THƠ NHƯ LÀ MỘT BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG TRUYỆN KỂ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU (THÁNH TÔNG DI THẢO, TRUYỀN KỲ MẠN LỤC ,TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ) - Pdf 34

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Mục đích nghiên cứu
Thể loại truyện truyền kỳ là một trong những thành tựu văn học độc
đáo của các quốc gia khu vực Đông Á thời trung đại. Tiếp thu thể loại từ văn
học Trung Quốc, truyện truyền kỳ Việt Nam có một quá trình hình thành và
phát triển nội sinh gắn liền với văn hóa và văn học dân tộc. Truyện truyền kỳ
Việt Nam đã khẳng định được vị trí của nó, đánh dấu bước nhảy vọt về chất
cho văn xuôi tự sự bằng chữ Hán của nước ta. Trong kho tàng truyện truyền
kỳ rất có giá trị ấy Thánh Tông di thảo (TTDT),Truyền kỳ mạn lục (TKML) và
Truyền kỳ tân phả (TKTP) được coi là những mốc son quan trọng đánh dấu
sự phát triển vượt bậc của loại hình văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại.
Ra đời vào thời kỳ đột khởi của văn xuôi tự sự; TTDT,TKML và TKTP đã
bắt đầu cuộc hành trình nghệ thuật của mình với những quan điểm mới, tư
tưởng mới đánh dấu sự trưởng thành của truyện ngắn trung đại Việt Nam từ
văn học mang tính chức năng sang văn xuôi nghệ thuật. Chính vì vậy việc
nghiên cứu TTDT, TKML và TKTP là việc làm có ý nghĩa nhằm khám phá
đầy đủ hơn nữa các giá trị của ba tập truyện này.
Thế kỷ X – XIV văn xuôi tự sự đặc biệt là truyện truyền kỳ vẫn chưa
tách khỏi văn học dân gian và văn học chức năng. Sang đến thế kỷ XV, truyện
truyền kỳ đã có sự “đột khởi” rõ rệt, từ truyện mang nặng tính dân gian và
chức năng tôn giáo đã dần chuyển sang các sáng tác giàu tính nghệ thuật và
phản ánh được hiện thực đương thời. Yếu tố kỳ ảo không còn được dùng một
cách tự phát mà có ý thức, trở thành phương tiện nghệ thuật để diễn tả nội
dung mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Đặc biệt sự kết hợp giữa thơ ca và văn
xuôi đã mở rộng chiều phản ánh hiện thực, tạo nên nét riêng cho văn xuôi tự
sự thế kỷ XV – XVII. Giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX, việc đưa thơ ca vào văn
xuôi đã mở ra hai hướng: hoặc đưa nhiều thơ vào truyện như Truyền kỳ tân
phả của Đoàn Thị Điểm, hoặc giảm bớt tối thiểu như Lan trì kiến văn lục của
Vũ Trinh. Chính sự xâm lấn thể loại từ thơ sang văn xuôi này đã tạo ra nhiều
1




Bên cạnh đó còn có những công trình nghiên cứu trực tiếp đề cập tới
vấn đề thơ ca trong truyện truyền kỳ:
GS. Trần Đình Sử trong công trình “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung
đại Việt Nam” có đánh giá rằng: “Truyện truyền kỳ Việt Nam như Thánh
Tông di thảo của Lê Thánh Tông, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Truyền
kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm đánh dấu sự chín muồi của nghệ thuật tự sự
Việt Nam”. Đặc biệt ông cũng có nhiều ý kiến đánh giá khi nghiên cứu thơ
trong những tác phẩm truyền kỳ thời kỳ này: “Nội tâm, cảm giác của nhân vật
được thể hiện bằng thơ, các nhân vật hầu hết đều làm được thơ…Tuy nhiên
chưa hẳn tác giả đã ý thức được đầy đủ về đời sống nội tâm của nhân vật, bởi
vì thơ chỉ được xem như một nhã thú của đời sống tinh thần, một yếu tố ngoài
cốt truyện có tính chất tĩnh tại, không phải là nội tâm khi hành động nói
năng… Đời sống nội tâm của nhân vật tuy đã được biểu lộ qua thơ song chưa
tham gia vào cốt truyện, chưa có ý thức thúc đẩy cốt truyện, chưa có cốt
truyện tâm lý… thơ trong các cuộc đối thoại chỉ là phương tiện để tỏ chí,
ngôn chí.”
Riêng về “Truyền kỳ tân phả” GS.Trần Đình Sử cho rằng: “Truyền kỳ
tân phả đầu thế kỷ XVIII của Đoàn Thị Điểm cùng loại với Truyền kỳ mạn
lục nhưng rườm lời hơn, thơ ca thù tạc lại quá nhiều làm loãng thú truyện…
Có thể xem đây như là một thể loại truyện – thơ hợp thể, trong đó yếu tố
truyên đóng vai trò sáng tạo tình huống để tác giả thi thố tài thơ và đặc điểm
này phản ánh hứng thú và sinh hoạt văn thơ đương thời của các văn sĩ”
PGS.TS Nguyễn Đăng Na với công trình “Con đường giải mã văn học
Trung đại Việt Nam” đã có những ý kiến rất sâu sắc về vấn đề này: “sẽ là
khiếm khuyết nếu bỏ qua đặc điểm này của truyện ngắn thế kỷ XV – XVII: sự
đan xen giữa văn xuôi với thơ ca…Người thì cho rằng tài năng của tác giả thể
hiện ở chính những bài thơ, ca, từ, hành; người thì bảo đấy là hình thức dung
hòa giữa phương thức tự sự với trữ tình. Song cũng có người khẳng định, nếu

và văn xuôi nhưng mới chỉ là dừng lại ở mức độ đề cập đến vấn đề một cách
khái quát, đánh giá chung nhất mà chưa đi sâu vào phân tích có hệ thống vấn
đề trên mức độ cụ thể để hoàn thiện bức tranh truyện truyền kỳ Việt Nam.
Nhưng những ý kiến nghiên cứu ấy đã gợi dẫn để chúng tôi triển khai đề tài
4


mở rộng phạm vi tìm hiểu, khảo sát toàn bộ thơ trong ba tác phẩm truyền kỳ
đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tất cả các bài thơ, câu thơ trong ba tác phẩm truyện truyền kỳ
-Truyện Thánh Tông di thảo bao gồm 46 bài thơ có trong 12 truyện
-Truyện Truyền kỳ mạn lục bao gồm 46 bài thơ có trong 11 truyện và một số
cặp câu thơ có trong truyện Cuộc nói chuyện ở Kim Thoa.
-Truyện Truyền kỳ tân phả bao gồm 80 bài thơ có trong 4 truyện.
Đặc trưng của văn học trung đại là tính đa dị bản. Để thuận lợi cho quá trình
nghiên cứu thống nhất, chúng tôi căn cứ vào ba cuốn tài liệu : “Thánh Tông di
thảo” do Nguyễn Bích Ngô dịch và chú thích, Phạm Văn Thắm giới thiệu của
Nhà xuất bản văn học Hà Nội 2001. “Truyền kỳ mạn lục” do Trần Thị Băng
Thanh giới thiệu và chỉnh lý của Nhà xuất bản văn học Hà Nội 2001. “Truyền
kỳ tân phả” do Ngô Lập Chí và Trần Văn Giáp dịch và chú thích, Hoàng Hữu
Yên giới thiệu của Nhà xuất bản Trẻ, Nhà xuất bản Hồng Bàng 2013.
3. 2.Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò chức năng của thơ trong ba tập truyện
4.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp hệ thống
Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp so sánh đối chiếu

sống, một trong những cơ sở để phân loại tác phẩm văn học. “Nếu như tác
phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về nó thì tác
phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ khách quan của nó. Tác phẩm
tự sự phản ánh hiện thực bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian,
thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người. Trong tác
phẩm tự sự nhà văn cũng thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình” { 19;385}
Phương thức phản ảnh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi
con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về
một cái gì đó. Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện. Gắn liền
với cốt truyện là hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ. Cốt truyện gắn liền
với sự kiện bởi cốt truyện được khắc họa nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật
phong phú, đa dạng bao gồm chi tiết, sự kiện, xung đột..v.v.v. Trong cấu trúc
truyện kể, ta không thể không nhắc tới trần thuật và người trần thuật. Trần
thuật là phương diện cơ bản của tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết
minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của
một người trần thuật nhất định. Trần thuật gắn liền với toàn bộ công việc bố
cục, kết cấu tác phẩm. “Trần thuật…thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể và
khách thể…Nó đánh dấu sự đổi thay điểm chú ý của ý thức văn học từ hệ
thống sự kiện thắt nút – mở nút sang chủ thể thẩm mỹ của tác phẩm tự sự”
{19 ;365}. Người trần thuật đóng một vai trò không nhỏ trong tác phẩm tự sự.
Đó có thể là một nhân vật hư cấu hoặc có thật tham gia vào truyện hoặc bàng
quan đứng ngoài nhưng nắm giữ nhiều chức năng trong tác phẩm: chức năng
kể chuyện; chức năng truyền đạt, đóng vai một yếu tố của tổ chức tự sự; chức
năng chỉ dẫn; chức năng bình luận; chức năng nhân vật hóa. Như vậy về cơ
bản cấu trúc truyện kể bao gồm nhiều yếu tố nhưng nổi bật và cốt lõi nhất vẫn
là cốt truyện, nhân vật, sự kiện, trần thuật, người trần thuật.
7


Bên cạnh phương thức tự sự là phương thức trữ tình. “Nếu như tự sự

nhằm chỉ sự liên kết những sự kiện, hành động, biến cố...trong tác phẩm tự sự
và kịch thì kết cấu là một khái niệm rộng hơn nhiều.
Thơ tham gia vào cốt truyện với vai trò như là lời dẫn truyện, như là
lời tiên tri móc nối các sự kiện và nhân vật. Đây là một hiện tượng rất dễ nhận
ra trong văn học với những bài thơ mở đầu cho những tác phẩm tự sự. Đó là
hiện tượng của tiểu thuyết Trung Hoa – một trong những thành tựu rực rỡ
nhất của văn học Trung Quốc. Bài thơ mở đầu cho tác phẩm Tây Du kí của
Ngô Thừa Ân là một ví dụ tiêu biểu:
Hỗn độn chưa chia trời đất loạn,
Mờ mờ mịt mịt chẳng ai hay.
Hồng mông từ khi Bàn cổ mở
Trong đục phân minh tự thở này
Che chở mọi loài nhờ trời đất
Phát sinh muôn vật tốt lành thay.
Muốn biết công to của tạo hóa
Đọc truyện Tây Du giải ách đây.
Lời mào đầu cho một cuốn tiểu thuyết chương hồi li kỳ này không khỏi khiến
hấp dẫn người đọc truyện.
Những bài thơ có vai trò như những lời tiên tri, những móc xích quan
trọng trong tình tiết của câu chuyện chúng ta có thể bắt gặp ở Hồng lâu mộng.
Thơ ca trong Hồng Lâu Mộng không chỉ có tác dụng báo trước về cuộc đời
9


nhân vật mà còn báo trước luôn cả về số phận của một dòng họ. Sự suy tàn
của dòng họ Giả ngay lúc đầu đã được khái quát trong bài Hảo Liễu ca của
Mang Mang đạo sĩ và Chân Sĩ Ẩn :
Giờ đây lều cỏ vắng tanh
Trước kia trâm hốt sắp quanh đầy giường
Giờ đây cây cỏ ngổn ngang

cuối mỗi chương. Một phần tư tác phẩm Hồng lâu mộng chìm trong thơ ca.
Thi ca thành ra một phần không thể trong tác phẩm này. Đó là những hiện
tượng thơ trong tác phẩm tự sự văn xuôi cỡ lớn như tiểu thuyết mà chúng tôi
mới chỉ dừng lại khảo sát trong một vài cuốn tiểu thuyết của Trung Quốc chứ
chưa có điều kiện khảo sát trên quy mô lớn hơn. Nhưng với những dẫn chứng
tiêu biểu này, chúng ta cũng phần nào nhận diện được khuôn mặt của thơ
trong các tác phẩm văn xuôi và vai trò của nó. Tuy nhiên, mỗi thời đại, mỗi
nền văn học lại có những khuynh hướng thơ với những giá trị rất khác nhau.
Thực ra, sự kết hợp giữa thơ ca và văn xuôi trong lịch sử văn học Việt Nam
không phải đến thời trung đại mới có. Nó đã từng xuất hiện từ khi văn học
chữ viết chưa ra đời. Ta bắt gặp không ít những bài thơ xuất hiện trong truyện
cổ tích Việt Nam. Tiêu biểu như truyện cổ tích Tấm Cám. Câu chuyện tuy
không dài như tiểu thuyết chương hồi của Trung Hoa nhưng cũng dung chứa
sự kết hợp rất tự nhiên giữa thơ ca và văn xuôi. Đó là bài thơ mà Tấm gọi
bống. Một bài thơ rất giản dị nhưng chan chứa tình yêu thương:
Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.
Bài thơ vừa thể hiện tấm lòng thơm thảo của cô Tấm nhưng đồng thời khiến
cho câu chuyện có “điểm nhấn” và thêm phần hấp dẫn. Đó còn là những câu
thơ bộc lộ nỗi niềm căm phẫn của Tấm:
-Phơi áo chồng tao,
Phơi lao phơi sào,
Chớ phơi bờ rào,
Rách áo chồng tao.
11


-Cót ca cót két
Lấy tranh chồng chị,

tạo nên một trong những sự khác lạ cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trên
mặt bằng truyện ngắn cùng thời.
Như vậy, sự xuất hiện thơ trên địa hạt của văn xuôi không phải là mới
so với văn học thế giới, gần nhất là văn học Trung Hoa, cũng như là lịch sử
văn học Việt Nam. Thơ xuất hiện đóng một vai trò không hề nhỏ trong các tác
phẩm ấy: có thể là dẫn truyện, vịnh cảnh, tả tình, dự báo hay là trữ tình ngoại
đề. Tất cả chỉ nhằm mục đích làm thư giãn giữa tình tiết gay cấn hồi hộp, lại
vừa tạo thêm dáng phong nhã cho câu chuyện,hay cũng có thể là phương tiện
bộc lộ nội tâm tính cách nhân vật,là “móc xích” cho những diễn biến những
tình tiết trong câu chuyện. Nhờ thơ mà văn xuôi mở ra nhiều chiều kích khác,
hấp dẫn người đọc hơn. Những bài thơ trong các tác phẩm có thể do nhân vật
sáng tác (tác giả sáng tác hộ nhân vật) cũng có thể do tác giả sáng tác một
cách trực tiếp.
Kết cấu truyện kể trung đại Việt Nam là một chỉnh thể chặt chẽ bởi
những chuỗi sự kiện. Thơ xuất hiện giữa những chuỗi sự kiện ấy như một yếu
tố liên kết đặc biệt quan trọng.
I.1.Thơ như là yếu tố dự báo trong kết cấu truyện kể của Thánh Tông di
thảo
Thơ đóng một vai trò không nhỏ trong truyện kể trung đại nói chung và
truyện truyền kỳ nói riêng.
Thơ tham gia vào tổ chức xây dựng cốt truyện. Ở đó nó đóng một vai
trò không thể thiếu. Nó tham gia kiến tạo những mô thức văn bản với nhiều
chức năng ý nghĩa khác nhau.
Trong Thánh Tông di thảo, thơ tham gia vào kết cấu truyện kể như một
mắt xích liên kết, sâu chuỗi các sự việc.
Truyện yêu nữ Châu Mai kể về câu chuyện tương phùng của yêu nữ tên
là Ngư Nương và Lương Nhân. Trước đây đời nhà Trần cuối niên hiệu Châu
Phong yêu nữ đã xuất hiện với nhiều hình quái gở, biến hiện, tác oai tác quái
cho bao nhiêu người mà không ai làm gì được. Khúc hát ai oán của nó không
13

Lang quân hỡi lang quân
14


Lâm cùng từ đi, ai người thân?
Khí gươm Thiên Vương, hầu không lánh thân.
Lang quân hỡi lang quân!
Như vậy, lời bài hát đầu câu chuyện như là một điềm báo, báo hiệu
những diễn biến về sau. Nó giống như một lời thông báo trước để lý giải mọi
hành động của nhân vật. Cho nên hai bài ca trong câu chuyện có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, bổ sung tương ứng cho nhau để chi phối và lí giải toàn bộ
câu chuyện. Đúng như lời bàn ở cuối câu chuyện “Ngẫm nghĩ hai bài ca: bài
trước có “chồng xưa”, bài sau có “cách biệt”, ngờ rằng Ngư Nương và Lương
Nhân nguyện cùng nhau có duyên Chu Trần, khi chết hồn không tan, lâu ngày
thành yêu, đến bây giờ lại làm vợ chồng”. Nếu không có những bài thơ dự
báo và ẩn chứa những điều bí ẩn trong hành tung của nhân vật đó thì câu
chuyện diễn ra thiếu hấp dẫn và rời rạc.
Truyện hai nữ thần tuy chỉ có ba bài thơ xuất hiện nhưng nó cũng đóng
một vai trò không thể thiếu trong cốt truyện. Nó cũng ẩn chứa những nỗi niềm
thầm kín của nhân vật và báo trước những diễn biến về sau, lý giải hành động
của nhân vật. Truyện kể rằng vào hồi năm thứ tư niên hiệu Thuận Thiên
(1431) có hai người đàn bà hình dung và tung tích rất lạ ngồi trong một quán
chợ để xem bói và đoán số. Tung tích của họ đầy bí ẩn ở chỗ: mỗi hôm một
địa điểm “sáng ở chợ Thanh Xuân, chiều ở chợ Dừa, khi ra Kinh Ấp, khi về
Tràng An, không nhất định ở nơi nào” rồi “cả chợ chưa ai trông thấy họ ăn
uống ra sao. Hễ mặt trời lặn là họ ra về. Có kẻ hiếu kỳ dò theo, có ý muốn
xem họ trú ngụ nơi đâu nhưng chỉ được vài bước là chóng mặt ngã lăn không
theo được nữa”. Hình dung cũng rất lạ “tuy ăn mặc mộc mạc, quần nâu áo
vải mà gương mặt sáng sủa ưa nhìn. Nhiều chàng trai ham sắc sinh lòng mơ
tưởng nhưng hễ kẻ nào manh tâm trêu ghẹo thì tự nhiên rối trí nhức đầu”. Tuy

Kia kìa đỉnh núi tượng nàng Tô.
Hai bài thơ ẩn chứa nhiều tâm tình nỗi niềm của hai người phụ nữ. Có lẽ nó
cũng chính là tín hiệu để người thương nhớ nhận ra họ. Khi gặp được “công
thần” – một nhà Nho già họ mới thực sự kể lại đầu đuôi câu chuyện và mục
đích du ngoạn của mình. Người có tuổi chính là cháu dâu của Long Vương
16


lang thang đi tìm con trai của mình “Năm xưa chồng tôi có thích hương sen
trắng bị chàng Kim Lân bơi đến hồ Dâm Đàm chơi không ngờ gặp phải ngảy
Vương Thông xem đánh cá ở đó bị nó bắt được đem giết đi” “Mối giận Kim
Lân dốc sông ngòi,/Đêm ngày tóc bạc lo ngay ngáy”. Chính vì thế mà con
trai của người phụ nữ này xin đi báo thù cho cha “Bấy giờ nó cưỡi ngựa
không vẩy, rẽ nước lên trần

…”. Đúng như lời bài hát đầy ám ảnh:

Ngựa không vẩy! Ngựa không vẩy!
Con báo thù cha, ai rằng không phải
Cho nên người phụ nữ ấy cứ mải miết đi tìm con, chờ con “Từ bấy đến nay,
đã qua ba mươi sáu năm, tựa cửa chờ con, không nơi nương tựa, tôi đành giả
tiếng đi bói để chờ con. Hôm mới đây tôi đã được tin sau khi lên trần con tôi
thờ vua Lê rất được tin yêu. Nó đã từng làm thích khách lẻn vào dinh Vương
Thông nhưng ba lần đâm đều không trúng cả. Khi vua Lê giảng hòa với
Vương Thông, cho Thông được toàn thân về nước, con tôi nghĩ mệnh vua là
trọng, không dám trái mệnh vua thì thù cha không bao giờ trả được. Nó bèn
trông về thủy phu bái vọng tôi rồi treo cổ lên cây tự sát cách đây bốn năm
rồi”. Hóa ra người con vì chữ hiếu mà quyết báo thù cho cha, vì chữ trung mà
ngậm ngùi uất hận treo cổ tự vẫn không quay trở về. Còn người mẹ già vì nhớ
con dùng câu thơ tiếng hát để đi tìm con.Bài thơ không chỉ là “tín hiệu riêng”

cậy nhờ nhà chú ruột. Còn nhỏ tính tình lười biếng ham chơi nên Chu Sinh bị
thím mắng nhiếc đuổi đi. Chu Sinh dọn về căn nhà hoang cũ của cha mẹ sống
một mình, hằng ngày người chú thương tình đem giấu tiền gạo đến cho và
khuyên giải nên về nhà sống cùng nhưng Chu Sinh không chịu. Bực tức và do
gia cảnh nghèo khó, người chú không chu cấp cho tiền gạo nữa. Giữa lúc đói
khát, Chu Sinh nằm mộng mình đến nước Hoa và được kết duyên cùng công
chúa Mộng Trang. Tuy kết duyên cùng nhau nhưng Chu Sinh không được
sống yên ấm trong cõi mộng mà đi đi về về trong cõi mơ thực. Không may,
nước Hoa bị giặc Ô Thước đe dọa xâm chiếm, Quốc Mẫu cùng công chúa
Mộng Trang và con trai Chu Sinh phải rời cố quốc. Tiễn biệt, công chúa
Mộng Trang có mười lạng vàng và lá ngọc đề bài thơ hẹn ước:
Nhất kiếm hoành thu lịch giản tuyền,
18


Nghĩ tương nhị tiểu thiếp song thiên.
Hoa cương đối ngạn ưng đông thượng,
Hồ Thủy lâm lưu thả hữu tuyền.
Nhất thập nhất triêu tiên túc hối,
Lục thiên thử dạ thoại tiền duyên.
Lương nhân vật tác mê hoa ý,
Điên đảo phùng quân thật ngũ niên.
Nghĩa là:
Một thanh gươm đương mùa thu vượt qua khe suối.
Định đem nhị tiểu tiếp vào song thiên.
Đến chỗ đối ngạn với núi Hoa thì nên rẽ về đông,
Tới ngòi Hồ thì quay về hữu
Ngày “nhất thập nhất” sẽ tiêu trừ túc hối;
Đêm “lục thiên” ấy sẽ nói chuyện về duyên trước.
Khuyên chàng đừng quá lòng mê hoa,

Sinh hiểu ra tất cả, bèn làm theo đánh tan được giặc và gặp lại Mộng Trang.
Nếu không có bài thơ thì hẳn Chu Sinh không đánh tan được giặc bởi bài thơ
như một kế sách, mưu kế được tính sẵn từ trước mà Mộng Trang đã giúp Chu
Sinh. Không có bài thơ ắt hẳn Chu Sinh cũng không tìm được Mộng Trang –
người vợ con gái bướm của mình. Bài thơ không chỉ là lời hẹn ước, lời tiên tri
đoán trước sự việc tương lai mà còn là sự định hướng cho nhân vật với những
hành động đã được định sẵn. Như vậy, thiếu bài thơ này thì câu chuyện đến
khi giặc Vũ Văn Hối sang xâm lược ắt hẳn sẽ kết thúc từ đó. Có thể nói, bài
thơ đã làm cho câu chuyện diễn tiến và sâu chuỗi các sự kiện một cách li kì
hấp dẫn.
I.2.Thơ như là yếu tố miêu tả trong kết cấu truyện kể của Truyền kỳ mạn lục.
So với Thánh Tông di thảo, thơ trong Truyền kỳ mạn lục xuất hiện
nhiều hơn và cũng có vai trò nhiều hơn trong kết cấu truyện kể. Xưa nay
truyện tình yêu nam nữ với xã hội phong kiến là một điều không thể nơi lỏng
cũng không được phép tự do. Hơn nữa trong văn học trung đại Việt Nam vấn
đề này lại càng được câu thúc chặt chẽ. Tuy nhiên đến thể loại truyền kỳ Việt
20


Nam nói chung và Truyền kỳ mạn lục nói riêng thì thứ tình cảm riêng tư này
được nhìn nhận “thoáng hơn” dưới con mắt của Nguyễn Dữ. Có lẽ cũng bởi
vì “Con người trong giai đoạn trước thường là những bức chân dung nhìn
ngay ngó thẳng cứng nhắc trong các khuôn mẫu tam cương ngũ thường tam
tòng tứ đức, con người của tinh thần ý chí, tư giáo và giáo điều thì nay bước
vào văn học là những con người trần thế với da thịt và nhu cầu, hành động và
ước muốn chủ quan của nó. Tất cả bắt đầu một cách rõ rệt từ Truyền kỳ mạn
lục, một quan niệm mới về phản ánh con người đã xuất hiện. Con người đó
không phải là những tấm gương chói lóa về các anh hùng, liệt nữ lưu danh sử
sách mà là những con người của đời sống thực tế sôi động, cay nghiệt”
[11;10]. Đó chính là lý do mà rất nhiều bài thơ xuất hiện trong Truyền kỳ mạn

Xuân hết cành quyên khắc khoải kêu
Đồng huyệt chưa tròn nguyền ước ấy,
Vì nhau một thác sẵn xin liều.
Những từ “măng ngọc vuốt ve”, “nghiêng xuyến trạm”, “trút hài thêu”,
“bâng khuâng lạc”, “khắc khoải kêu”… đầy sức gợi. Nó vừa gợi tả không
gian tình tứ của đôi lứa vừa gợi tả một cách cụ thể “cuộc ấp yêu”. Từng lời
thơ, ý thơ đều diễn tả cuộc tình ân ái hết sức thỏa mãn của đôi trai gái. Những
hình ảnh , ngôn từ được tác giả sử dụng khá táo bạo và lộ liễu nhưng đã gợi
nên rất chân thực cảnh chốn phòng loan của đôi lứa. “Xuân tận tam canh” là
khoảng thời gian đôi trai gai bên nhau nồng đượm đến tận canh ba (quá nửa
đêm). Cả không gian và thời gian đều miêu tả cảnh chốn phòng loan của đôi
lứa mang màu sắc tính dục rõ nét. Có thể nói đây là những câu thơ dường như
muốn thách thức với cả “bức tường trì kiên cố” của quan niệm phong kiến và
thơ ca trung đại. Nó cho thấy sự bất chấp mọi khuôn phép, lễ giáo phong kiến
của hai nhân vật khi họ say đắm thể hiện tình cảm với nhau. Không dừng lại ở
đó, Nguyễn Dữ còn cực tả hơn, cuộc hoan lạc ngày càng mãnh liệt hơn:
II
Giai kỳ nhẫn phụ thử lương tiêu
Túy bão ngân tranh bát phục khiêu…
Ngọc yến nhiệm dung trâm trụy kế,
22


Kim thuyền kỳ phạ thúc tiêm yêu.
Yên thư đường ngạc hồng do thấp,
Hãn thối mai trang bạch vị tiêu.
Tảo vãn kết thành loan phượng hữu,
Phong trần nguyệt tịch nhiệm chiêu yêu.
Dịch:
Đêm đẹp này đâu nỡ bỏ hoài,

tìm lấy những thú vui. Kẻo một sớm chết đi, sẽ thành người của suối vàng, dù
có muốn tìm cuộc hoan lạc ái ân, cũng không thể được nữa.” Lễ giáo phong
kiến không cho phép người con gái chủ động đến táo bạo như vậy. Dù có
khao khát bao nhiêu thì người con gái cũng chết lặng trong những sự sắp xếp
đầy khiên cưỡng của gia đình. Cho nên số phận của họ luôn bị phụ thuộc và
không được tự định đoạt. Bi kịch hay hạnh phúc là do ông trời sắp đặt, ông tơ
se vần. Tuy nhiên đến đây chúng ta có thể thấy, Nhị Khanh chủ động tìm đến
hạnh phúc đôi lứa như là khát khao sự sống cho nên từng lời lẽ thật là táo bạo
“Nay dám mong quân tử quạt hơi dương vào hang tối, thả khí nóng tới mầm
khô, khiến cho tía rụng hồng rơi, được trộm bén hơi xuân quang đôi chút, đời
sống của thiếp như thế sẽ không phải phàn nàn gì nữa”. Cuối cùng Nhị Khanh
và Trình Trung Ngộ cũng được bên nhau mãi mãi thỏa lòng mong ước khi
Trình Trung Ngộ bị Nhị Khanh quyến rũ, rủ rê, chết và biến thành hồn ma
như Nhị Khanh. Tuy nhiên hai hồn ma này cứ phảng phất quẩn quanh quấy
nhiễu dân lành. Đây phải chăng là ý đồ phê phán của tác giả? Cũng phải công
bằng rằng phác họa bức chân dung một người phụ nữ dám yêu, dám khao
khát và quyết liệt trong sự tìm kiếm hạnh phúc là một ý đồ nghệ thuật của
Nguyễn Dữ. Ông đã lên tiếng bênh vực cho người phụ nữ - nạn nhân bất hạnh
nhất của xã hội phong kiến. Ông đã ca ngợi quyền sống, quyền yêu, quyền
được hạnh phúc của người phụ nữ qua hình tượng hồn ma Nhị Khanh. Đó
chính là khía cạnh nhân văn cao cả của những bài thơ dục cảm. Và chính
những bài thơ đó cũng là một phương thức không thể thiếu, không thể thay
thế để giúp nhà văn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của mình.

24


Thơ ca mang đậm tính trữ tình, mượt mà, giàu sắc thái biểu hiện cũng
như những cung bậc cảm xúc trong tình yêu. Để bộc lộ tình cảm với nhau
trong tình yêu, các nhân vật đã dùng thơ để biểu hiện. Bằng thơ ca, họ càng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status