Đặc điểm ký sự chiến tranh chống Mỹ giai đoạn 1954 1975 (qua một số tác phẩm tiêu biểu) - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN NGỌC LAN

ĐẶC ĐIỂM KÝ SỰ CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ
GIAI ĐOẠN 1954 – 1975
(QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN


2
NGHỆ AN – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN NGỌC LAN

ĐẶC ĐIỂM KÝ SỰ CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ
GIAI ĐOẠN 1954 – 1975
(QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐINH TRÍ DŨNG


1.2.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội........................................................................21
1.2.2. Bức tranh chung của văn học viết về chiến tranh giai đoạn 1954 - 1975
.........................................................................................................................28
1.3. Nhìn chung về ký và ký sự viết về chiến tranh giai đoạn 1954 -1975........................................35
1.3.1. Đội ngũ sáng tác................................................................................................................35
1.3.2 Thành tựu...........................................................................................................................38
1.3.3. Ý nghĩa, tác động to lớn đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ............................................41
Chương 2.........................................................................................................................................44
ĐẶC ĐIỂM KÝ SỰ CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ...................................................................................44


6
GIAI ĐOẠN 1954 - 1975 NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NỘI DUNG.................................................................44
2.1. Tái hiện chân thật những gian khổ, đau thương, mất mát trong chiến tranh.......................44

2.1.1. Bộ mặt tàn bạo của kẻ thù.....................................................................44
2.1.2. Những đau thương, mất mát của nhân dân và người lính.....................47
2.2. Khắc họa vẻ đẹp của con người Việt Nam trong cuộc đụng đầu lịch sử...............................51

2.2.1. Hình ảnh người lính...............................................................................51
2.2.2. Hình ảnh nhân dân.................................................................................54
2.3. Niềm tin vào lẽ phải, lương tri và sự thắng lợi tất yếu của chính nghĩa................................57

2.3.1. Niềm tin vào lẽ phải, lương tri con người.............................................57
2.3.2. Niền tin vào thắng lợi............................................................................58
Chương 3.........................................................................................................................................62
ĐẶC ĐIỂM KÝ SỰ CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ...................................................................................62
GIAI ĐOẠN 1954-1975 NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NGHỆ THUẬT..............................................................62
3.1. Cách lựa chọn sự kiện, chi tiết..............................................................................................62

Đi sâu tìm hiểu ký sự chiến tranh chống Mỹ giai đoạn 1954 – 1975, chúng ta
sẽ hiểu hơn bức tranh văn học của một thời kỳ sôi động: thời kỳ chống Mỹ.
1.2. Trong loại hình ký, bộ phận ký sự chiến tranh đã xuất hiện và góp
một tiếng nói trong việc phản ánh chân thực hiện thực chiến tranh lúc bấy giờ,
với các tác phẩm đã được bạn đọc chú ý như Trận Phố Ràng của Trần Đăng,
ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, Chúng tôi ở Cồn cỏ của Hồ
Phương, ký sự Miền đất lửa của Nguyễn Sinh – Vũ Kỳ Lân, Tháng ba ở Tây
Nguyên của Nguyễn Khải, Bắc Hải Vân xuân 1975 của Xuân Thiều ... Các tác
phẩm ký sự đã phản ánh kịp thời, nhiều mặt của hiện thực đời sống gian khổ
nhưng hào hùng của dân tộc ta, xứng đáng là đội quân xung kích của văn học
thời kỳ chiến tranh. Thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ có điều kiện tìm hiểu
sâu hơn những thành tựu và cả quy luật vận động của thể loại ký trong văn
học Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975.
1.3. Công tác tại Khu di tích lịch sử Thanh niên xung phong Ngã ba
Đồng Lộc – toạ độ chết năm xưa; ngày nay là một địa chỉ đỏ, nơi giáo dục


8
truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay và
mai sau, việc thực hiện đề tài có ý nghĩa rất lớn, giúp ích nhiều cho công tác
chuyên môn.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm ký sự chiến
tranh chống Mỹ giai đoạn 1954 – 1975 (Qua một số tác phẩm tiêu biểu) làm
luận văn của mình. Hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ góp thêm tiếng nói khẳng
định giá trị nội dung và nghệ thuật của ký sự chiến tranh giai đoạn 1954 – 1975.
2. Lịch sử vấn đề
Ký là một loại hình ra đời tương đối sớm trong lịch sử văn học Việt
Nam. Dựa vào những tư liệu còn lại cho đến nay, có thể khẳng định ký ra đời
cùng với nền văn học viết dân tộc. Có nhiều tác phẩm ký ra đời trong thời
trung đại như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Tây hành nhật ký của

viết về cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Ông tiếp tục theo dõi, khảo sát
con người xã hội chủ nghĩa, ca ngợi nó trên đỉnh cao của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng” [30, 258].
Trong cuốn Từ điển Văn học bộ mới của nhóm tác giả Đỗ Đức Hiểu,
Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá đồng chủ biên có đề cập đến
các tác phẩm ký sự chống Mỹ giai đoạn 1954 – 1975 như: Họ sống và chiến
đấu, Chúng tôi ở Cồn Cỏ, Sóng Hòn Mê...
Cũng trong cuốn Từ điển này, các tác giả có viết về Nguyễn Khải và
khẳng định những thành tựu mà ông gặt hái được qua thể ký sự: “Bám sát cuộc
sống hiện tại, hướng ngòi bút về những vấn đề thời sự của đời sống, tác phẩm
của Nguyễn Khải có sức mạnh của lý trí tỉnh táo, nhạy bén, năng lực phân tích
tâm lý và diễn biến tư tưởng cùng với những nhận xét thông minh, sắc sảo.
Nguyễn Khải thể hiện sự tham gia tích cực và kịp thời của nhà văn vào đời
sống xã hội trên lĩnh vực tư tưởng và góp phần mở ra khuynh hướng văn xuôi
chính luận – triết luận trong văn học Việt Nam đương đại” [47, 1156].


10
Bàn về các tác phẩm ký sự giai đoạn 1954 – 1975, trong cuốn Văn học
1975 – 1985 tác phẩm và dư luận do nhóm Ngô Trang, Vân Trang, Bảo Hưng
sưu tầm và chủ biên, đánh giá về tác phẩm Ký sự miền đất lửa: “Phản ánh
hiện thực nóng bỏng và đầy tính oanh liệt trên mảnh đất Vĩnh Linh kỳ thú anh
hùng. Ký sự miền đất lửa có một sức hấp dẫn kỳ lạ. Trước hết là sự chân thực,
sinh động, là điển hình của các sự kiện, nhân vật, sự phong phú của hiện thực
đất nước” [56].
Trong cuốn Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm (2007) do hai tác giả
Hà Công Tài và Phan Diễm Phương tuyển chọn và giới thiệu có những trang
đánh giá cao về tác phẩm ký sự Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải:
“Ghi lại một cách trung thực, đầy xúc động những diễn biến của sự kiện lớn
vào bậc nhất trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc ta. Nguyễn Khải đã bước

- Tìm hiểu những đặc sắc về nội dung của ký sự chiến tranh chống Mỹ
giai đoạn 1954 – 1975 (qua một số tác phẩm tiêu biểu).
- Tìm hiểu những đặc sắc về nghệ thuật của ký sự chiến tranh chống
Mỹ giai đoạn 1954 – 1975 (qua một số tác phẩm tiêu biểu).
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân loại - thống kê
6. Dự kiến đóng góp mới của luận văn.
6.1. Góp phần tìm hiểu những đặc sắc của ký sự chiến tranh giai đoạn
1954 – 1975 nhìn từ bình diện nội dung và bình diện nghệ thuật thể hiện qua
một số tác phẩm ký sự tiêu biểu để từ đó làm cơ sở cho những bài nghiên cứu
về ký sự giai đoạn sau.


12
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Bức tranh chung của ký viết về chiến tranh trong văn học
Việt Nam giai đoạn 1954-1975.
Chương 2: Đặc điểm ký sự chiến tranh chống Mỹ giai đoạn 1954 –
1975 nhìn từ bình diện nội dung.
Chương 3: Đặc điểm ký sự chiến tranh chống Mỹ giai đoạn 1954 –
1975 nhìn từ bình diện nghệ thuật.


13
Chương 1
BỨC TRANH CHUNG CỦA KÝ VIẾT VỀ CHIẾN TRANH

gồm cả tự sự, nghị luận trữ tình vào một thể, là một thể văn mà các văn gia cổ
vận dụng vô cùng rộng ” [46, 22].
Trong 150 thuật ngữ văn học các tác giả định nghĩa: “Ký là tên gọi
chung của một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn
học (báo chí, ghi chép...), chủ yếu là văn xuôi tự sự. Ký khác với truyện ở chỗ
trong tác phẩm ký không có một xung đột thống nhất, phần khai triển của tác
phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật” [4, 179].
Hoàng Ngọc Hiến trong cuốn Năm bài giảng về thể loại có viết: “Trong
nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại, ký là một thuật ngữ được dùng để
gọi tên một thể loại văn học bao trùm nhiều “thể” hoặc “tiểu loại”: Bút ký, hồi
ký, du ký, chính luận, phóng sự, tùy bút, tản văn, tạp văn...[17, 13].
Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên, ký là: “Loại hình trung gian nằm giữa báo
chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký,
du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký...[15,111]. Trong cuốn Từ điển này cũng nói
đến đối tượng nhận thức của thể ký thường là: “Một trạng thái tồn tại của con
người hoặc những vấn đề xã hội nóng bỏng”[15,111].
Từ điển Văn học (bộ mới) định nghĩa ký là một “Thể văn tự sự viết về
người thật, việc thật, có ý nghĩa thời sự, trung thành với hiện thực ở mức cao”
[47, 501]. Theo giáo trình Lý luận văn học do Giáo sư Hà Minh Đức chủ biên
“Ký không phải là một thể loại đồng nhất mà bao gồm nhiều hình thức ghi
chép, miêu tả và biểu hiện về cuộc sống trong văn xuôi từ ký sự, phóng sự,
bút ký, hồi ký, du ký đến nhật ký, tùy bút, tiểu phẩm văn học, bút ký chính
luận” [10, 190].


15
Từ nghiên cứu trên chúng tôi thấy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về
thể loại ký. Nhưng dù đứng ở góc độ nào các nhà nghiên cứu cũng quan tâm
đến các sự kiện, hoàn cảnh lịch sử, những biểu hiện của đời sống có thực. Ký

Chính vì những tính chất nói trên mà ký có một phạm vi biểu hiện rất
rộng lớn trong việc phản ánh, tái hiện cuộc sống cũng như phát huy vai trò sáng
tạo của người cầm bút. Nhà văn viết ký ngoài yêu cầu chưng cất hiện thực, sự
kiện còn là nơi để ngòi bút và cảm xúc được thử sức. Vì sự đa dạng, phong phú
của ký chúng ta có thể thấy rằng ký có một sự đóng góp không nhỏ đối với nền
văn học cách mạng nói riêng, nền văn học nước nhà nói chung.
1.1.2. Khái niệm ký sự
Khác với các tiểu loại khác trong ký, ký sự nhằm ghi chép lại một câu
chuyện, một sự kiện tương đối hoàn chỉnh. Ký sự thường xuất hiện trong
những thời kì lịch sử có những diễn biến quan trọng. Đây là thể loại có nhiệm
vụ ghi lại những sự kiện phát triển trong một thời gian khá dài, ngoài trục
chính còn có thể có những tuyến nhỏ ngang dọc đan chéo nhau làm nổi rõ
hướng vận động, phát triển của thời cuộc. Trong ký sự người viết phải tôn
trọng tiếng nói khách quan của sự kiện: “Người viết ký có quyền bình luận,
phân tích nhưng chủ yếu vẫn là tiếng nói của bản thân sự sống đang vận động,
phát triển". Tác giả phải biết phát hiện, chọn lọc để làm nổi lên những điển
hình xã hội tiêu biểu, những con người, sự việc giàu ý nghĩa xã hội và sức
khái quát. Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Bắc hành tùng kí của Lê
Quýnh được đánh giá là những tác phẩm tiêu biểu cho tiểu loại này. Tác phẩm
tái hiện khá rõ nét và đầy đủ bộ mặt của thời đại thông qua những bức tranh
miêu tả sinh động. Đặc biệt Thượng kinh kí sự “đánh dấu trình độ ký sự văn
học cổ điển Việt Nam đã đạt đến trình độ cao, có tính chất đột phá sáng tạo,


17
bởi nếu như không nhầm thì chưa thấy tác phẩm tương tự trong văn Trung
Quốc, một xứ sở trường về ký ngắn, tản văn ngắn” [47, 332].
Ký sự là một thể loại ký tự sự có ý thức hướng tới ghi chép khá hoàn
chỉnh một sự kiện, một phong trào, một chiến dịch, một giai đoạn sinh thành
của một đối tượng khách quan nào đó. Ký sự không đột phá vào “đặc điểm”

Theo Hà Minh Đức ký sự thuộc nhóm ký tự sự (phóng sự, ký sự, truyện
ký, hồi ký). Tuy nhiên, khác với các tiểu loại khác trong ký, ký sự nhằm ghi
chép và tái hiện một sự kiện, một câu chuyện tương đối hoàn chỉnh, đưa một
lượng thông tin nóng, cập nhật và giàu giá trị biểu cảm đến với người đọc. Ký
sự thường xuất hiện trong những thời kỳ lịch sử có những diễn biến phức tạp.
Ký sự có quy mô tương ứng với truyện ngắn, truyện vừa hoặc tiểu thuyết
nhưng viết về người thật, việc thật mà tác giả là người trong cuộc, trực tiếp
chứng kiến hay được nghe kể lại, được nắm giữ tư liệu một cách tường tận, tỷ
mỉ về sự việc và con người ở một thời điểm, một không gian và một địa danh
cụ thể. Ký sự cũng gần với truyện nhưng có quan điểm của thể loại: tôn trọng
sự thật khách quan của đời sống. Người viết ký luôn có ý thức đẩy người và
việc lên phía trước, đưa những xung đột tính cách và hoàn cảnh lùi lại ở phía
sau, đảm bảo tính xác thực của hiện thực đời sống phản ánh trong tác phẩm.
Trong Từ điển Văn học (bộ mới) do Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi,
Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá Đồng chủ biên (Nhà xuất bản Thế giới năm
2004) định nghĩa về ký sự: “Một nhóm thể loại nằm trong nhóm thể tài ký,
chuyên ghi chép một sự kiện, một câu chuyện tương đối hoàn chỉnh mà người
ghi lại là người trong cuộc, tham gia vào mọi diễn biến như một nhân vật dẫn
chuyện hoặc nhân vật chính, nhưng mục tiêu của sự trần thuật lại không
hướng đến sự giãi bày cái “tôi” của mình. Như vậy, đối tượng của ký sự là sự
thật diễn ra ngoài ý định chủ quan của tác giả. Tác giả chỉ có thể lựa chọn để


19
ghi lại theo cảm hứng và cảm quan cá nhân chứ không có quyền hư cấu thêm.
Cảm quan cá nhân trong ký sự cũng bộc lộ kín đáo, thông qua thao tác ghi
chép khách quan, ít khi trở thành một phát ngôn lộ liễu. Sự thật mà tác giả
chứng kiến và nếm trải với những diễn biến liên tục của nó, theo trình tự thời
gian làm nên tình tiết và kết cấu của một thiên ký sự...” [47, 787-788].
1.1.3. Đặc điểm nổi bật của ký sự

như những tư liệu lịch sử quý giá, có ý nghĩa và tác dụng to lớn ngay đối với
sự sáng tạo nghệ thuật về sau.
Ký sự ghi chép và tái hiện một sự kiện, một câu chuyện tương đối hoàn
chỉnh, đưa một lượng thông tin nóng, cập nhật và giàu giá trị biểu cảm đến
với người đọc. Với ký sự, cuộc sống có thể được ghi rõ từng chi tiết, từng sự
kiện để thông qua đó phản ánh cái hay, cái đẹp, những giá trị xã hội, thẩm mỹ
của con người.
Ngôn từ trong ký sự mang đậm tính chủ thể, gắn với đặc điểm sáng tạo
của nhà văn.
Ký sự có những đặc điểm chung với bút ký như viết về người thật, việc
thật mà tác giả là người trực tiếp chứng kiến; cốt truyện không chặt chẽ như
trong truyện, sử dụng nhiều biện pháp và phương tiện biểu đạt nghệ thuật...
song ở ký sự phần bộc lộ cảm nghĩ của tác giả và những yếu tố liên tưởng,
nghị luận thường ít hơn ở bút ký, tùy bút.
Nhà văn luôn là người chứng kiến, ghi nhớ và ghi chép lại những gì
mình đã quan sát được. Khác với ngôn từ nghệ thuật của các thể loại văn học
khác, ngôn từ của thể loại ký sự luôn có xu hướng dung nạp nhiều hình thức
và phong cách sáng tạo. Đây là thể loại linh hoạt về giọng điệu: giọng trần
thuật khách quan – bình đạm, giọng trần thuật kết hợp giữa kể - tả với bình
luận trữ tình đến lối viết giản dị. Theo cách định nghĩa trong Từ điển thuật


21
ngữ văn học thì đặc điểm của thể loại ký sự là bộc lộ cảm nghĩ của tác giả và
những yếu tố liên tưởng, nghị luận thường ít hơn bút ký, tùy bút.
Nói tóm lại, đặc điểm nổi bật của ký sự là tính xác thực, tính chiến đấu
và tính thời sự cao. Đúng như Pôlêvô đã nói: “Một bài ký sự hay quả thật là
một bài có đủ đặc trưng của thể loại báo chí thuần túy, nó hết sức cụ thể, có thể
tái hiện được sự thật chân chính. Những nhân vật tạo nên phải là những con
người thật trong cuộc sống hiện thực, những sự việc mô tả phải dính chặt với

vật chất cũng như tinh thần bị tổn thất nặng nề. Trước tình hình đó tháng 9
năm 1954, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết và vạch rõ nhiệm vụ trước mắt là ổn
định trật tự xã hội, ổn định vật giá, ổn định thị trường. Trọng tâm ở cả thành
phố và nông thôn là phục hồi và nâng cao sản xuất. Phục hồi kinh tế quốc dân
mà then chốt là phát triển sản xuất nông nghiệp. Với quyết tâm cao độ, cuối
năm 1957 kế hoạch khôi phục kinh tế căn bản đã hoàn thành và nhiều chỉ tiêu
đặt ra đã hoàn thành vượt mức. Nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải
đã có bộ mặt mới. Đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế đã phát triển
nhanh chóng.
Sau ba năm khôi phục kinh tế với nhiều thành quả quan trọng, miền
Bắc sôi nổi bước vào giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế.
Không khí này diễn ra trên tất cả các vùng miền từ đồng bằng đến trung du
miền núi, từ nông thông đến thành thị; ở tất cả các ngành từ công nghiệp,
nông nghiệp, thương nghiệp, giáo dục, y tế. Với những chương trình như hợp
tác hóa nông nghiệp, phát triển thành phần kinh tế quốc doanh... “Kết quả cải
tạo xã hội chủ nghĩa đã có tác động tích cực trong việc xóa bỏ cơ bản chế độ
người bóc lột người, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nhất là trong điều
kiện có chiến tranh” [16,148]. Thắng lợi của kế hoạch ba năm (1958 -1960)
và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những chuyển biến to lớn trên toàn
miền Bắc nước ta.


23
Ở miền Nam trước khi hiệp định Giơnevơ được ký kết Mỹ đã đưa Ngô
Đình Diệm lên làm thủ tướng bù nhìn ở miền Nam Việt Nam. Sau khi lên
cầm quyền Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam thành “quốc gia mạnh”,
chúng đã đưa những chính sách cực kỳ độc ác, dã man, đặc biệt là đưa lối
sống Mỹ tràn vào miền Nam để đầu độc, đặc biệt là tầng lớp thanh – thiếu
niên. Chúng dùng đủ mọi thủ đoạn, vừa mua chuộc, vừa mị, vừa đàn áp trắng
trợn, cưỡng bức dân ta trong các chiến dịch tố cộng, vu khống, tố cáo cộng

thần của người dân không ngừng được nâng cao. Trong năm năm này, đời
sống của nhân dân miền Bắc ổn định, với tinh thần tất cả cho chủ nghĩa xã
hội. Thắng lợi của kế hoạch năm năm lần thứ nhất tạo một bước chuyển biến
mạnh cho nền kinh tế: “Thắng lợi đó đã tạo cho miền Bắc cơ sở chính trị, tinh
thần và vật chất để bảo vệ, liên tiếp đánh thắng các cuộc chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ sau này, đồng thời làm tròn nhiệm vụ cơ sở của cách mạng
giải phóng miền Nam, hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam và là hậu
phương lớn của cách mạng ba nước Đông Dương” [16, 179].
Trong khi đó, ở miền Nam tình hình xã hội có nhiều biến động. Sau khi
Kennơđi lên làm tổng thống, Mỹ đã điên cuồng chống phá cách mạng Việt
Nam dưới nhiều hình thức, tiêu biểu là thực hiện kiểu chiến tranh đặc biệt.
Chúng đã dồn nhân dân vào ấp chiến lược để dễ dàng cho chúng thực hiện âm
mưu của mình. Chúng dùng sức mạnh của bộ máy quân sự, chính trị để cưỡng
bức, càn quét dài ngày vào tận Bến Cát, Tây Ninh, Bình Định, Phú Yên...Đời
sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ đau thương. Tháng 1 năm 1961, Bộ
chính trị họp quyết định về những nhiệm vụ công tác trước mắt của cách
mạng miền Nam, theo đó phong trào cách mạng Việt Nam đã có nhiều thay
đổi. Đấu tranh vũ trang được phát huy với quy mô ngày càng lớn, kết hợp với
đấu tranh chính trị. Phong trào này bước đầu đã phá vỡ từng mảng chính
quyền địch ở nông thôn, tiêu diệt và làm tan rã hàng vạn tề ngụy, phá gần hết


25
các “khu dinh điền”, “khu trù mật” của địch... đưa khí thế cách mạng ngày
càng dâng cao. Đã có những sự kiện điển hình, tiêu biểu cho phong trào
chống Mỹ trong giai đoạn này như: chiến thắng Ấp Bắc – Mỹ Tho vào tháng
1 năm 1963, hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối đế quốc Mỹ
ngày 11 tháng 6 năm 1963... những sự kiện đó làm xúc động lòng người và
làm cho khí thế cách mạng được dâng cao. Việc chiến tranh đặc biệt của Mỹ
bị phá sản đánh dấu một bước phát triển mới của cách mạng miền Nam, minh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status