TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
LƯU LY
TÍNH CHẤT CÁ NHÂN RIÊNG TƯ
TRONG NHẬT KÝ VĂN HỌC
(Khảo sát qua một số tác phẩm nhật ký văn học nước ngoài và
nhật ký văn học Việt Nam)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
S. HOÀNG THỊ DUYÊN
HÀ NỘI – 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
LƯU LY
TÍNH CHẤT CÁ NHÂN RIÊNG TƯ
TRONG NHẬT KÝ VĂN HỌC
(Khảo sát qua một số tác phẩm nhật ký văn học nước ngoài và
nhật ký văn học Việt Nam)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Lưu Ly
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 4
4. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 5
5. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 5
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Dự kiến đóng góp của khóa luận................................................................... 6
8. Bố cục của khóa luận .................................................................................... 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÝ VĂN
HỌC VÀ TÍNH CHẤT CÁ NHÂN RIÊNG TƯ .............................................. 7
1.1. Khái quát về thể loại nhật ký văn học ........................................................ 7
1.1.1. Khái niệm “nhật ký”............................................................................... 7
1.1.2. Phân loại nhật ký ..................................................................................... 9
1.1.2.1. Nhật ký ngoài văn học ......................................................................... 9
1.1.2.2. Nhật ký văn học ................................................................................. 10
1.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của thể loại nhật ký văn học ............. 12
1.1.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển thể loại nhật ký văn học trên thế giới . 12
1.1.3.2. Lịch sử hình thành và phát triển thể loại nhật ký văn học ở Việt Nam.. 14
1.2. Tính chất cá nhân riêng tư ........................................................................ 16
1.2.1. Khái niệm .............................................................................................. 16
1.2.2. Đặc điểm của tính chất cá nhân riêng tư ............................................... 17
phương Tây: đó là thể loại nhật ký.
Ở Việt Nam, so với các tiểu loại khác trong thể ký như: ký sự, phóng sự,
tùy bút, hồi ký,…nhật ký dường như ít được chú ý hơn không phải bởi nó ít
có giá trị mà là số lượng nhật ký được xuất bản, cả của tác giả nước ngoài và
tác giả Việt Nam khá hiếm hoi. Không chỉ vậy, nhật ký được coi là tài sản cá
nhân, cho nên việc đọc nhật ký của người khác là có thể bị coi là một sự xâm
phạm, vì vậy các tác phẩm nhật ký thường không quá thu hút bạn đọc như các
thể loại khác.
Tuy nhiên, trong khoảng 15 năm trở lại đây, nhật ký được xuất bản nhiều
tại nước ta, đặc biệt là “cơn sốt” mang tên nhật ký chiến trường với một số tác
phẩm như Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi, Nhật ký chiến
trường,…đã thu hút một lượng lớn độc giả và các nhà nghiên cứu, phê bình.
Bạn đọc bắt đầu có nhu cầu tìm đọc các cuốn nhật ký cả trong và ngoài nước.
Người đọc thưởng thức tác phẩm nhật ký cá nhân như một tác phẩm văn học
thực sự. Đồng thời, hình thức “giả nhật ký”, tức là một số truyện ngắn, tiểu
thuyết,…viết dưới hình thức một cuốn nhật ký vốn không còn xa lạ càng trở
nên “hot” hơn bao giờ hết, liên tục các tác phẩm như vậy được xuất bản làm
phong phú, sôi động thêm diện mạo nền văn học dân tộc và có những tác
động nhất định đến xã hội.
1.2. Khác với các thể loại khác, nhật ký là văn bản viết cho chính người
viết, nó ghi chép cuộc sống hàng ngày và thế giới nội tâm thầm kín của chủ
1
thể. Chính vì thế, tính chất cá nhân riêng tư của nhật ký sâu sắc hơn bất cứ thể
loại nào. Tính chất này nằm ở cả hai phía: người viết và người tiếp nhận. Khi
đọc một cuốn nhật ký, người đọc phải rất chú ý đến điểm này.
Trong dự thảo chương trình môn Ngữ văn ở chương trình phổ thông mới
vừa công bố chiều ngày 19/01/2018 [8], Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng đưa ra
quát cho thể loại này. Mặc dù vậy, các công trình này còn chưa thực sự đầy
đủ và cụ thể.
2.2. Ở Việt Nam, bạn đọc đã quen thuộc với những tác phẩm nhật ký của
các tác giả trong nước như Nhật ký Đặng Thùy Trâm (ĐặngThùy Trâm), Mãi
mãi tuổi hai mươ (Nguyễn Văn Thạc), Ở rừng (Nam Cao),…hay các tác
phẩm nhật ký nước ngoài như Nhật ký Anna Frank (Anne Frank), Một lít
nước mắt (Kito Aya),…thậm chí là những cuốn tiểu thuyết viết dưới dạng
nhật ký như Những tấm lòng cao cả (Edmondo De Amicis), Nhật ký công
chúa (Meg Cabot), Nhật ký ngốc xít (Jim Benton),…Tuy nhiên, hầu như
chưa có bất kỳ một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về tất cả
những tác phẩm trên.
Trong những năm trở lại đây, đã có khá nhiều những bài viết hay công
trình nghiên cứu về mảng nhật ký của Việt Nam như: Nguồn tư liệu văn học
đáng quý (Tô Phương Lan), Qua Mãi mãi tuổi hai mươi và Nhật ký Đặng
Thùy Trâm – nghĩ về văn hóa đọc (Nguyễn Hòa), Đặc trưng ngôn từ trong
nhật ký Nguyễn Huy Tưởng (Hoàng Thị Duyên),…;hay các khóa luận tốt
nghiệp về như: Người trần thuật trong Nhật ký Anne Frank (Nguyễn Thị
Thảo), Nhật ký như một thể loại văn học (Hoàng Thị Thảo), Ngôn ngữ độc
thoại nội tâm trong thể loại nhật ký văn học (Nguyễn Anh Minh) ... Còn
những tác phẩm rất “hot”, gây được tiếng vang trên toàn thế giới khác như
Một lít nước mắt (Kito Aya), Nhật ký công chúa (Meg Cabot), Nhật ký ngốc
xít (Jim Benton),… lại không có một công trình nghiên cứu chính thức nào.
3
Cụ thể hơn, về vấn đề Tính chất cá nhân riêng tư trong thể loại nhật ký
văn học đã có Cao Thị Hoa, sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình nhưng chỉ dừng lại ở việc
khảo sát các tác phẩm: Mãi mãi tuổi hai mươi, Nhật ký Đặng Thùy Trâm,
sự tiếp nhận.
5. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận này khảo sát một số tác phẩm nhật ký văn học sau:
- Nhật ký văn học nước ngoài:
+ Nhật ký Anne Frank
+ Nhật ký Hélène Berr
+ Nhật ký Che Guevara
+ Một lít nước mắt,…
- Nhật ký văn học Việt Nam
+ Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng
+ Nhật ký Đặng Thùy Trâm
+ Mãi mãi tuổi hai mươi
+ Nhật ký mang thai khi 17,…
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi đưa ra những phương pháp nghiên cứu cụ
thể:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: tìm hiểu, cắt nghĩa, lý giải những yếu tố
thuộc về tính chất cá nhân riêng tư trong sự viết và sự tiếp nhận của nhật ký
văn học
Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh, đối chiếu giữa nhật ký với các
tiểu loại trong thể loại ký văn học hay truyện ngắn, tiểu thuyết,…để tìm ra nét
khác biệt, đặc trưng của nhật ký văn học.
5
7. Dự kiến đóng góp của khóa luận
Với đề tài “Tính chất cá nhân riêng tư trong nhật ký văn học”, trên cơ
sở những kiến thức lý luận chung về tính cá nhân riêng tư, chúng tôi mong
muốn mang đến một cái nhìn toàn diện hơn về đặc trưng của thể loại, làm đa
particular subject” [34,240]), nghĩa thứ hai là sự ghi chép những kế hoạch
hàng ngày (“daily written record of events” [34,240]). Tuy nhiên, khi sử dụng
để goi về thể loại nhật ký, người ta thường sử dụng từ “diary” như Anne
Frank’s diary, Mrs Jones’s diary,…mà không dùng từ “journal” vì sự khác
biệt nhất ở hai khái niệm này là khía cạnh cảm xúc. Nếu “journal” thường
thiên về ghi chép những sự việc mang tính kế hoạch được đề ra hàng ngày để
thực hiện thì “diary” là những sự kiện được ghi chép xảy ra trong ngày, mang
đậm thái độ, cảm xúc của người viết về vấn đề được đề cập đến.
7
Còn trong tiếng Việt, khái niệm “nhật ký” có thể hiểu theo lối chiết tự:
“nhật” là hàng ngày, còn “ký” là ghi chép. Như vậy, có thể hiểu đơn giản nhật
ký là những ghi chép về cuộc sống hàng ngày. Theo Từ điển Tiếng Việt, nhật
ký là “việc ghi chép hàng ngày”[18,654].
Kiến thức lý luận về thể loại nhật ký chỉ xuất hiện trong các bài viết, các
công trình nghiên cứu ở Việt Nam một cách sơ lược, khái quát trong một số
mục nhỏ như Từ điển thuật ngữ văn học (tập thể tác giả Trần Đình Sử - Lê
Bá Hán – Nguyễn Khắc Phi, Từ điển văn học (Lại Nguyên Ân),…
Một trong những công trình đầu tiên đề cập đến nhật ký như một thể loại
văn học độc lập là cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của tập thể các tác giả
Trần Đình Sử - Lê Bá Hán – Nguyễn Khắc Phi. Tại mục “Ký”, ba tác giả đã
đưa ra định nghĩa về thể ký: “Một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo
chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký, du
ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tùy bút,…”[13,137]. Từ đó, có thể thấy, các tác
giả khẳng định nhật ký là một tiểu loại của thể ký. Đến mục “Nhật ký”, các
tác giả định nghĩa rằng: “Một thể loại thuộc loại hình ký. Nhật ký là hình thức
tự sự ở ngôi thứ nhất được thực hiện dưới dạng những ghi chép hàng ngày
theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả hoặc nhân
của mình cũng dựa trên hai loại nhật ký ngoài văn học và nhật ký văn học như
sau:
1.1.2.1. Nhật ký ngoài văn học
Nhật ký ngoài văn học là những cuốn nhật ký viết ra nhằm mục đích cá
nhân hay ghi chép những sự vụ, kế hoạch hàng ngày mà bất cứ ai cũng có thể
viết nhật ký dưới dạng này
Nhật ký ngoài văn học có thể được chia thành:
Nhật ký sự vụ (nhật ký công việc): Nhật ký ghi chép vắn tắt tiến trình
công việc, có thể kể đến loại nhật ký công tác (có nội dung khoa học) hay
nhật ký sự vụ chuyên biệt (như hải trình, một dạng nhật ký hàng hải). Các thể
9
loại nhật ký công việc này không được coi như là thể loại nhật ký văn học trừ
một vài ngoại lệ.
Nhật ký cá nhân: Nhật ký cá nhân thông thường được coi như một thể
tài ngoài văn học hay cận văn học, là loại văn ghi chép của cá nhân trong đời
sống hàng ngày. Do vậy, nhật ký thường chân thành và công nhiên trong phát
ngôn; bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã diễn ra, đã nếm trải, đã thử
nghiệm, và ít khi hồi cố. Nhật ký được viết ra chỉ cho bản thân người ghi chứ
không tính đến việc được công chúng tiếp nhận, và đây là điểm phân biệt nó
với nhật ký văn học. Nhật ký cá nhân thường nói về các sự kiện của đời tư với
tính chất xác thực đặc biệt. Bên cạnh các sự kiện đời tư, nhật ký cũng nói lên
những ý kiến nhận xét về cuộc đời, thường được rút ra từ các suy nghĩ về
cuộc sống của bản thân người ghi. Nhật ký là thể tài độc thoại, nhưng lời độc
thoại của nhật ký có thể mang tính chất đối thoại bên trong, do tính đến ý kiến
của người khác về cuộc đời và về bản thân người ghi nhật ký.
Nhật ký điện tử (Blog): Blog cá nhân, trang thành viên Facebook cũng
có thể coi là một dạng nhật ký điện tử, tuy rằng trong thực tế blog hay trang
hình thức nhật ký để sáng tác với dụng ý nhất định. Kiểu nhật ký này không
hề xa lạ mà đã rất quen thuộc với bạn đọc qua hàng loạt những sáng tác nổi
tiếng như Những tấm lòng cao cả (Edmondo De Amicis), Nhật ký công
chúa (Meg Cabot), Nhật ký chú bé nhút nhát (Jeff Kinney), Nhật ký mang
thai khi mười bảy (Võ Anh Thơ),…Có thể khẳng định rằng dù nhật ký hư cấu
vẫn mang trong mình những đặc trưng của thể loại là sự ghi chép của cá nhân
người viết, tức nhân vật “tôi” nhưng nếu như ở các loại nhật ký khác, tác giả
chính là “tôi” thì nhân vật “tôi” trong trường hợp này lại là một nhân vật hư
cấu do tác giả sáng tạo ra, hoàn toàn không có thật. Lúc này, nhật ký hư cấu
mang trong mình rất đậm nét những đặc trưng của tiểu thuyết, truyện ngắn,…:
11
viết ở ngôi kể thứ nhất và xây dựng những hình tượng nhân vật để phản ánh
xã hội.
1.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của thể loại nhật ký văn học
1.1.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển thể loại nhật ký văn học trên thế giới
Như đã nhắc đến ở phần lịch sử vấn đề, nhật ký đã xuất hiện từ rất sớm.
Ngay từ những bức vẽ đơn sơ về sinh hoạt, săn bắn trên vách tường trong
hang động của người nguyên thủy có thể được xem là một dạng nhật ký.
Chẳng hạn như ở Bhimbetka (Ấn Độ) có hơn 600 hang đá được trang trí với
hàng trăm bức tranh khắc trên đá ấn tượng. Các bức tranh chủ yếu vẽ cảnh
sinh hoạt cũng như cuộc sống của người dân thời kỳ đó. Các loài vật như bò
rừng, hổ, sư tử và cá sấu cũng được mô tả rất nhiều. Bức vẽ xưa nhất được
cho là có niên đại khoảng 12.000 năm. Và còn rất nhiều những bức tranh
trong hang đá khác xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới. Chính vì vậy, có thể
khẳng định rằng ngay từ xa xưa, con người đã có ý thức ghi chép lại những sự
kiện diễn ra trong cuộc sống hàng ngày.
Tuy nhiên, phải đến sau này, nhật ký mới dần được ý thức như một thể
Tsurayuki, Tosa nikki vào năm 934. Đây là tác phẩm “nikki” viết bằng quốc
âm Kana, mang đậm màu sắc cá nhân, kể về chuyến du hành 55 ngày đêm của
Tsurayuki từ vùng Tosa về lại kinh đô Kyoto sau khi mãn nhiệm. Tsurayuki
chọn giọng văn mang phong cách nữ tính để diễn tả tâm trạng lo lắng, mệt
mỏi trong cuộc hành trình và niềm nhớ thương về đứa con gái nhỏ của mình
đã chết ở Tosa. Với việc dùng quốc âm Kana làm phương tiện ngôn ngữ, tác
giả dễ dàng bày tỏ cái nhìn riêng của mình về xã hội đương thời cũng như
những cảm xúc, tâm trạng riêng tư của đời sống nội tâm. Tuy được viết bởi
nam giới, song Tosa nikki lại mở đường cho một dòng văn học nhật ký thịnh
hành trong thời Heian bởi các nữ quý tộc cung đình. Thể loại nhật ký của
13
Trung Hoa khi vào Nhật Bản, chỉ còn giữ lại cái vỏ tên gọi, còn về nội dung
và hình thức, “nikki” đã phát triển theo một đường hướng riêng phù hợp với
bối cảnh xã hội thời Heian. Văn hóa quý tộc thời Heian hình thành trên cơ sở
học hỏi có chọn lọc từ văn hóa đại lục, đồng thời đã đến lúc tự phát triển theo
hướng độc lập của riêng mình. Không khí thời đại như thế cũng là một trong
những nguyên nhân để “Nikki bungaku” của Nhật Bản phát triển theo đường
hướng riêng, phù hợp với bản sắc thời đại và dân tộc.
Ở Tây Âu, thể tài nhật ký phát triển trong văn học cuối thế kỷ 18 khi có
sự gia tăng chú ý đến thế giới nội tâm con người, khi xuất hiện nhu cầu tự
bạch và tự quan sát, khi “độc thoại nội tâm” và thủ pháp “dòng ý thức” được
chú trọng. Chúng ta có thể học được về thời Phục Hưng Anh qua nhật ký của
Samuel Pepys, hay ở nhật ký của Virginia Woolf, ta thấy được một hiện đại
khốc liệt của thế kỉ 20; tất cả đều được thể hiện qua những cảm xúc cá nhân
của tác giả.
1.1.3.2. Lịch sử hình thành và phát triển thể loại nhật ký văn học ở Việt Nam
So với nhiều thể loại văn học khác, thể loại nhật ký xuất hiện muộn hơn.
Sau năm 1975, đặc biệt là từ những năm gần đây nhật ký ngày càng trở
nên phổ biến và gần gũi với con người hơn nữa. Con người ngày càng có nhu
cầu ghi chép lại những gì xảy ra xung quanh, ghi lại cảm xúc của bản thân và
nhật ký chính là nơi để mỗi cá nhân ký gửi những điều riêng từ đó. Có một
điều đặc biệt hơn so với các giai đoạn trước là bên cạnh những trang nhật ký
được lưu lại trong các cuốn sổ tay, sau này được xuất bản thì ngày nay, có
nhiều tác giả ưa chuộng hình thức nhật ký hư cấu để sáng tác, tiêu biểu như
Nhật ký mang thai khi 17 (Võ Anh Thơ),…làm thu hút nhiều đối tượng độc
giả hơn.
Có thể khẳng định nhật ký ngày càng đến gần với con người hơn
nữa. Người ta đọc nhật ký, viết nhật ký… Nhật ký đã phát huy một cách tích
cực sức mạnh đặc trưng của thể loại trong việc đáp ứng nhu cầu trong đời
15
sống tinh thần của con người cũng như tạo ra những nét mới về mặt thể loại
cho nền văn học Việt Nam.
1.2. Tính chất cá nhân riêng tư
Một trong những đặc điểm nổi bật của nhật ký văn học chính là tính chất
cá nhân riêng tư. Nhận thức được rõ tính chất này trong nhật ký sẽ giúp ta
hiểu rõ về tác giả cũng như đọc hiểu nhật ký một cách thuận lợi hơn.
1.2.1. Khái niệm
Trước hết, theo quan niệm của triết học: thuật ngữ “cá nhân” xuất phát từ
tiếng Hy Lạp “atomon” với nghĩa đen là “không thể phân chia được nữa”.
Quan niệm này được thể hiện rõ nhất trong nguyên tử luận của Leucippe và
Democrite (hai nhà triết học Hy Lạp cổ đại sống vào thế kỉ V TCN). Quan
niệm “cá nhân” với nghĩa đó được hiểu là một sự vật, hiện tượng riêng lẻ, một
hiện hữu riêng biệt và có thể phân biệt một cách rạch ròi với các sự vật, hiện
tượng khác. Nó được áp dụng đặc biệt vào con người nhằm để chỉ chủ thể đạo
cảm, cảm xúc, suy nghĩ, hành động. của mỗi người. Theo lẽ thông thường,
con người không ai giống ai hoàn toàn nhất là về khía cạnh tinh thần. Những
cặp sinh đôi, sinh ba có thể giống nhau về ngoại hình nhưng chắc chắn tính
tình, tình cảm, cảm xúc,…không thể nào giống nhau. Tuy con người sống
trong môi trường tập thể, nghĩa là mỗi cá nhân phải hòa hợp với cộng đồng
nhưng suy cho cùng thì không ai có thể bắt người khác phải làm hay suy nghĩ
theo ý muốn không phải của chính họ. Do vậy, con người phải có tự do và
cũng phải được tôn trọng quyền riêng tư cá nhân.
Thứ hai, tính chất cá nhân riêng tư còn thể hiện trong các mối quan hệ của
mỗi người với người khác như: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…hay trong tư
tưởng tôn giáo, quan điểm chính trị,…thậm chí là những điều không thể để
người khác biết được.
17
Ngoài ra, sự riêng tư về thông tin cá nhân cũng được xem là một đặc điểm
quan trọng. Bất cứ cá nhân nào cũng cần có sự tự do trong việc bảo mật thông
tin. Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con
cái, số điện thoại, email,…Quyền của các cá nhân là được phép giữ kín những
thông tin, tư liệu của chính mình. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn
trọng và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về
đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã
chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha,
mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý,
trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức
thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc
kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của
cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có
để cố tạo ra cái mới, cái lạ mà bản thân nhật ký đã là cái mới, cái lạ. Bởi lẽ
nhật ký là sự ghi chép riêng tư, là một tài sản cá nhân của người viết nên chắc
chắn nó sẽ mang những đặc điểm cá nhân riêng tư chỉ có ở người đó.
2.1. Nhật ký viết riêng cho mình của chủ thể
Nhu cầu viết nhật ký nảy sinh đầu tiên từ việc con người muốn lưu giữ lại
những kí ức về cuộc sống hàng ngày. Trong đó, họ không ngần ngại bộc lộ
những suy nghĩ, quan điểm cá nhân của bản thân cũng như nói lên những điều
bình thường không dám nói. Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng nhật ký là
những điều mà chủ thể muốn viết riêng cho chính mình.
2.1.1. Nhật ký tựa như một hình thức độc thoại
Khi thực hiện các hoạt động thường ngày, con người có xu hướng suy
nghĩ và tự diễn giải lại tình hình xung quanh mình. Giống như có một giọng
nói trong đầu quyết định cách thức chúng ta nhìn nhận vấn đề. Tâm lý học gọi
giọng nói bên trong này là “self-talk”, độc thoại. Đó là hành động bao gồm
19