tộc đã kết thúc, con người được trở về với đời
sống thường nhật cùng những bộn bề lo toan và hơn hết con người còn phải đấu tranh
với chính bản thân để hoàn thiện mình, để hòa hợp với cuộc sống, với gia đình, với
tập thể. Con người “hôm qua” thuộc về cộng đồng, số đông đã nhường chỗ cho con
người “hôm nay” thuộc về cá thể, hiện lên với tư cách cá nhân, trong nhiều tầng quan
hệ . Thực tế đó, đòi hỏi văn học phải thay đổi, thay đổi từ quan niệm, đến cách viết.
Bằng sự nhạy bén của mình, các nhà văn đương đại đã khắc phục những hạn
chế của “thời xa vắng” nhanh chóng bắt kịp thời cuộc. Nhìn thẳng vào sự thật, viết về
“cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, màu đỏ với màu đen đầy rẫy những biến động bất
ngờ.” (Nguyễn Khải). Bên cạnh việc phản ánh những đổi thay của hiện thực thì việc
khắc họa số phận cá nhân trong văn xuôi đương đại là vấn đề lớn được các cây bút
quan tâm. Bởi như Nguyễn Minh Châu đã nói “Văn học và cuộc sống là hai vòng
tròn đồng tâm nhưng tâm điểm là con người.”. Con người là điểm xuất phát, là đối
tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích đến cuối cùng của văn học, đồng thời cũng
là điểm qui chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố

24
lịch sử. Ở cuộc sống mới, con người trong tổng hòa của những mối quan hệ xã hội trở
nên phức tạp hơn. Thế nên, chẳng phải ngẫu nhiên cảm hứng thế sự đời tư nổi lên
như một vấn đề trung tâm của mọi “nỗ lực sáng tạo” trong văn xuôi đương đại. Ngay
cả những sáng tác viết về nhiều đề tài khác như nông thôn, thành thị, nông dân, công
nhân, trí thức, người vợ, người mẹ, … nhà văn vẫn xoáy thật sâu vào những vẫn đề
cốt yếu thông qua tâm điểm nhân vật. Những niềm vui, nỗi buồn, sự sướng khổ, được
mất,… đi vào văn chương một cách chân thực và rõ nét hơn bao giờ và được xem

Bởi thế văn xuôi đương đại xuất hiện nhiều kiểu dạng nhân vật mới được phân chia
theo nhiều tiêu chí khác nhau: Đó có thể là kiểu nhân vật sám hối đầy những suy tư,
dằn vặt, thức tỉnh như trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu; cũng có thể là
kiểu nhân vật vừa đáng ghét, vừa đáng thương trong một số sáng tác của Ma Văn
Kháng; hay là kiểu nhân vật kiếm tìm trong một số sáng tác của Tạ Duy Anh, Chu
Lai,… cũng có thể là kiểu nhân vật cô đơn trong một số sáng tác của Dạ Ngân,
Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam,… Sự đa
dạng về các kiểu nhân vật đã đem đến cho văn xuôi đương đại sức hấp dẫn riêng đặc
biệt, qua đó cũng khẳng định phạm vi phản ánh hiện thực cũng như quan niệm nghệ
thuật về con người đã có nhiều đổi mới, phong phú hơn.
Qua tìm hiểu, có thể nhận thấy mỗi nhân vật trong văn xuôi đương đại đều có
những đoạn đời sóng gió, gập ghềnh và cả những nỗi niềm trắc ẩn, những mất mát,
tổn thương, hơn hết là cảm giác cô đơn luôn thường trực. Con người đời tư pha lẫn sự
cô đơn, ưu tư, dằn vặt, đau đớn, day dứt, sám hối. Họ dằn vặt trước thời cuộc, sống
trong sự tự bộc bạch, tự mổ xẻ chính mình như Chị Nhân, Hạnh (Bến không chồng),
Giang Minh Sài (Thời xa vắng), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh), chị Cả Thuần (Dòng
sông Mía), Hai Thìn (Lời nguyền hai trăm năm), Thuần (Giời cao đất dày)… Con
người với những nỗi niềm đắng cay, xa xót bộc lộ ra sự sai trái của mình bởi nhiều
lúc con người đã để mình rơi vào những khoảng tối. Hạnh (Bến không chồng) luôn

Trích đoạn Cảm hứng cô đơn trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 Thủ pháp nhòe mờ, tẩy trắng nhân vật Chú trọng tới cảm giác, nội tâm của nhân vật Nghệ thuật tổ chức không gian: Nghệ thuật tổ chức thời gian
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status