Nghiên cứu về việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 23

1
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU ......................................................................................... i
DANH MỤC HÌNH VẼ ............................................................................................. ii
DANH MỤC VIẾT TẮT .......................................................................................... iii
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................5
CHƯƠNG 1 Lý luận chung về thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng
khoán Việt Nam. .........................................................................................................7
1.1. Sự cần thiết khách quan thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường
chứng khoán................................................................................................................7
1.1.1. Vai trò của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế Việt Nam. ............7
1.1.2. Sự cần thiết khách quan thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị
trường chứng khoán. ................................................................................................. 11
1.2. Vài nét về nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán
Việt Nam. ................................................................................................................. 14
1.2.1. Khái niệm đầu tư gián tiếp nước ngoài và các hình thức đầu tư vào thị
trường chứng khoán Việt Nam. ................................................................................. 14
1.2.2. Đặc điểm của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. ..................................... 16
1.2.3. Các giai đoạn thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam từ
năm 1990 đến nay. .................................................................................................... 17
1.2.4. Một vài tác động tiêu cực của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. ............ 18
1.3. Những nhân tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường
chứng khoán.............................................................................................................. 22
1.3.1. Bối cảnh chính trị, hệ thống pháp luật. .................................................. 23
2

khoán Việt Nam. ....................................................................................................... 53
Kết luận chương 2 ..................................................................................................... 63
CHƯƠNG 3 Một vài kiến nghị hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái, lãi suất, lạm
phát để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt
Nam. ........................................................................................................... 65
3.1. Bài học thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp của các nước........................ 65
3.1.1. Bài học từ Ấn Độ. .................................................................................... 65
3.1.2. Bài học từ Trung Quốc. ........................................................................... 69
3.2. Tiềm năng phát triển và những khó khăn thách thức của dòng vốn FPI trên thị
trường chứng khoán trong thời gian gần đây. ............................................................ 71
3.2.1. Tiềm năng phát triển của dòng vốn FPI trên thị trường chứng khoán. ...... 71
3.2.2. Những khó khăn còn tồn tại trên thị trường chứng khoán. ........................ 73
3.3. Một số kiến nghị về chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và thu hút vốn đầu tư
gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam. ..................................... 74
3.3.1. Một số đề xuất cho 3 nhân tố mục tiêu. .................................................... 74
3.3.2. Những giải pháp bổ trợ khác. ................................................................... 77
Kết luận chương 3 ..................................................................................................... 81
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 82
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 83
PHỤ LỤC 1 .............................................................................................................. 83
PHỤ LỤC 2 .............................................................................................................. 89
4
PHỤ LỤC 3 ............................................................................................................ 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 119

ra cho Việt Nam nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp. Trước tình hình này, hầu hết các
nhà nghiên cứu kinh tế Việt Nam bắt đầu đi vào nghiên cứu nguyên nhân khủng
hoảng, tình trạng nợ công, sự thâm hụt ngày càng lớn của cán cân thương mại hay vấn
đề về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài…nhằm làm rõ tình hình và đề ra những giải
pháp giúp nền kinh tế nước ta vượt qua khủng hoảng hiện tại. Tuy nhiên, trong các
công trình ấy, chúng ta chưa thấy những nghiên cứu đánh giá tác động của khủng
hoảng đến lượng vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán- một kênh thu hút vốn đầu tư
quan trọng của hầu hết các nước trong đó có Việt Nam. Dòng vốn đầu tư vào TTCK,
đặc biệt là dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thực sự có một vai trò rất cần thiết.
Bởi vì, nó không những cung cấp lượng vốn lớn cho nền kinh tế mà còn góp phần điều
tiết, đa dạng hóa thị trường tài chính, phát triển thị trường chứng khoán, tăng trưởng
kinh tế vĩ mô. Tuy vậy, kể từ sau khủng hoảng, khả năng duy trì và thu hút vốn ngoại
của Việt Nam đã giảm xúc rất nhiều, thị trường chứng khoán mất điểm, dòng vốn
ngoại đang tăng trưởng liên tiếp sụt giảm và đảo chiều. Chính vì thế, trong bài nghiên
cứu của mình, chúng tôi quyết định xem xét vai trò của dòng vốn ngoại trên thị trường
chứng khoán Việt Nam với tăng trưởng kinh tế và những biến đổi sau khủng hoảng.
6
Thêm vào đó, chúng tôi tiến hành phân tích tác động của ba nhân tố thị trường: lạm
phát, lãi suất, tỷ giá đến dòng vốn gián tiếp nước ngoài vào TTCK để có những điều
chỉnh chính sách thích hợp. Bằng cách vận dụng các lý thuyết được học, các mô hình
kiểm định để xét mối tương quan giữa ba biến số trên và lượng FPI, chúng tôi cố gắng
đưa ra những kết luận xác đáng về vấn đề này. Trên cơ sở những kết luận rút ra, cùng
với những đặc điểm kinh tế vĩ mô hiện tại, chúng tôi có một vài đề xuất ổn định lại nền
kinh tế thông qua các nhân tố trên để tăng cường thu hút vốn FPI vào nước ta.
Nội dung bài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng
khoán Việt Nam.

1.1.1.1. Tạo vốn cho sự phát triển kinh tế.
Trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay, quan hệ cung cầu không chỉ nói đến
hàng hóa truyền thống, mà đã xuất hiện và ngày càng phát triển quan hệ về tiền và
vốn. Quan hệ này tất yếu sẽ dẫn đến nhu cầu vận động vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu.
Tuy nhiên, yêu cầu vận động của tiền vốn là hết sức phức tạp, đa dạng và phong phú.
Để thoả mãn nhu cầu này, phải có một hệ thống các tổ chức tài chính ứng với các công
cụ thuận lợi nhất để thực hiện giao lưu vốn nói trên, phải có một thị trường vốn chính
thống. Và thị trường vốn đỉnh cao là TTCK, là nơi tạo ra môi trường thuận lợi để dung
hoà các lợi ích kinh tế khác nhau của các thành viên thông qua một cơ chế hoạt động
hợp pháp nhằm hạn chế những rủi ro.
8
TTCK như một trung tâm huy động nguồn vốn tiết tiệm lớn nhỏ của từng hộ
dân cư, như một nam châm cực mạnh thu hút nguồn vốn to lớn từ nước ngoài, thu hút
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ tạo
thành một nguồn vốn khổng lồ tài trợ cho nền kinh tế, mà các phương thức khác không
thể làm được. Nó tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp có vốn mở rộng sản xuất kinh
doanh và thu được lợi nhuận nhiều hơn. Đồng thời nó góp phần quan trọng trong việc
kích thích các doanh nghiệp làm ăn ngày càng có hiệu quả hơn bằng cách vừa sản xuất
kinh doanh hàng hóa vừa mua bán chứng khoán tạo thêm lợi nhuận. Nó giúp nhà nước
giải quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách trên thị trường trái phiếu, có thêm vốn để xây
dựng cơ sở hạ tầng. Nó cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu dùng bằng
cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắm của họ tốt hơn.
1.1.1.2. Công cụ để thúc đẩy sự phát triển và ổn định nền kinh tế.
 Giúp nhà nước thực hiện chương trình phát triển kinh tế.
Như chúng ta đã biết nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước là thuế. Nhưng
thông thường, thuế không đủ để cho chính phủ chi tiêu vì vậy cần thêm các khoản thu
phụ khác đó là từ các kỳ phiếu, tín phiếu kho bạc. Nhà nước không phải thông qua

o TTCK làm giảm áp lực lạm phát.
Lạm phát luôn là nguy cơ đe doạ sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế. TTCK
hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng đặc biệt là Ngân hàng Trung Ương trong việc giảm áp
lực lạm phát. Trên lý thuyết, khi xuất hiện hiện tượng lạm phát, NHTW có thể bán ra
các loại kỳ phiếu trên TTCK với lãi suất cao để thu hút bớt số tiền đang lưu thông về
và làm giảm áp lực lạm phát. TTCK cũng ngăn chặn việc chuyển hoá vốn quá mức
trong nền kinh tế. Đó là khi các ngân hàng thương mại cho các công ty vay nhưng
không thu hồi được do một số công ty làm ăn thua lỗ, số tiền này nằm lại trong lưu
10
thông làm tăng lượng vốn lưu hành. Do đó hệ thống ngân hàng thương mại sẽ hạn chế
cho vay đối với những dự án có khả năng sinh lời thấp. Trong khi đó, TTCK sẽ bù vào
khoản thiếu hụt này và gây áp lực để các dự án đầu tư đạt hiệu quả cao.
o Khắc phục tình trạng suy thoái của nền kinh tế.
Như chúng ta đã biết khi nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái, đó là tổng
sản phẩm sản xuất ra trong nền kinh tế giảm đi. Nó ảnh hưởng một cách mạnh mẽ và
trực tiếp đến đời sống kinh tế, ví dụ như khi sản phẩm sụt giảm thì để tìm được một
việc làm tốt là rất khó khăn. Để khôi phục vấn đề này một trong những biện pháp hữu
hiệu là mở rộng đầu tư sản xuất.
Nói đến đầu tư mở rộng sản xuất phải nói đến vốn mà trong đó TTCK là một tổ
chức tài chính huy động vốn có hiệu quả nhất. Thông qua TTCK các doanh nghiệp có
thể huy động được vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để mở rộng quá
trình sản xuất kinh doanh.
 Thúc đẩy hiệu quả kinh tế.
Nếu một công ty làm ăn có lãi, thị giá chứng khoán của nó sẽ tăng và công ty có
thể thuận lợi vay thêm vốn để mở rộng kinh doanh. Ngược lại, nếu một công ty làm ăn
thua lỗ, giá chứng khoán của nó trên thị trường sẽ giảm vì tất cả những người sở hữu
chứng khoán của công ty này sẽ muốn bán chứng khoán đó đi. Việc này làm cho tổng

nhiều kinh nghiệm.
Cụ thể, chúng ta có thể nêu ra 4 lý do khiến Nhà nước phải quan tâm và có
những biện pháp thu hút nhiều nguồn vốn FPI vào TTCK:
 Thứ nhất, trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián tiếp làm tăng
tổng vốn đầu tư trực tiếp của xã hội.
Dòng vốn FPI khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng vốn đầu tư gián
tiếp trên thị trường vốn trong nước như một phép cộng đương nhiên vào tổng số dòng
12
vốn này. Hơn nữa, khi vốn FPI gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực, gia tăng dây
chuyền đến dòng vốn đầu tư trong nước. Nói cách khác, các nhà đầu tư trong nước sẽ
“nhìn gương” các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và tăng khả năng cung ứng vốn đầu
tư gián tiếp của mình, kết quả tổng đầu tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên.
Hơn nữa, khi dòng vốn FPI gia tăng sẽ là một bảo đảm và tạo động lực hấp dẫn
hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn thông qua các quyết định đầu tư trực tiếp mới
của mình. Kết quả là gián tiếp góp phần làm tăng đầu tư trực tiếp xã hội từ phía các
nhà đầu tư cả nước ngoài cũng như trong nước.
 Thứ hai, góp phần tích cực vào phát triển thị trường tài chính nói riêng, hoàn
thiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung.
Việc gia tăng và phát triển bộ phận thị trường vốn đầu tư gián tiếp sẽ làm cho
thị trường tài chính (đặc biệt là TTCK) Việt Nam trở nên đồng bộ, cân đối và sôi động
hơn, khắc phục được sự thiếu hụt, trống vắng và trầm lắng, thậm chí đơn điệu, kém
hấp dẫn kéo dài của thị trường này. Hơn nữa, điều kiện và như là kết quả đi kèm với
sự gia tăng dòng vốn FPI là sự phát triển nở rộ các định chế và dịch vụ tài chính –
chứng khoán. Cụ thể là sự xuất hiện các loại quỹ đầu tư, công ty tài chính, các thể chế
tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ tư vấn, bổ trợ tư pháp và hỗ trợ kinh
doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán và thông tin thị trường.
Đồng thời còn kéo theo sự gia tăng yêu cầu và hiệu quả áp dụng các nguyên tắc cạnh

Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực
hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh
bạch hóa, cập nhật hóa thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp đã
và sẽ phát hành. Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ lựa chọn đầu tư vào
chứng khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng, phát triển
tốt trong tương lai. Chính điều này sẽ cho phép quá trình “chọn lọc nhân tạo”, “bỏ
phiếu” cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp này trở nên khách quan và phù
14
hợp cơ chế thị trường hơn (còn những doanh nghiệp khác mà chứng khoán của họ
không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định hướng và chất lượng quản trị kinh doanh,
sáp nhập hoặc giải thể). Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân
trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài chính, nhất là đến FPI sẽ
phải được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc
điểm của thị trường này, cũng như theo các cam kết hội nhập quốc tế. Đồng thời,
thông qua tác động vào thị trường tài chính, nhà nước sẽ đa dạng hóa các công cụ và
thực hiện hiệu quả việc quản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp. Trên
cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, thị
trường tài chính nói riêng sẽ được cải thiện hơn.
Tóm lại, sự có mặt của nhà ĐTNN sẽ làm cho TTCK ngày càng phát triển, phát
huy được hết những thế mạnh và khắc phục được một số điểm yếu cho thị trường. Vì
thế, nguồn vốn ngoại giữ vai trò vô cùng quan trọng trên TTCK Việt Nam. Kết hợp
với những gì mà TTCK mang lại cho nền kinh tế, có thể suy ra rằng, lượng vốn FPI
thông qua TTCK có những ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế vĩ mô của Việt
Nam.
1.2. Vài nét về nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
1.2.1. Khái niệm đầu tư gián tiếp nước ngoài và các hình thức đầu tư vào

nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong đầu tư trực tiếp. FPI là đầu
tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính.
Như vậy có thể thấy FPI xuất hiện và phát triển gắn liền với sự hình thành và
phát triển của TTCK quốc gia và quốc tế.
16
Trên thực tế, FPI là dùng để chỉ các hình thức đầu tư không phải là đầu tư trực tiếp
nước ngoài truyền thống (tức đầu tư để lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, lập
liên doanh hoặc công ty cổ phần và kinh doanh theo hợp động hợp tác kinh doanh….),
song sự phân biệt này không phải lúc nào cũng rạch ròi và thống nhất. Chẳng hạn, khi
nhà đầu tư dùng vốn của mình để mua cổ phiếu của doanh nghiệp, nếu tỷ lệ cổ phiếu
do nhà đầu tư nắm giữ là thấp hơn mức nhất định (10% theo tiêu chuẩn của IMF và
30% theo tiêu chuẩn của Việt Nam hiện hành) thì là đầu tư gián tiếp, nhưng khi vượt
ngưỡng này thì lại được xếp vào đầu tư trực tiếp và lúc này, nhà đầu tư có thể dùng
quyền bỏ phiếu của mình để can thiệp trực tiếp vào thực tế quản lý, kinh doanh của
doanh nghiệp….
1.2.2. Đặc điểm của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
 Tính thanh khoản.
Do tài sản đầu tư tồn tại dưới dạng những công cụ tài chính, nhà ĐTNN có thể
dễ dàng mua bán, trao đổi những chứng khoán mà họ đang nắm giữ bất cứ khi nào họ
muốn. Tính thanh khoản cao của FPI khiến cho hình thức đầu tư này mang tính ngắn
hạn và cũng là đặc tính hấp dẫn nhất của phương thức đầu tư này.
 Tính bất ổn và dễ bị đảo ngược
Do có thể thay đổi nhanh để tìm kiếm tỷ suất sinh lợi cao hơn hay để có được
mức độ rủi ro thấp với lợi nhuận chấp nhận được, tức là tính thanh khoản cao, FPI có
đặc tính bất ổn và dễ bị đảo ngược.
Tính bất ổn trong một giới hạn nào đó là có lợi khi nó cung cấp những cơ hội
kinh doanh với lợi nhuận cao và khiến cho thị trường tài chính nội địa thêm năng

còn duy nhất Quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund được thành lập 7/1995 với quy
mô vốn 35 triệu USD (nhỏ nhất trong số 7 Quỹ) là còn hoạt động cho đến nay.
18
 Giai đoạn 3 (từ 2003 đến nay): là thời kỳ phục hồi trở lại của dòng vốn FPI vào
Việt Nam cùng với xu hướng tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, phát triển các
định chế thị trường tài chính, trong đó có lập sàn giao dịch chứng khoán ở thành phố
Hồ Chí Minh tháng 7/2000 và TTGDCK Hà Nội tháng 3/2005. Đặc biệt có thể kể đến
là chủ trương và quyết tâm của Chính phủ đẩy mạnh cổ phần hóa và nới lỏng tỷ lệ nắm
giữ cổ phần của các nhà ĐTNN trong các DNNN lớn được cổ phần hóa (từ 30% lên
49%)….Chỉ tính đến tháng 6/2006, cả nước đã có 19 Quỹ đầu tư nước ngoài với tổng
vốn 1,9 tỷ USD đang hoạt động ở Việt Nam. Tính đến nay tổng cộng vốn FPI Việt
Nam thu hút tăng từ 2 – 3% so với tổng vốn FDI mà chúng ta đã thu hút được trong
cùng thời kỳ lên hơn 10% (so với tỷ lệ trung bình 30 – 40% của các nước khu vực thì
đây vẫn là 1 tỷ lệ thấp…). Tuy nhiên, có thể cảm nhận khá rõ rệt và xác đáng những
triển vọng rất sáng sủa của dòng vốn FPI đổ vào Việt Nam trong thời gian tới, đặc biệt
từ sau khi Việt Nam triển khai các cam kết hội nhập WTO và thúc đẩy trên thực tế quá
trình cổ phần hóa các DNNN lớn đang hoạt động trong các lĩnh vực độc quyền hoặc
gần như độc quyền hiện nay.
Tóm lại, từ khi xuất hiện ở Việt Nam đến nay, vốn FPI có 3 làn sóng lớn. Làn
sóng đầu tiên vào năm 1990, Việt Nam tiếp cận hình thức đầu tư mới với 7 quỹ đầu tư
với số vốn huy động khoảng 700 triệu USD. Làn sóng thứ 2 xuất hiện 5 năm sau
khủng hoảng tài chính Châu Á. Năm 2002, quỹ Mekong Enterprise Fund hình thành
với số vốn 18.5 triệu USD. Sau đó, Việt Nam liên tục tiếp nhận hơn 10 quỹ với tổng
vốn vượt trên 1 tỷ USD. Từ tháng 7/2006 đã có hơn 20 quỹ nước ngoài với khoảng 2
tỷ USD đang hoạt động tại Việt Nam, đây được xem là làn sóng đầu tư thứ 3 đổ vào
TTCK Việt Nam.
1.2.4. Một vài tác động tiêu cực của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.

kinh doanh không được đánh giá đúng và công khai, dẫn đến sai lệch thông tin, làm
cho quyết định đầu tư sai.
20
 Rủi ro khủng hoảng tài chính tiền tệ: Khủng hoảng tài chính tiền tệ là
khái niệm bao trùm được sử dụng chung cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân
đối về tài chính và thường là gắn với nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương
tiện dùng để thanh toán tại một thời điểm nào đó. Tính thanh khoản rất cao của nguồn
vốn FPI là nguyên nhân hàng đầu gây ra rủi ro này. Khủng hoảng có thể xảy ra khi các
nhà ĐTNN ồ ạt rút vốn với quy mô lớn, khi nền kinh tế gặp phải các cú sốc, nếu khu
vực tài chính nội địa không có khả năng đương đầu với sự đảo ngược của dòng vốn
hoặc FPI không được điều tiết, giám sát thận trọng.
 Ảnh hưởng đến tính độc lập của chính sách tiền tệ và sự ổn định của tỷ giá
Theo mô hình Mundell- Fleming được Robert Mundell và Marcus Fleming phát triển
trong những năm 1960, một quốc gia không thể đồng thời thực hiện cùng một lúc 3
mục tiêu chính sách vĩ mô: đó là chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và tự do hóa
dòng vốn.

21
Cùng với quá trình tự do hóa dần tài khoản vốn, NHTW các nước chỉ có thể đạt
được một trong hai mục tiêu còn lại: sự độc lập trong chính sách tiền tệ hay giữ ổn
định tỷ giá. Việc cố phá bỏ các nguyên tắc này sẽ khiến cho các chính sách kinh tế vĩ
mô trở nên mâu thuẫn nhau và dẫn đến những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế. Tuy
nhiên, cũng không phải là không có những biện pháp làm hài hòa những mục tiêu trên
với một mức độ nhất định ở những điều kiện kinh tế cụ thể.

nhà nước, quy định tỷ lệ và sử dụng các công cụ dự phòng, dư nợ cũng như các công
cụ khác của các định chế tài chính – tiền tệ quốc gia và địa phương. Tất cả những điều
này là cần thiết để đảm bảo sự thu hút và khai thác có hiệu quả các tác động tích cực
của dòng vốn FPI.
1.3. Những nhân tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị
trường chứng khoán.
Cũng như FDI, động thái dòng vốn FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ
của các nhân tố như bối cảnh quốc tế (hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao
và môi trường pháp lý quốc tế thuận lợi); nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà ĐTNN;
mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự thân thiện, thuận
tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong nước; sự
phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể
chế thị trường nói chung ở nước tiếp nhận đầu tư…..
Nhưng khác với đầu tư trực tiếp, vốn FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh hơn từ
phía các nhân tố, như:
o Độ mở cửa của TTCK, chất lượng của các cổ phiếu, trái phiếu do doanh
nghiệp và nhà nước phát hành, cũng như các chứng khoán có giá khác lưu thông trên
thị trường tài chính.
23
o Chính sách kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài của Chính phủ nước tiếp
nhận, khả năng quản lý và điều tiết dòng vốn ngoại.
o Sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung
gian (trước hết là các Quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chính các loại, các
Quỹ đầu tư đại chúng, Quỹ đầu tư mạo hiểm, Quỹ thành viên).
o Chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, trong đó có
các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm doanh nghiệp
và chứng khoán.

1.3.3. Chất lượng thông tin.
Thế giới luôn vận động và không ngừng phát triển. Do đó, ai là người nắm
được thông tin trước nhất, chính xác nhất người đó sẽ có được tất cả. Điều này càng
thể hiện tính đúng đắn rất cao trong lĩnh vực tài chính. Chất lượng thông tin- sự nhanh
chóng, minh bạch và có quản lý của thông tin sẽ là một trong những điều kiện rất quan
trọng thúc đẩy nhà ĐTNN tham gia vào TTCK Việt Nam. Ngược lại, như trong bối
cảnh của Việt Nam hiện nay, bộ phận quản lý của doanh nghiệp còn yếu kém, hệ
thống kế toán kiểm toán còn nhiều bất cập, hệ thống thông tin còn thiếu và yếu, các
báo cáo tài chính doanh nghiệp chưa trung thực…thì sẽ rất khó để các nhà ĐTNN có
đủ niềm tin vào một tương lai tốt của chứng khoán Việt Nam.
1.3.4. Biện pháp kiểm soát dòng vốn.
Các biện pháp kiểm soát vốn của quốc gia nhận đầu tư cũng có tác động không
nhỏ đến việc duy trì và phát triển lượng vốn FPI. Nếu chính phủ có những biện pháp
kiểm soát quá chặt, ngăn cản các luồng vốn vào hay kiểm soát thái quá vào dòng vốn
thoái thì sẽ rất khó để TTCK có thể thu hút vốn ngoại, phát huy hết vai trò của mình.
Nhưng nếu mở cửa thị trường vốn thì rất có thể đẩy nền kinh tế rơi vào tăng trưởng
25
nóng. Chính vì thế, kiểm soát dòng vốn ngoại luôn được chính phủ quan tâm và tìm
phương án phù hợp trong mỗi giai đoạn.
Ngoài ra, sự luân chuyển vốn còn chịu ảnh hưởng bởi các biện pháp kiểm soát
vốn của nước đầu tư. Việc áp dụng các biện pháp này nhằm đối phó với sự yếu kém về
cấu trúc trong vị thế cán cân thanh toán quốc gia. Ngay cả những nước như Úc, Đan
Mạch, Pháp, Na Uy có lúc cũng đã áp dụng biện pháp hạn chế chuyển nội tệ ra nước
ngoài tuy nhiên những năm gần đây đã trở nên thoáng hơn.
1.3.5. Chính sách tỷ giá hối đoái.
Các biến động tỷ giá hối đoái thực được dự báo bởi các nhà đầu tư chứng khoán
cũng có thể ảnh hưởng đến dòng FPI. Nếu nội tệ của một nước được dự kiến tăng giá,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status