ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ VÂN
NHẬT KÝ CHIẾN TRANH VIỆT NAM QUA MỘT SỐ
TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
M· sè: 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Dục Tú
HÀ NỘI – 2010
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÝ – NHẬT KÝ
CHIẾN TRANH
8
1.1.
Về thể loại nhật ký
8
1.1.1. Định nghĩa nhật ký
8
1.1.2. Một vài đặc điểm của thể loại nhật ký
10
1.2.
Về hiệu ứng xã hội và giá trị văn học của nhật ký chiến tranh
13
1.2.1. Về nhật ký chiến tranh và một số đặc điểm thể loại
13
1.2.2. Về hiệu ứng xã hội và giá trị văn học của nhật ký chiến tranh
18 Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA NHẬT KÝ
CHIẾN TRANH
22
2.1.
Tái hiện chân thực nhất hiện thực chiến trường
22
Ghi chép linh hoạt
70
3.3.
Giọng điệu di chúc
74 KẾT LUẬN
78
THƯ MỤC TÀI LIỆU
81 Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Chiến tranh đã qua hơn ba mươi năm nay, song dư âm của hai cuộc
chiến “chấn động địa cầu” chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc dường như
vẫn còn vang vọng trong tâm thức mỗi con người Việt Nam. Hai cuộc chiến
thần thánh đã được khắc họa rõ nét trong những cuốn tiểu thuyết, những
truyện ngắn đầy sức ám ảnh, những bài thơ phơi phới tinh thần lạc quan cách
mạng… Với sự đa dạng, phong phú về thể loại, dòng văn học viết về chiến
tranh đã cho ta thấy được hiện thực khốc liệt của chiến tranh trên khắp dải đất
hình chữ S cũng như tinh thần chiến đấu quật cường của quân và dân Việt
Nam.
thực tiễn.
Như vậy, với giá trị lớn về mặt tư liệu, những đóng góp về mặt thể
loại… nhật ký chiến tranh là một thể loại đầy hứa hẹn, có đóng góp lớn trong
văn đàn Việt Nam. Tuy thế, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên
cứu về nhật ký chiến tranh. Đó chính là lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu với mong
muốn góp tiếng nói của mình vào việc khẳng định giá trị của thể loại này.
2. Phạm vi đề tài
Về dòng sách nhật ký chiến tranh, có các cuốn nhật ký ra đời trong
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tuy nhiên, số lượng nhật ký trong thời
kỳ kháng chiến chống Pháp không nhiều, nên luận văn chủ yếu tập trung vào
một số nhật ký chiến tranh thời kỳ chống Mỹ.
Có rất nhiều tác phẩm xuất bản sau năm 1986 gây được tiếng vang với
công chúng cũng như trong giới nghiên cứu phê bình. Có thể thấy được rằng,
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
3
sau thành công “mở đường” của hai cuốn nhật ký được đánh giá “đầy chất
lửa” là Mãi mãi tuổi hai mươi (Nhật ký của Nguyễn Văn Thạc) và Nhật ký
Đặng Thùy Trâm thì đã có một loạt tác phẩm ra đời và cũng đã để lại ấn
tượng nhất định với độc giả như: Đường về (Nhật ký của sỹ quan đặc công
Phạm Thiết Kế), Nhật ký Chu Cẩm Phong, Nhật ký chiến tranh (Nhật ký của
Trình Văn Vũ), Tài hoa ra trận (Nhật ký của Hoàng Thượng Lân), Nhật ký
chiến trường (Nhật ký của Dương Thị Xuân Quý)…
Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn nhật ký của 6 chiến sỹ - liệt sỹ
mà theo chúng tôi đã hội tụ được những yếu tố được coi là tiêu biểu trong
tương quan với các tác phẩm cùng đề tài:
+) Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm (Nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm)
+) Mãi mãi tuổi hai mươi (Nhật ký của Nguyễn Văn Thạc)
4. Lịch sử nghiên cứu
4.1. Nhật ký là thể loại vốn dĩ hơi “kín tiếng” trong văn học Việt Nam.
Nhật ký chiến tranh cũng vậy, có thể nói trước những năm 1986 thì số lượng
những cuốn nhật ký chiến tranh ít ỏi đến mức đếm trên đầu ngón tay và chưa
thu hút được sự quan tâm của người đọc cũng như của giới nghiên cứu. Trong
các công trình nghiên cứu về thể loại, nhật ký được điểm mặt sơ lược với định
nghĩa và một số đặc trưng cơ bản; chưa thấy xuất hiện nghiên cứu về thể loại
nhật ký chiến tranh.
4.2. Từ sau năm 1986, đặc biệt là từ những năm 2005 trở lại đây, sau
thành công vang dội của Mãi mãi tuổi hai mươi và Nhật ký Đặng Thùy Trâm
thì những cuốn nhật ký chiến tranh đã được tập hợp và phát hành rộng rãi, thu
hút được sự quan tâm rất lớn của công chúng và các nhà nghiên cứu, tạo nên
một “cơn sốt” trong văn học. Những bài viết giới thiệu, nghiên cứu và phê
bình về thể loại này xuất hiện ngày càng nhiều trên các báo giấy và báo điện
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
5
tử, đặc biệt dày đặc trong hai năm 2005 và 2006. Có thể thống kê được hàng
chục bài báo về đề tài này. Nội dung của loạt bài này có thể phân chia như
sau:
- Những bài mang tính chất giới thiệu và tản mạn về hành trình xuất
hiện của cuốn sách như: Đọc nhật ký chiến tranh: Một tác phẩm văn học kỳ lạ
[61], Thêm một cuốn “Nhật ký chiến tranh” xúc động [59], Có thêm một nhật
ký chiến tranh chân thật [58]… Loạt bài này chủ yếu giới thiệu về sự xuất
hiện của các cuốn nhật ký chiến tranh, hành trình của cuốn sách đến tay độc
giả, thường rất ngắn gọn và mang tính báo chí chứ không mang tính chất
nghiên cứu. Ví dụ như cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã có 35 năm được lưu
giữ bởi một người lính phía bên kia chiến tuyến, qua bao khó khăn mới tìm
được gia đình của nữ bác sỹ và cho in thành sách…
so với các tác phẩm khác mà không đề cập rộng đến dòng sách nhật ký chiến
tranh cũng như đặc điểm về nghệ thuật của cuốn nhật ký, của dòng sách này.
Như vậy, nghiên cứu về nhật ký chiến tranh có thể nói mới chỉ ở những
bước chập chững đầu tiên, dừng ở việc giới thiệu sách và khai thác thông tin
bên ngoài tác phẩm. Nhật ký chiến tranh với đầy đủ nét đặc sắc về nội dung
và nghệ thuật chưa được đặt thành vấn đề nghiên cứu hợp lý, chưa có một
công trình nghiên cứu chuyên sâu và quy mô nào. Có thể nói luận văn của
chúng tôi là một hướng đi khá mới mẻ trong việc nghiên cứu về đặc trưng cơ
bản nhất của nhật ký chiến tranh cùng giá trị văn học, hiệu ứng xã hội, ý
nghĩa tinh thần cũng như đóng góp về thể loại của dòng sách này. Vì thế, luận
văn không tránh khỏi thiếu sót, kính mong hội đồng và các thầy cô cho ý kiến
đóng góp để luận văn hoàn thiện hơn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp thống kê, chứng minh và kết luận, so sánh đối chiếu.
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
7
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Lý luận về thể loại nhật ký – nhật ký chiến tranh
Chương 2: Một số đặc điểm nội dung của nhật ký chiến tranh
Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu của nhật ký chiến
tranh
Chương 1 có nhiệm vụ trình bày tổng quan lý luận về thể loại nhật ký –
nhật ký chiến tranh và những đặc trưng thể loại trong đời sống văn học. Đồng
thời, lý giải hiệu ứng xã hội và giá trị văn học của nhật ký chiến tranh.
Chương 2, luận văn đi sâu vào tìm hiểu một số đặc điểm về nội dung phản
ánh của nhật ký chiến tranh trong phạm vi đề tài và tương quan với dòng sách
“Văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực đời sống” dưới nhiều góc
độ khác nhau, khai thác triệt để mọi khía cạnh của cuộc sống cũng như các
cung bậc cảm xúc của thế giới tâm hồn con người. Để có thể hoàn thành tốt
sứ mạng của mình, làm nên những “bông hồng vàng” kết tinh những nét đặc
sắc nhất của hiện thực đời sống, văn học nghệ thuật không chỉ mang đến cho
người yêu văn chương một cách nhìn mà phản ánh cuộc sống đa dạng với
nhiều thể loại văn học phong phú: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch… Mỗi
thể loại lại có thế mạnh riêng, làm nên sức hấp dẫn của văn chương từ muôn
đời nay. Nếu như tiểu thuyết là thể loại “dài hơi” với dung lượng lớn về nhân
vật, cốt truyện, phạm vi phản ánh… thì truyện ngắn lại là những “lát cắt” của
cuộc sống, những khoảnh khắc chớp bắt những tinh tuý của hiện thực đời
sống; thơ lại thiên về dòng tâm tình, thể hiện thế giới tâm hồn con người với
nhạc điệu, vần, nhịp… Nhật ký cũng là một loại hình văn học có sức thu hút
lớn đối với nhà văn cũng như độc giả.
Là một biến thể của loại hình ký, nhật ký nói chung và nhật ký chiến
tranh nói riêng đều mang những nét đặc điểm chung của thể loại, đồng thời lại
có nét riêng không thể trộn lẫn, góp phần làm nên sự phong phú của văn
chương nghệ thuật. 1.1 VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÝ
1.1.1. Định nghĩa nhật ký
Theo Từ điển thuật ngữ văn học [44] thì nhật ký “là một thể loại thuộc
loại hình ký”, là một dạng biến thể của ký hiện đại. So với các thể loại khác
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
9
như tiểu thuyết, thơ… thì ký xuất hiện muộn hơn, tận đến thế kỷ XVIII khi có
sự gia tăng chú ý đến thế giới nội tâm của con người, khi xuất hiện nhu cầu tự
bộc bạch, tự quan sát thì thể loại này mới xuất hiện ở Châu Âu và phát triển
riêng tư, nhật ký khoa học, nhật ký công tác… không nhằm công bố rộng rãi,
chỉ viết dành cho cá nhân mình; đơn thuần chỉ ghi chép lại những sự việc xảy
ra với cá nhân mình chứ không quan tâm đến những vấn đề, những sự kiện có
ý nghĩa xã hội rộng lớn, ý nghĩa nhân bản… Vì thế, nhật ký ngoài văn học
thường không thu hút được sự quan tâm của đông đảo người tiếp nhận cũng
như giới nghiên cứu văn học, không có tầm ảnh hưởng lớn. Còn nhật ký văn
học thường hướng tới các chủ đề nhất định và có sự ưu tiên chú ý đến thế giới
nội tâm của tác giả hoặc nhân vật trước những sự kiện lớn có ý nghĩa không
chỉ với cá nhân mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội; nhật ký văn học
thường được viết ra nhằm hướng tới đông đảo công chúng. Bên cạnh đó có
những cuốn nhật ký riêng tư viết không nhằm làm văn, không hướng tới đông
đảo công chúng và không chủ định xây dựng hình tượng văn học song khi nó
“thể hiện được một thế giới tâm hồn, khi qua những sự việc và tâm tình của
cá nhân, tác giả giúp người đọc nhìn thấy những vấn đề xã hội trọng đại” thì
nó đã mang trong mình phẩm chất văn học. 1.1.2 Một vài đặc điểm của thể loại nhật ký
Là một biến thể của ký, nhật ký mang những nét đặc điểm chung nhất
của ký, đồng thời lại có điểm riêng biệt, làm nên sức thu hút riêng của thể
loại. Với thể ký – thể loại được coi là “sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào
đời sống xã hội” với đặc điểm nổi bật là việc ghi chép sự việc, thì tính xác
thực của việc ghi chép được xem là đặc trưng quan trọng nhất của thể loại.
Nhật ký cũng vậy. Cho dù là nhật ký văn học hay các loại nhật ký ngoài văn
học thì đều coi trọng tính chân thực, đáng tin cậy của sự kiện được ghi chép
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
11
lại, vì một cuốn nhật ký trước hết chính là sự giao lưu của người viết với
chính bản thân họ, bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã
ký, là điểm hấp dẫn của thể loại này, vì nó liên quan đến những tâm tư tình
cảm, bí mật của cá nhân, đặc biệt là những nhân vật được xã hội quan tâm. Cô
bé Anne Frank ghi nhật ký là vì “mình không có người bạn thật sự nào (…)
Mình không thể nói gì với bạn bè ngoài những chuyện bình thường” [5, tr 23
- 24]. Hay trong Mãi mãi tuổi hai mươi, Nguyễn Văn Thạc đã quan niệm về
việc ghi nhật ký như sau: “Nếu như người viết nhật ký là viết cho mình, cho
riêng mình thì đọc cuốn nhật ký đó sẽ chân thực nhất, sẽ bề bộn và sầm uất
nhất. Người ta sẽ mạnh dạn ghi cả vào đấy những suy nghĩ tồi tệ nhất mà thực
sự họ có. Nhưng nếu nhật ký mà có thể có người xem nữa thì nó sẽ khác và
khác nhiều – Họ không dám nói thật, nói đúng bản chất sự kiện xảy ra trong
ngày, không dám nói hết và đúng những suy nghĩ đã nảy nở và thai nghén
trong lòng họ. Mà đó chính là điều tối kỵ khi viết nhật ký – Nó sẽ dạy cho
người viết tự lừa dối ngòi bút của mình, tự lừa dối lương tâm của mình” [29,
tr 225]. Phải chăng, vì độ chân thật của những cuộc hành quân, của tâm tư
tình cảm chảy tràn trong từng con chữ của anh lính binh nhì mà cuốn nhật ký
của anh đã hấp dẫn người đọc?
Nhật ký là thể loại độc thoại, tự mình nói với mình, vì thế chúng ta
luôn thấy tác giả hay nhân vật của cuốn nhật ký ở ngôi thứ nhất. Nếu như
trong các thể loại như phóng sự, tùy bút, bút ký… trung tâm thông tin không
phải là tác giả mà là các vấn đề xã hội thì ở nhật ký văn học người viết luôn là
trung tâm. So với các thể loại khác, “vai trò của cái tôi trần thuật trong nhật
ký văn học bao quát, quán xuyến toàn bộ tác phẩm. Tác giả không ngại ngần
xuất hiện trong từng chi tiết nhỏ nhất và chính sự có mặt của cái tôi ấy đã góp
phần quan trọng trong việc tạo ra niềm tin của công chúng vì họ tin rằng đang
được nghe kể về những sự thật mà tác giả là người đã trực tiếp chứng kiến”
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
13
[37, tr 218]. Tuy nhiên, có những khi lời độc thoại của tác giả hay nhân vật lại
chính là một cuộc đối thoại ngầm với người khác về con người và cuộc đời
êSơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai” của người dân Việt Nam
trên khắp mọi miền đất nước qua những bài thơ chống Mỹ của Phạm Tiến
Duật, Lâm Thị Mỹ Dạ… Nhật ký cũng góp phần đắc lực vào việc ghi lại
những ngày tháng hào hùng của dân tộc. Tuy nhiên, trước năm 1986, ta chỉ
thấy xuất hiện lẻ tẻ những dòng nhật ký trong một số tác phẩm ký như Ký sự
miền đất lửa (Nguyễn Sinh – Vũ Kỳ Lân) hay trong tác phẩm của Nguyễn
Ngọc Tấn, những trang nhật ký Viết dưới chiến hào của Hoàng Thượng Lân
cũng chỉ được trích đăng trên các báo như Quân đội nhân dân, Tiền Phong,
Nhân dân vào đầu những năm bảy mươi… chứ chưa xuất hiện riêng biệt như
một tác phẩm độc lập và cũng chưa thu hút được sự quan tâm của độc giả và
các nhà nghiên cứu. Phải đến những năm 2000, đặc biệt là từ năm 2005, khi
Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, và sau đó là Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn
Văn Thạc ra mắt độc giả thì thể loại này mới thực sự gây được tiếng vang và
khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn.
Sau sự thành công của Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm và Mãi mãi tuổi hai
mươi, hàng loạt tác phẩm đã được xuất bản, làm nên một trào lưu mới về
dòng sách nhật ký chiến tranh. Có thể kể đến một số cuốn nhật ký tạo được
tiếng vang sau hai cuốn tiên phong như Nhật ký chiến trường của Dương Thị
Xuân Quý, Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong, Tài hoa ra trận của
Hoàng Thượng Lân, Đường về của Phạm Thiết Kế, Nhật ký chiến tranh của
Trình Văn Vũ, Trở về trong giấc mơ của Trần Minh Tiến… Trong luận văn
này, chúng tôi lựa chọn sáu cuốn nhật ký chiến tranh mà chúng tôi cho rằng
có những nét đặc điểm tiêu biểu, đại diện cho cả dòng sách này. Đó là những
tâm sự, những suy nghĩ, cảm nhận rất thật của các chiến sỹ - liệt sỹ, nhà văn –
liệt sỹ trực tiếp từ chiến trường như Đặng Thuỳ Trâm, Hoàng Thượng Lân,
Phạm Thiết Kế hoặc trong những ngày huấn luyện chuẩn bị chiến đấu như
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
15
Nguyễn Văn Thạc, là những ghi nhận về con người và các địa phương đã từng
sinh để giành lấy độc lập tự do cho Tổ quốc. Qua các cuốn nhật ký, chúng ta
cũng có cái nhìn chân thực nhất, rõ nét nhất về những thôn xóm anh hùng nơi
các anh chị đã đi qua, về những người dân bình dị mà lại rất vĩ đại họ đều
thề quyết tử cho Tổ quốc, không tiếc tính mạng, không màng hạnh phúc, danh
lợi của bản thân.
Bên cạnh sự chân thực là yếu tố then chốt của nhật ký, nhật ký chiến
tranh còn có những đặc điểm chung của thể loại như: đều dùng lời tự sự từ
ngôi thứ nhất của các tác giả, là lời độc thoại với chính bản thân mình; là sự
thổ lộ của các chiến sỹ những lúc cô đơn nhớ gia đình, người thân và cảm
nhận về đồng đội đồng chí… Giọng văn trong mỗi cuốn nhật ký mang dấu ấn
cá nhân của mỗi người. Những đặc điểm này đều thể hiện khá rõ trong những
tác phẩm viết về chiến tranh. Ở Nguyễn Văn Thạc – chàng trai giỏi văn nhất
miền Bắc thời ấy là giọng kể mượt mà, bay bổng và lãng mạn; Đặng Thùy
Trâm với giọng kể chân thực, ngắn gọn; hai nhà văn – chiến sỹ Chu Cẩm
Phong và Dương Thị Xuân Quý có giọng điệu khá linh hoạt, mềm mại và thu
hút; Hoàng Thượng Lân và Phạm Thiết Kế lại có chút hài hước dí dỏm của
anh chiến sỹ đặc công… Tuy mỗi cuốn nhật ký chiến tranh đều mang dấu ấn
cá nhân của tác giả, song tựu chung giọng điệu đều ngắn gọn, súc tích, tự
nhiên như nét chung của các cuốn nhật ký; bởi đó đều là lời nói bên trong, là
tiếng nói nội tâm, là sự thổ lộ riêng tư của mỗi cá nhân trong từng trang viết.
Tuy thế, ở những cuốn nhật ký chiến tranh, đặc biệt là những cuốn nhật
ký viết từ chiến trường thì do hoàn cảnh chi phối nên có một số đặc điểm
riêng biệt so với những cuốn nhật ký thông thường. Một cuốn nhật ký trong
điều kiện bình thường, tác giả có thể ghi chép liên tục theo ngày tháng nếu
thấy có nhiều sự kiện, nhiều tâm trạng hoặc hứng thú, nhưng cũng có thể ngắt
quãng nếu đang bận một việc gì đó, hoặc tâm trạng chưa muốn ghi chép lại
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
17
chúc” dặn dò, nếu nhỡ con có hy sinh, người ta sẽ gửi ra cho ba mẹ” [15, tr
91]. Đó cũng là điểm chung của những cuốn nhật ký chiến tranh khác, vì họ
biết cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, những người thân yêu khó gặp được,
điều kiện thư từ cũng khó khăn, chỉ có trang nhật ký là người bạn tâm tình, là
lời nhắn nhủ, thay lời di chúc để lại! 1.2.2. Về hiệu ứng xã hội và giá trị văn học của nhật ký chiến
tranh
Thành công vang dội của Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Mãi mãi tuổi hai
muơi cùng dòng sách nhật ký chiến tranh đã làm nên một kỷ lục về số lượng
sách bán chạy nhất từ trước tới nay. Năm 2005, sau khi xuất bản, hầu như nhà
sách nào cũng bày bán hai cuốn nhật ký ở vị trí bắt mắt nhất, có số lượng tái
bản kỷ lục và trở thành sách “gối đầu giường” của rất nhiều người ở các lứa
tuổi, nghề nghiệp khác nhau. Sự thành công của hai cuốn nhật ký khiến nhiều
nhà nghiên cứu cũng như đông đảo công chúng tự hỏi về giá trị thật sự của
dòng sách nhật ký chiến tranh. Đây là những cuốn nhật ký riêng tư được viết
chỉ để dành riêng cho mình mà không hề có ý định hướng tới đông đảo công
chúng, vậy lý do nào mà nó lại được đón nhận nồng nhiệt như vậy? Những
tác phẩm này thật sự có giá trị văn học hay chỉ đơn thuần là những cuốn sách
best – seller do được quảng bá tạo nên hiệu ứng xã hội rộng lớn?
Theo tiêu chí phân loại của Từ điển thuật ngữ văn học về mục đích sử
dụng của nhật ký thì những cuốn nhật ký trên được viết chỉ để dành riêng cho
bản thân mà không có ý định phổ biến rộng rãi, do đó đây đích thực là thể tài
ngoài văn học, là loại nhật ký riêng tư. Nhật ký riêng tư là loại nhật ký gần
gũi với nhật ký văn học hơn cả. Tuy nhiên, cũng theo sự phân chia của cuốn
từ điển trên thì “điểm khác nhau cơ bản là ở chỗ nhật ký văn học thường
hướng về một chủ đề nhất định và có sự ưu tiên chú ý đến nội tâm của tác giả
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
20
Đường về cũng mang đến một giọng văn dí dỏm, cuốn hút người đọc hết gần
200 trang nhật ký. Và nếu ai đã đọc Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm chắc hẳn đều
xúc động với những trang viết bi tráng và lãng mạn của nữ bác sĩ này. Như
vậy, chắc hẳn không ai còn băn khoăn về chất văn chương thấm đẫm từng
trang nhật ký, về giá trị văn học của những cuốn nhật ký này.
Không thể phủ nhận rằng những cuốn nhật ký đạt được thành công
vang dội như vậy là có sự góp sức rất lớn của việc quảng bá, tuyên truyền trên
báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng. Sau khi hai cuốn nhật ký xuất
bản đã có rất nhiều các bài viết trên các báo điện tử, báo giấy ngợi ca; mở
đường cho việc xuất bản rất nhiều những cuốn sách cùng đề tài, thành lập tủ
sách mang tên Mãi mãi tuổi hai mươi; thậm chí có cả bệnh viện mang tên nữ
bác sĩ Đặng Thùy Trâm; mới đây bộ phim Đừng đốt chuyển thể từ Nhật ký
Đặng Thùy Trâm cũng tạo được ấn tượng tốt với dư luận. Nhưng nếu những
cuốn sách này không thật sự có ý nghĩa, không có lửa từ bên trong thì cho dù
có quảng bá đến mấy cũng không thể tạo nên một “cơn sốt” như vậy được.
Người đọc yêu văn chương hiện nay, với trình độ cảm thụ tương đối cao và
trước sự lan tràn, chiếm lĩnh của văn hoá nghe nhìn… tại sao lại yêu mến
những trang nhật ký chiến tranh đến vậy nếu nó không có ý nghĩa và không
có giá trị văn chương? Hầu như mọi lứa tuổi thuộc những ngành nghề khác
nhau đều quan tâm đến nhật ký chiến tranh; đó có phải là điều mà một cuốn
sách văn chương “chính thống” mong muốn? Không phải ngẫu nhiên mà một
người lính phía bên kia chiến tuyến như Fred lại lưu giữ, trân trọng cuốn nhật
ký của một người bên kia chiến tuyến trong suốt ba mươi năm và không quản
bao khó khăn trở ngại để tìm kiếm người thân của bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm và
trả lại cuốn nhật ký cho gia đình cô. Vì hơn hết, anh nhận ra rằng những trang
viết “có số phận kỳ lạ” này thấm đẫm tình yêu thương và lòng nhiệt thành,
Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu
Trần Thị Vân, Cao học Văn K51
22
Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA NHẬT KÝ
CHIẾN TRANH
2.1. TÁI HIỆN CHÂN THỰC NHẤT HIỆN THỰC CHIẾN
TRƯỜNG
Nhắc đến từ “chiến trường” chúng ta đã thấy hiện lên những gì vất vả
nhất, nguy hiểm nhất, nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết luôn cận kề,
khi cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào; nhưng đó cũng là nơi ấm áp tình người,
tình đồng đội đồng chí. Những bài thơ, những truyện ngắn, tiểu thuyết về đề
tài chiến tranh… đã lột tả rất rõ điều đó. Ta có thể thấy những nguy hiểm và
thiếu thốn của anh lính lái xe trên đường Trường Sơn qua Tiểu đội xe không
kính của Phạm Tiến Duật, sự hy sinh của những cô gái thanh niên xung phong
qua Khoảng trời – hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ; hay bắt gặp tinh thần đấu
tranh quật cường của nhân dân được miêu tả trong Hòn Đất của Anh Đức,
những trận chiến sinh tử qua các tiểu thuyết của Chu Lai như Nắng đồng
bằng, Ăn mày dĩ vãng… trong những truyện ngắn đầy sức ám ảnh của
Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh… Và hơn hết, trong những cuốn nhật ký viết
về chiến tranh, đặc biệt là những cuốn viết từ chiến trường ta có thể tìm thấy
những chi tiết sống động nhất, chân thực nhất; có thể coi nhật ký chiến tranh
là nguồn tư liệu chân thực nhất và vô cùng đáng quý về chiến tranh, về những
tháng ngày hào hùng của dân tộc. Mãi mãi tuổi hai mươi cho ta thấy những
khó khăn gian khổ trong công tác huấn luyện chuẩn bị ra chiến trường, Nhật
ký Đặng Thùy Trâm lại kể về những tháng ngày chiến đấu kiên cường chống
lại bệnh tật, duy trì một bệnh xá dã chiến trong điều kiện hết sức khó khăn và
nguy hiểm, cận kề cái chết của nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Nhật ký chiến
trường của Dương Thị Xuân Quý và Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong