Một số giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 23

Mục lục
Danh mục ký hiệu các chữ viết tắt............................................................................................2
Lời nói đầu...........................................................................................................................................1
Chơng I:
Lý luận về vốn đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán.........................................2
Chơng II:
Thực trạng đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán Việt Nam...........................19
Chơng III:
Một số giải pháp thu hút vốn đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán Việt
Nam......................................................................................................................................................59
kết luận.............................................................................................................................................81
tài liệu tham khảo............................................................................................................................1
Danh mục ký hiệu các chữ viết tắt
ADB
Ngân hàng phát triển Châu á
DNNN
Doanh nghiệp nhà nớc
FDI
Đầu t trực tiếp nớc ngoài
FPI
Đầu t gián tiếp nớc ngoài- đầu t danh mục chứng khoán
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
NHTM
Ngân hàng thơng mại
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
TTCK
Thị trờng chứng khoán

Em cũng xin chân thành cảm ơn Cô giáo Tiến sĩ Nguyễn Hoàng ánh đã
nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khoá luận này.
Nội dung của khoá luận gồm ba chơng:
Chơng I : Lý luận về vốn đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán
Chơng II: Thực trạng đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán Việt Nam
Chơng III: Một số giải pháp thu hút vốn đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng
khoán Việt Nam.
1
Chơng I:
Lý luận về vốn đầu t nớc ngoài qua thị trờng
chứng khoán
I.Lý luận chung về vốn nớc ngoài
1.Khái niệm về vốn nớc ngoài
Trong lịch sử giao lu kinh tế giữa các vùng kinh tế khác nhau đã diễn ra
nhiều hình thức trao đổi và di chuyển các nguồn lực. Ban đầu hình thức tơng đối
đơn giản - đơn giản cả về đối tợng và hình thức di chuyển. Trong thời kỳ nô lệ,
hình thức di chuyển sức lao động của nông lô là điển hình. Do nhu cầu về sức
lao động rất lớn ở các vùng có nền nông nghiệp phát triển nên nô tì đợc mua về
từ các vùng khác nhau để làm việc tại các vùng này.
Trong thời kỳ phong kiến, hiện tợng di chuyển các nguồn lực vẫn diễn ra.
Thời kỳ này đối tợng di chuyển không chỉ còn là sức lao động mà còn kèm theo
sự di chuyển về nguyên vật liệu cho sản xuất.
Khi chủ nghĩa t bản ra đời, các hình thức di chuyển và trao đổi các nguồn
lực đợc thực hiện một cách đa dạng và phong phú hơn. Thời kỳ đầu, xu hớng di
chuyển các nguồn lực đợc thực hiện một chiều từ các nớc bị đô hộ tới các nớc đi
đô hộ. Các nớc đi đô hộ vơ vét, tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú của các nớc bị đô hộ để thực hiện công cuộc phát triển của chính mình.
Trong thời kỳ này, đối tợng di chuyển chủ yếu là tài nguyên, nhiên liệu phục vụ
cho sản xuất và đời sống, hình thức di chuyển hầu hết mang tính bóc lột.
Khi chủ nghĩa đế quốc sụp đổ, sự đô hộ của các nớc đế quốc đối với các n-

Khi nền sản xuất phát triển hơn, nhu cầu không chỉ dừng lại ở sức lao động
mà còn có thêm nhu cầu về nguyên nhiên liệu, mặt khác, do sự phân bố tài
nguyên ở các vùng khác nhau là khác nhau dẫn đến sự thiếu hụt và d thừa
nguyên nhiên vật liệu sản xuất, do vậy nguồn vốn nớc ngoài lúc này bao gồm
sức lao động và nguyên, nhiên vật liệu.
Khi chủ nghĩa t bản phát triển, kèm theo nó là sự phát triển rất nhanh của
khoa học kĩ thuật làm cho nền sản xuất phát triển đạt đến trình độ cao hơn.
Khoa học kĩ thuật đợc áp dụng nhiều hơn vào sản xuất. Nhiều công nghệ sản
xuất, quản lý mới ra đời và nó trở thành yếu tố không thể thiếu trong sản xuất
kinh doanh. Lúc này, nguồn lực bên ngoài không chỉ gồm sức lao động và
3
nguyên nhiên vật liệu mà còn có thêm cả yếu tố kĩ thuật, công nghệ, nguồn lực
tài chính phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
Sản xuất càng phát triển, nguồn vốn nớc ngoài di chuyển giữa các nớc, các
khu vực khác nhau ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Hầu hết các yếu tố
phục vụ cho sản xuất đều có thể trở thành yếu tố đợc di chuyển trên thế giới. Và
nó trở thành nguồn vốn nớc ngoài cho quốc gia tiếp nhận nó.
Nh vậy, nguồn vốn nớc ngoài không chỉ bao gồm các yếu tố hữu hình
nh vốn, máy móc thiết bị, nguyên nhiên liệu,... mà còn bao gồm cả yếu tố vô
hình nh công nghệ; kĩ thuật; bí quyết; danh tiếng, tác phong kinh doanh... .
Nguồn vốn nớc ngoài tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau. Do vậy, để có
những phân tích sâu hơn về đặc điểm và vai trò của nó chúng ta sẽ phân chia
nguồn vốn nớc ngoài ra thành từng loại khác nhau.
2.Phân loại vốn nớc ngoài
2.1 Phân loại dựa trên hình thức tồn tại của từng loại vốn
Theo hình thức tồn tại nguồn vốn nớc ngoài bao gồm hai loại chính: hữu
hình và vô hình.
a) Vốn nớc ngoài tồn tại hữu hình
Vốn nớc ngoài tồn tại hữu hình là tất cả các nguồn lực hữu hình bên ngoài
đợc huy động vào một quốc gia. Bao gồm:

các khoản viện trợ đa phơng (bao gồm cả các tổ chức tình nguyện t nhân) và
các khoản hỗ trợ phát triển chính thức khác..
- Dòng vốn đầu t t nhân: bao gồm đầu t trực tiếp, đầu t chứng khoán, tín
dụng xuất khẩu t nhân, vay ngân hàng.
Căn cứ theo cách phân chia của các nhà kinh tế Việt Nam và để phục vụ
cho mục đích nghiên cứu, trong phạm vi khoá luận này xin phân chia nguồn
vốn nớc ngoài thành các loại chính sau :
- Vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp (FDI)
Vốn nớc ngoài dới dạng đầu t trực tiếp là tất cả các nguồn lực đợc đầu t
vào một quốc gia và chịu sự chi phối và quản lý trực tiếp từ các chủ đầu t nớc
ngoài. Đây là loại vốn nớc ngoài đợc đầu t trực tiếp từ bên ngoài vào nớc nhận
vốn. Nó thờng tồn tại dới dạng đầu t trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia
vào nớc tiếp nhận. Các nguồn vốn nớc ngoài đợc sử dụng trực tiếp tại nớc tiếp
nhận dới sự quản lý của chủ đầu t. Đây là bộ phận quan trọng trong các luồng
5
vốn vào, nó có tính chất dài hạn, không rằng buộc về chính trị, không để lại
gánh nặng nợ nần cho nớc tiếp nhận, thờng đi kèm với chuyển giao công nghệ
và kỹ năng quản lý,
- Tín dụng thơng mại:
Đây là hình thức bên nớc ngoài cho vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất
tiền vay, bên nớc ngoài chủ yếu các ngân hàng nớc ngoài nên nguồn vốn này
còn đợc gọi là vốn vay ngân hàng. Ngoài ra còn có một phần nhỏ khác là tín
dụng xuất khẩu t nhân (bên nớc ngoài khi xuất khẩu cho chịu tiền hàng một thời
gian). Đối với loại vốn này, bên nớc ngoài không tham gia vào hoạt động của
bên đi vay và bên vay vốn có toàn quyền sử dụng khoản vốn này, bên chủ đầu t
nớc ngoài chỉ thu lợi nhuận qua lãi suất ngân hàng cố định theo khế ớc vay độc
lập với kết quả kinh doanh.
- Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và khoản tài trợ có hoàn lại
(cho vay dài hạn với một số số thời gian ân hạn và lãi suất thấp) của chính phủ,

- Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
- Tín dụng thơng mại
- Đầu t danh mục chứng khoán (FPI)
II. Lý luận về nguồn vốn đầu t nớc ngoài qua thị trờng
chứng khoán (FPI)
1. Khái niệm
Nh đã nói ở trên, đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán là một trong
những nguồn vốn nớc ngoài chính và nó ngày càng trở nên quan trọng, chiếm tỷ
lệ lớn trong cơ cấu vốn nớc ngoài.
Thị trờng chứng khoán đã ra đời từ rất sớm, bản thân nó là một kênh huy
động vốn trực tiếp trong nền kinh tế quốc dân. Đó là nơi mà các nhà đầu t tìm
kiếm, thay đổi cơ hội và lĩnh vực đầu t của mình. Nếu khung pháp lý cho hoạt
động này chỉ bó hẹp đối với các nhà đầu t trong nớc thì thị trờng chứng khoán
chỉ đơn thuần là một kênh huy động vốn trong nớc. Nhng nếu khung pháp lý
mở rộng ra cho các nhà đầu t nớc ngoài thì đây lại là một kênh huy động vốn n-
ớc ngoài cho nền kinh tế. Trên thực tế, do những u điểm nổi bật của thị trờng
7
chứng khoán, do xu hớng tự do hoá tài chính, hầu hết các quốc gia có thị trờng
chứng khoán đều cho phép các nhà đầu t nớc ngoài đợc phép tham gia vào thị
trờng chứng khoán. Những nớc này, ở một chừng mực nào đó, đã thành công
trong việc thu hút vốn nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán.
Đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán là việc nhà đầu t nớc ngoài
(có thể là cá nhân hoặc tổ chức) bỏ tiền ra mua chứng khoán của một tổ
chức hay của nhà nớc đợc phát hành trên thị trờng chứng khoán nhằm kiếm
lời từ thu nhập cổ tức hay trái tức hoặc từ chênh lệch giá do kinh doanh
chứng khoán đem lại.
2. Đặc điểm
Đầu t nớc ngoài thông qua thị trờng chứng khoán hay đầu t danh mục
chứng khoán (FPI) là một bộ phận cấu thành của tổng luồng vốn chu chuyển
chu chuyển vào và ra một quốc gia. Xét về mặt bản chất, đầu t danh mục chứng

cũng có lúc cần phải huy động nguồn vốn nớc ngoài bằng việc phát hành trái
phiếu. Khoản vốn này đợc dùng cho các chơng trình, dự án hoặc để bù đắp tạm
thời ngân sách bị thiếu hụt. Thời hạn của các khoản vay này thờng rất dài vì
mục đích sử dụng nguồn vốn này hầu hết dành cho các dự án lớn, lâu dài của
chính phủ. Đối với các công ty, khi cần mở rộng kinh doanh, nâng cao trình độ
kĩ thuật công nghệ hoặc thực hiện chiến lợc đầu t lâu dài của mình cũng cần
phải có một lợng vốn khá lớn trong khoảng thời gian dài.
- Lãi suất của loại này thờng cao hơn so với lãi suất vay bằng ODA.
Vì mục đích của nhà đầu t là thu lợi nhuận thông qua khoản lãi suất đợc hởng
từ việc mua trái phiếu, nên các nhà đầu t luôn đặt yêu cầu lãi suất lên hàng đầu.
Do vậy, công ty hoặc chính phủ khi phát hành trái phiếu luôn phải định ra mức
lãi suất đủ cao để thu hút nhà đầu t nớc ngoài, thậm chí lãi suất loại này còn cao
hơn cả lãi suất trung bình trên thế giới bởi vì lãi suất loại này còn tính đến cả
yếu tố rủi ro lạm phát và một số rủi ro khác.
- Không kèm theo bất kỳ một điều kiện gì hay một sự rằng buộc nào từ phía
bên cung cấp vốn.
9
Đây là một u điểm nổi bật so với vốn ODA của loại vốn này, nó rất có lợi cho
bên tiếp nhận vốn vì sẽ không phải chịu các điều kiện bất lợi khác từ phía bên
cung cấp.
- Không bị hạn chế về mục đích sử dụng và chịu sự giám sát trong việc sử
dụng vốn.
Đây là một u điểm nữa so với nguồn vốn ODA, vì nền kinh tế không phải
chịu sự chi phối về mục đích sử dụng của nhà đầu t. Chính vì vậy mà nền kinh
tế có thể tận dụng tối đa tác dụng của vốn, sử dụng phục vụ cho đúng mục đích
phát triển của mình.
- Phát sinh nợ cho bên tiếp nhận.
Thực chất đây là một khoản vốn vay dài hạn của bên phát hành trái phiếu với
nhà đầu t, trái phiếu luôn có một khoảng thời gian nợ xác định trớc và việc trả
nợ đợc đảm bảo bằng cam kết của chính phủ và các doanh nghiệp.

t vào thì không đợc phép nêu ra bất kỳ một rằng buộc hay điều kiện gì. Nh vậy,
việc đầu t hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện, không đợc phép có thêm một điều
kiện gì.
3. Vai trò của nguồn vốn đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán
Thu hút nguồn vốn nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán để bổ sung cho
các nguồn vốn khác trong và ngoài nớc nhằm phát triển kinh tế là một chủ trơng
lớn của Đảng và chính phủ.
3.1. Vai trò chung của nguồn vốn n ớc ngoài:
Các nớc đang phát triển là những nớc đang trong quá trình chuyển đổi nền
kinh tế một cách toàn diện và sâu sắc. Nhu cầu về vốn trong giai đoạn này là rất
lớn; vốn phục vụ cho việc chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, vốn cho việc xây dựng
và cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, vốn cho việc xây dựng và phát triển các
ngành công nghiệp mới mang tính chủ đạo, vốn cho việc giải quyết các vấn đề
kinh tế nảy sinh trong thời kỳ chuyển đổi nh thất nghiệp, trình độ lao động ,
vốn cho việc nhập khẩu công nghệ máy móc hiện đại đáp ứng yêu cầu đổi mới
và cạnh trên trờng quốc tế.Chính vì vậy việc huy động thêm các nguồn lực từ
bên ngoài trong giai đoạn này là thực sự cần thiết.
11
Trong tình trạng nền kinh tế kém phát triển, chủ yếu dựa vào nông nghiệp
và công nghiệp chế biến thô sơ, tích luỹ từ bản thân nền kinh tế còn quá thấp.
Hơn nữa, cũng từ việc sản xuất kém phát triển dẫn đến thu nhập của ngời dân
thấp từ đó làm cho tiết kiệm trong dân rất ít. Tích luỹ (mức độ tái đầu t trích từ
lợi nhuận) của nền kinh tế thấp, tiết kiệm trong dân thấp dẫn đến không đáp ứng
đợc nhu cầu về vốn cho đổi mới. Vì vậy nguồn vốn nớc ngoài có vai trò bổ sung
nguồn vốn đầu t, tăng tốc độ tái đầu t, cần thiết cho một tiến trình tăng tốc
nhanh.
3.2.Vai trò riêng nguồn vốn đầu t n ớc ngoài qua thị tr ờng chứng khoán
Vốn đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán có những đặc điểm riêng
do vậy nó cũng có những vai trò riêng đối với sự phát triển kinh tế của nớc tiếp
nhận.

tính bất ổn định của ngoại hối
- Dòng vốn vợt qua biên giới này cũng đạt ra yêu cầu tạo điều kiện tăng c-
ờng chất lợng hoạt động của các trung gian tài chính. Các định chế tài chính n-
ớc ngoài có thể mang các kỹ thuật quản lý, các giáo trình đào tạo, công nghệ,
sản phẩm mới vào thị trờng trong nớc. Sức ép cạnh tranh mà các định chế tài
chính nớc ngoài tạo ra buộc các tổ chức trong nớc phải cải cách hoạt động hiệu
quả hơn, linh hoạt hơn với chi phí thấp hơn. Nó cũng thúc đẩy sự phát triển của
các tổ chức phụ trợ trên thị trờng nh định mức tín nhiệm, kế toán, kiểm toán,
các đơn vị chuyên thu thập và cung cấp tin tức.
- Nguồn vốn đầu t nớc ngoài qua thị trờng chứng khoán cũng yêu cầu nền
kinh tế phát triển lành mạnh, duy trì một hệ thống chính sách tốt, có khả năng
kiểm soát dự đoán trớc, minh bạch, công bằng. tạo tâm lý tin cậy cho nhà đầu
t trong và ngoài nớc. Vì nguồn vốn này có tính dễ đột biến, nếu không tạo đợc
tâm lý tin cậy cho các nhà đầu t, rất dễ xảy ra tình trạng đào tháo vốn là một
trong nguyên nhân gây nên khủng hoảng.
III. Kinh nghiệm thu hút và quản lý vốn đầu t nớc ngoài
qua thị trờng chứng khoán một số nớc
Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá các nền kinh tế hiện nay, nền kinh tế của
một quốc gia nói chung và thị trờng chứng khoán nói riêng không thể tồn tại
nh một ốc đảo riêng biệt. Sự tham gia, thâm nhập của các nhà đầu t nớc ngoài
(bao gồm cả nhà đầu t cá nhân và nhà đầu t có tổ chức) vào thị trờng chứng
khoán của một nớc là điều đơng nhiên và hiện nay trên thế giới thậm chí đang
13
có xu hớng nhất thể hoá thị trờng chứng khoán của nhiều quốc gia trong khu
vực.
Mô hình phân tích nguồn FPI hiện đang đợc các nhà kinh tế và hoạch
định chính sách của các nớc sử dụng là mô hình đầu t- hay mô hình kéo. Các
nhà đầu t nớc ngoài luôn đánh giá các cơ hội đầu t trong nớc cũng nh ngoài nớc,
và khi họ thấy rằng cơ hội của các nớc đang phát triển tạo ra lợi tức cao hơn thì
họ sẽ quyết định đầu t. Yếu tố thu hút các nhà đầu t là các yếu tố cơ bản của thị

thời gian đáo hạn ngắn hơn, dẫn đến nợ ngắn hạn tăng nhanh,. Sự tăng vọt của
các khoản đầu t ngắn hạn làm tăng rủi ro các dòng vốn đổ vào, góp phần gây
nên cuộc khủng hoảng 1997.
Vào khoảng thập kỷ 70 và 80, hầu hết dòng vốn vào dới hình thức ODA.
Từ cuối những năm 80 đến nay, cơ cấu dòng vốn đã chuyển theo hớng tỷ trọng
vốn t nhân ngày càng tăng tơng ứng với vai trò ngày càng tăng của khu vực t
nhân trong nền kinh tế Indonesia. Dòng vốn đổ vào Indonesia đã tăng nhanh
trong giai đoạn từ 1990 đến 1996, do xuất hiện những khoản vay không chính
thức trên cơ sở nới lỏng xoá bỏ những hạn chế đối với các khoản vay thơng mại,
đợc sử dụng công cụ swap và lãi suất trong nớc tăng cao so với lãi xuất bên
ngoài. Số d các khoản vay t nhân đã thay đổi từ mức cho vay 0,1 tỷ USD năm
1989 sang mức đi vay 0,5 tỷ USD năm 1990, và con số này tăng lên đến 2,6 tỷ
USD vào năm 1996.
Đầu t gián tiếp FPI tăng từ 0,4 tỷ USD trong 2 năm 1989 lên mức 2 tỷ đô
la năm 1990, nhng sau đó giảm xuống 1 tỷ USD trong hai năm 1991 và 1992.
Đầu t gián tiếp có xu hơng gia tăng nhờ những biện pháp chính sách khuyến
khích của chính phủ đối với thị trờng vốn và nhờ có lãi suất tăng lên. Trong giai
đoạn đầu, đầu t gián tiếp tăng lên vào năm 1990 chủ yếu là nhờ sự điều chỉnh
các văn bản pháp quy thị trờng vốn. Sau năm 1992 dòng vốn gián tiếp vào
Indonesia không ngừng tăng lên đạt mức tối đa vào cuối năm 1996 trớc khi đi
xuống vào năm 1997. Năm 1997, sau những biến động lớn trên Sở giao dịch
chứng khoán Jakarta, dòng vốn đầu t gián tiếp đã suy giảm hết sức nhanh chóng
do các nhà đầu t nớc ngoài đã bán tống bán tháo các tài sản của mình.
15
Có thể rút ra kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ 1997 của
Indonesia, cuộc khủng hoảng có một nguyên nhân quan trọng là do không quản
lý đợc nguồn vốn đầu t gián tiếp FPI. Việc phân bổ nguồn vốn này kém hiệu
quả do sự yếu kém của hệ thống giám sát các công ty niêm yết, quản trị công
ty kém, các thông tin sai lệch ảnh hởng đến quyết định của các nhà đầu t nớc
ngoài vào thị trờng chứng khoán Indonesia. Chính phủ Indonesia lại không duy

phá vỡ trong trờng hợp các quỹ đầu t thông nhau.
3. Kinh nghiệm một số nớc khác
ở Đài Loan, luật pháp quy định nhà đầu t là tổ chức hoặc cá nhân nớc
ngoài có đủ năng lực để có thể mua tới 15% tổng số cổ phiếu đang lu hành của
bất kỳ một công ty niêm yết nào. Nhng tổng số vốn cổ phần do các nhà đầu t n-
ớc ngoài nắm giữ không quá 30% vốn cổ phần của một công ty.
ở Thái Lan, các cá nhân hoặc tổ chức nớc ngoài có thể sở hữu tổng cộng
không quá 49% cổ phiếu của một công ty và 25% cổ phiếu của một tổ chức tài
chính. Riêng với Trung Quốc thì chỉ cho phép nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào
một loại cổ phiếu riêng biệt (cổ phiếu B) để dễ bề quản lý.
Ngay tại Mỹ, không phải chứng khoán của công ty bất kỳ nào cũng có
thể tham gia vào bảng định giá của NYSE. Đối với các công ty nớc ngoài, điều
kiện còn chặt chẽ hơn. Các công ty này phải có một số các chỉ tiêu về số lợng
tiền mặt đáng kể. Hơn nữa, ngoài việc trả lệ phí bớc đầu và các khoản tiền khác,
công ty phải có nghĩa vụ cung cấp bảng thông báo có đăng ký về tình hình tài
chính 3 tháng một lần, phải chấp nhận việc không đợc bán cổ phần nếu không
đợc sự cho phép của thị trờng chứng khoán New York, duy trì đại lý chuyển
giao để xử lý các văn bản của các cổ đông... Đây là những tiêu chuẩn căn bản
mà nếu không đáp ứng đợc, công ty có thể bị loại ra khỏi danh sách.
Riêng Luật chứng khoán Thái Lan có quy định rất rộng rãi với phía nớc
ngoài. Ngời nớc ngoài có thể sở hữu 49% vốn của một Công ty, ngành ngân
hàng, tài chính là 25%. Một phần nào đó vì lý do này mà khi cuộc khủng hoảng
tiền tệ Châu á nổ ra, các nhà đầu t gián tiếp ồ ạt rút vốn khỏi thị trờng làm thị tr-
17
ờng chứng khoán Thái Lan sụp đổ, càng làm cho tốc độ khủng hoảng nền kinh
tế tăng cao.
Nh vậy, việc quản lý và hạn chế sự tham gia của nớc ngoài vào thị trờng
chứng khoán trong giai đoạn đầu, đặc biệt là đối với các nớc đang phát triển là
hết sức cần thiết nhằm tránh khả năng thao túng và gây rối loạn thị trờng trong
khi kinh nghiệm quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, mặc dù nó sẽ làm

Mức tăng trởng đợc duy trì ở con số cao nh vậy là do có sự gia tăng về
tổng cầu trong nớc. Tỷ lệ tăng tổng mức bán lẻ hàng hoá đã đợc phục hồi trở lại
mức cha từng có kể từ khi nên kinh tế bị ảnh hởng bởi cuộc khủng hoảng Đông
á năm 1997. Sản xuất hàng tiêu dùng lâu bền nh vật liệu xây dựng nhà, ô tô, xe
máy, và ti-vi khẳng định rằng mức tiêu dùng đã tăng nhanh trong giai đoạn
này.
Biểu đồ 2: Tỷ lệ tổng mức bán lẻ
Nguồn : Tổng cục thống kê (2002) và ớc tính của Ngân hàng thế giới
(WB).
20
1.1.4. Đầu t phát triển tăng
Việc nhiều doanh nghiệp mới đợc thành lập và niềm tin vững chắc của các
nhà đầu t đã thúc đẩy việc đầu t vốn và đa con số những doanh nghiệp đăng ký
mới lên trên 50.000 trong vòng 2 năm qua. Đến tháng 7-2002, vốn đầu t từ những
doanh nghiệp mới đã tăng 45% so với cùng kỳ năm trớc. Riêng đầu t của những
doanh nghiệp mới vừa và nhỏ trong khu vực kinh tế chính thức đạt 40 nghìn tỷ
đồng ( tơng đơng với khoảng 2,7 tỷ USD) trong năm 2003, tức là gần 9% GDP.
Tổng đầu t của khu vực nhà nớc, kể cả từ nguồn ngân sách và vốn của doanh
nghiệp vào khoảng mức 18% GDP năm 2002.
1.1.5. Cơ cấu nền kinh tế dịch chuyển theo hớng kinh tế thị trờng
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong nớc tiếp tục dẫn đầu về tăng tr-
ởng. Ngành chế biến tiếp tục tăng mạnh với khu vực t nhân trong nớc và đầu t
nớc ngoài đạt tỷ lệ tăng sản lợng lần lợt là 19% và 15%. Nguyên nhân của xu h-
ớng này là tỷ lệ doanh nghiệp mới đợc thành lập đạt mức cao trong năm 2002.
Với mức tăng sản lợng 12% năm sau so với năm trớc, sản xuất công nghiệp của
khu vực nhà nớc có khiêm tốn hơn. Điều này phản ánh sự chuyển dịch dần dần
của Việt Nam sang kinh tế thị trờng, nhiều doanh nghiệp nhà nớc ngày càng
phải đứng trớc áp lực cạnh tranh và việc hạn chế ngân sách cứng rắn hơn. Giá trị
gia tăng trong khu vực t nhân đã vợt khu vực nhà nớc, ít nhất kể từ năm 1997.
1.2.Một số tồn tại

1.2.3. Các doanh nghiệp còn phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay ngân
hàng
Nguyên nhân chủ yếu là do Thị trờng chứng khoán còn hoạt động cha có
hiệu quả. Khu vực ngân hàng phải đáp ứng cả nhu cầu cho vay trung và dài hạn
cho các doanh nghiệp trong khi phần lớn nguồn huy động của các ngân hàng lại
là ngắn hạn. Chính vì vậy trên bảng cân đối luôn có nợ quá hạn, và đây chính là
một yếu tố làm giảm tỷ lệ tăng trởng kinh tế chung (Xem biểu đồ 5).
Biểu đồ 5: Nợ quá hạn ngân hàng trên tổng d nợ.
Nguồn: Báo cáo ADB (2000)
1.2.4. Quá trình cổ phẩn hoá đã diễn ra quá chậm chạm,
Điều này một phần là do cha có một thị trờng cổ phiếu hiệu quả. Chính
phủ đã có kế hoạch cổ phần hoá đợc khoảng 2500 Doanh nghiệp nhà nớc đến
hết hết năm 2000 nhng đến nay mới chỉ có khoảng 900 doanh nghiệp hoàn tất
cổ phần hoá. Kết quả là khối Doanh nghiệp nhà nớc vẫn còn khá lớn và gặp
nhiều khó khăn.
23

Trích đoạn Định hớng phát triển thị trờng Việt Nam Một số giải pháp thực hiện Chính sách đối với ngời đầu t nớc ngoài đã rõ ràng. Chính sách của Việt Nam cha nhất quán và cha thông thoáng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status