182 Định hướng và các giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian tới - Pdf 24

1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, BẢNG, BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1.................................................................................................................3
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN - MỘT KÊNH DẪN QUAN TRỌNG ĐỐI
VỚI THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI.....................................................3
1.1. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN - MỘT KÊNH DẪN QUAN TRỌNG
ĐỐI VỚI THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI............................................3
1.1.1 TTCK: Khái niệm, đặc điểm, các thành phần tham gia TTCK, nguyên
tắc hoạt động của TTCK, cơ cấu, chức năng và vai trò của TTCK, xu thế phát
triển trên TTCK thế giới .......................................................................................3
1.1.2 Lý thuyết về đầu tư: ...............................................................................8
- 1.1.3 Các hình thức thu hút vốn ĐTNN trên TTCK.....................................10
1.2. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NĐTNN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
TTCK VIỆT NAM .................................................................................................11
1.2.1. Những tác động tích cực:.....................................................................12
1.2.2. Những tác động tiêu cực:.....................................................................13
1.3. KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC VỀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC
NĐTNN VÀO TTCK TRONG NƯỚC: ................................................................15
1.3.1. Ban đầu cho phép NĐTNN sở hữu một tỷ lệ cổ phần thích hợp trong
các công ty niêm yết sau đó nâng dần lên ..........................................................16
1.3.2. Phát hành một loại cổ phiếu riêng cho NĐTNN giao dịch..................18
1.3.3. Cho phép đầu tư 100% vốn vào tất cả các công ty trong mọi lĩnh vực,
nhưng hạn chế đối với một số ngành nghề đặc biệt quan trọng .........................19
1.3.4. Xây dựng một “danh sách theo ngành nghề các công ty không có đầu
tư nước ngoài” ....................................................................................................20
1.3.5. Ban hành một tỷ lệ mua chứng khoán ban đầu của các NĐTNN cho
đợt phát hành IPO...............................................................................................20
CHƯƠNG 2...............................................................................................................22
TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM THÔNG QUA

2.4.4. Các trở ngại chính đối với việc đầu tư của NĐTNN vào TTCK Việt
Nam 54
2.4.5. Thủ tục hành chính đối với NĐTNN ...................................................56
2.4.6. Về thông tin trên TTCK.......................................................................56
2.4.7. Về dịch vụ của các công ty chứng khoán ............................................57
CHƯƠNG 3...............................................................................................................58
ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI VÀO TTCK VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI ...........................................58
3.1. Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010:..............................58
3.1.1. Mục tiêu: ..............................................................................................58
3.1.2. Quan điểm và nguyên tắc phát triển TTCK.........................................58
3.1.3. Định hướng phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010:.....................59
3.2. Các giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK ...........................60
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thị trường chứng khoán....60
3.2.3. Khuyến khích các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi
thành công ty cổ phần và niêm yết trên TTCK...................................................63
3.2.4. Khuyến khích doanh nghiệp niêm yết và phát hành chứng khoán......65
3.2.5. Thực hiện việc giới thiệu, quảng bá Việt Nam và TTCK Việt Nam với
các NĐTNN ........................................................................................................68
3.2.6. Thực hiện chính sách ưu đãi đối với NĐTNN.....................................70
3.2.7. Đa dạng hóa thông tin và tạo chiều sâu về thông tin TTCK................70
3.2.8. Mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng hoạt động các công ty chứng
khoán 71
3.2.9. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và đào tạo về chứng khoán: ............73
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12


Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK có thể được chia thành 3 nhóm sau:
Nhà phát hành
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

4
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK. Nhà
phát hành là người cung cấp chứng khoán – hàng hóa của TTCK.
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành trái phiếu chính phủ
và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái
phiếu, chứng chỉ thụ hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ.
Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK.
Nhà đầu tư có thể chia thành 2 loại: Nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức.
- Nhà đầu tư cá nhân: Là những người có vốn tạm thời nhàn rỗi, tham gia mua
bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
- Nhà đầu tư tổ chức: hay còn gọi là các định chế đầu tư, thường xuyên mua
bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các tổ chức này thường có
các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên
cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư. Các nhà đầu tư chuyên nghiệp
trên TTCK bao gồm các quỹ đầu tư, các ngân hàng, công ty tài chính, công ty
chứng khoán, v.v.
Nhà môi giới – Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng
khoán có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh
phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư chứng
khoán.
1.1.1.4. Nguyên tắc hoạt động của TTCK:
Nguyên tắc cạnh tranh:

chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư
thường không mua trực tiếp của các nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát
hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh chứng
khoán, các công ty chứng khoán mua bán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các
khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài
khoản của mình.
Nguyên tắc tập trung:
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

6
TTTCK phải hoạt động trên nguyên tắc tập trung. Các giao dịch chứng
khoán chỉ diễn ra trên Sở Giao dịch Chứng khoán và trên thị trường OTC, có sự
kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức tự quản. Các chứng
khoán, hàng hóa của TTCK là các sản phẩm tài chính cao cấp nên việc giao dịch
chúng đòi hỏi thị trường phải có những cơ sở vật chất nhất định chứ không thể diễn
ra một cách tùy tiện.
1.1.1.5. Chức năng, vai trò của TTCK:
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn
rỗi được họ đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản
xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, TTCK đã có những
tác động quan trọng đối sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thông qua TTCK,
chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho
mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung
của xã hội.
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các
cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về
tính chất, thời hạn rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loại hàng hóa
phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình. Chính vì vậy, TTCK góp phần

trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
(i) Thị trường sơ cấp:
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.
Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua
việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành. Thị trường sơ cấp còn được
gọi là thị trường cấp một hay thị trường cạnh tranh.
(ii) Thị trường thứ cấp:
Thị trường là nơi giao dịch các chứng khoán đã đươc phát hành trên thị
trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán
đã phát hành.
Căn cứ vào tính chất tập trung của thị trường
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

8
Căn cứ vào tính chất tập trung của thị trường, TTCK được chia thành thị
trường tập trung và thị trường phi tập trung. Tính chất tập trung ở đây là muốn nói
đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung tại một địa điểm vật chất nào đó.
- Thị trường tập trung: là các Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm Giao
dịch chứng khoán. Tại đây các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, các
lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để
hình thành nên phiên giao dịch chứng khoán. Chỉ có các loại chứng khoán đủ
tiêu chuẩn niêm yết mới được giao dịch tại đây.
- Thị trường phi tập trung (hay còn gọi là thị trường OTC – Over The Counter):
là một thị trường có tổ chức, dành cho những chứng khoán không niêm yết
trên thị trường tập trung. Thị trường OTC không có địa điểm giao dịch chính
thức, thay vào đó các nhà môi giới kết nối các giao dịch qua mạng máy tính
diện rộng giữa các công ty chứng khoán và trung tâm quản lý hệ thống.
1.1.2 Lý thuyết về đầu tư:
Đầu tư chính là sự hi sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy giá
trị trong tương lai (khả năng không chắc chắn). Đầu tư có thể được tài trợ từ nguồn

- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được
công nghiệp, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý…là những mục
tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được.
- Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư
dưới hình thức vốn pháp định và trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm
cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn
đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.
(ii) Đầu tư gián tiếp (Foreign Indirect Investment –FII):
Luật Đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 định
nghĩa về đầu tư gián tiếp như sau: “ Ðầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua
việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng
khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực
tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài có những đặc điểm sau:
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

10
- Phạm vi đầu tư có giới hạn vì các chủ đầu tư nước ngoài chỉ quyết định mua
cổ phần của những doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng phát triển
trong tương lai.
- Số lượng cổ phần mà các nhà đầu tư nước ngoài được mua bị khống chế ở
mức độ nhất định tùy theo quy định của từng quốc gia.
- Chủ đầu tư nước ngoài không tham gia điều hành hoạt động doanh nghiệp, do
đó bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh.
- Tuy doanh nghiệp đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ, kỹ
thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhưng thay vào đó, doanh nghiệp có khả
năng phân tán rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp.
1.1.3 Các hình thức thu hút vốn ĐTNN trên TTCK
1.1.3.1. Phát hành chứng khoán trên TTCK trong nước:

tín dụng. Người đi vay có thể là doanh nghiệp hoặc chính phủ. Tuy vậy, việc tìm
kiếm vốn trên thị trường tài chính quốc tế vẫn có nhiều khó khăn và thử thách, đặc
biệt là các tiêu chuẩn tín nhiệm của chứng khoán để được chấp nhận giao dịch tại
các thị trường tài chính quốc tế. Chứng khoán của các doanh nghiệp thường khó đạt
được các tiêu chuẩn tín nhiệm nên các loại chứng khoán lưu hành trên thị trường tài
chính quốc tế phổ biến là trái phiếu chính phủ. Ngoài ra, việc phát hành trái phiếu
quốc tế cũng có những hạn chế nhất định. Một mặt, phải tuân thủ các thông lệ quốc
tế, những thủ tục này rất phức tạp, đòi hỏi phải có những bước chuẩn bị kỹ càng;
mặt khác, vấn đề có tính chất bất khả kháng là khi đến hạn nhà phát hành không
được trì hoãn việc thanh toán nợ. Do đó, khi vay nợ, người đi vay phải xây dựng
phương án đầu tư có khả năng sinh lời, đủ sức chịu đựng chi phí sử dụng vốn vay và
tái tạo ngoại tệ, đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai.
1.2. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NĐTNN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
TTCK VIỆT NAM
Sự tham gia của NĐTNN vào thị trường có một ý nghĩa rất quan trọng đối
với sự phát triển của TTCK Việt Nam. Tác động của NĐTNN vào TTCK được thể
hiện rất phong phú ở nhiều khía cạnh, và nói chung đều có những mặt tích cực và
tiêu cực.
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

12
1.2.1. Những tác động tích cực:
- Các NĐTNN tạo ra sự vận động của các dòng vốn đầu tư gián tiếp trên các
TTCK, gắn liền với những biến động diễn ra trong nền kinh tế thế giới. Sự vận
động của các dòng vốn này sẽ góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển hội
nhập và quốc tế hóa TTCK Việt Nam.
- Sự tham gia tích cực của các nhà đầu tư bao gồm cả trong nước và nước
ngoài là nhân tố quan trọng hàng đầu để thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt
Nam. Trong cơ cấu nhà đầu tư thì sự tham gia của NĐTNN đóng vai trò hết sức
quan trọng, bởi vì các NĐTNN có nguồn lực tài chính rất lớn, có kỹ năng và kinh

vốn hiểu biết về chứng khoán còn hạn chế hẳn sẽ tin tưởng hơn vào TTCK Việt
Nam khi thấy các NĐTNN tham gia bởi trong mắt họ đó chính là những người
có kinh nghiệm đầu tư chứng khoán, khả năng phân tích dự báo tốt, và rất nhạy
bén đối với các hoạt động đầu tư. Yếu tố tâm lý này rất quan trọng trong việc thu
hút sự chú ý của nhiều nhà đầu tư tiềm năng trong và ngoài nước. Chỉ khi TTCK
gây dựng được lòng tin đối với công chúng, các nhà đầu tư, các công ty trong và
ngoài nước thì TTCK mới có thể phát triển được bởi chính họ là nhân tố để phát
triển thị trường và là những người hưởng lợi từ sự phát triển ấy.
- Với các NĐTNN tham gia vào TTCK Việt Nam, hành trang mà họ mang theo
không chỉ là vốn mà còn cả kiến thức về chứng khoán, kinh nghiệm quản lý kinh
doanh, kỹ năng nghiệp vụ tài chính, kinh nghiệm đầu tư. Đó chính là cái mà các
công ty chứng khoán và các nhà đầu tư cá nhân có thể học hỏi tiếp thu để quản lý
tốt hơn hoạt động kinh doanh chứng khoán cũng như các khoản đầu tư trên thị
trường.
1.2.2. Những tác động tiêu cực:
- Khác với thị trường hàng hóa bình thường, TTCK có tính “lỏng” cao và di
chuyển vốn đầu tư nhanh chóng. Nếu như không có các quy định chế tài phù
hợp, nhạy bén và linh hoạt trong xử lý các vấn đề phát sinh thì sẽ dẫn đến việc
rút vốn ồ ạt ra khỏi thị trường, gây khủng hoảng trên TTCK dẫn đến khủng
hoảng tài chính, kinh tế.
- Mặt khác, cơ chế vận hành của TTCK đã tạo ra môi trường hết sức thuận lợi
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

14
cho hoạt động đầu cơ phát triển. Các nhà đầu cơ thường lợi dụng triệt để các yếu
tố tiêu cực của thị trường CK để khai thác các mặt trái của nó và dẫn đến các
giao dịch chứng khoán không công bằng. TTCK là nơi phản ánh nhanh nhất các
thông tin về kinh tế, một khi TTCK bị chi phối bởi các nhà đầu cơ thì kết quả
thông tin mà TTCK cung cấp sẽ bị xuyên tạc làm mất tính khách quan chính xác
dẫn đến các quyết định sai lầm của người đầu tư và chính điều này làm cho nền

các NĐTNN ồ ạt rút vốn về nước khiến cho chứng khoán trên thị trường bị mất
giá nhanh chóng, tạo ra áp lực mất giá đồng nội tệ. Tiếp sau Thái Lan, TTCK
Hàn Quốc và một số nước khác cũng rơi vào trường hợp tương tự. Bài học kinh
nghiệm từ cuộc khủng hoảng kinh tế là nếu số lượng NĐTNN càng đông thì khả
năng họ rút vốn đồng loạt do một tác động nào đó có thể làm cho TTCK bị ảnh
hưởng nghiêm trọng và làm cho luồng vốn đầu tư nước ngoài bị chảy ngược, gây
nên suy thoái kinh tế và tác động xấu tới quá trình phát triển. Với Việt Nam, nợ
nước ngoài chủ yếu là nợ của chính phủ từ nguồn ODA với thời hạn chính là
trung và dài hạn, đầu tư chủ yếu của nước ngoài vào Việt Nam là đầu tư trực tiếp
FDI nên chưa có tiền đề cho việc di chuyển, tháo vốn nóng, ngắn hạn ra khỏi
Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay lượng vốn FII vào Việt Nam đã tăng nhanh, hiện
tượng tháo vốn có thể diễn ra và không thể chủ quan.
Tóm lại, việc tham gia của NĐTNN vào TTCK Việt Nam vừa có mặt tích
cực vừa có mặt tiêu cực, điều quan trọng là phải làm thế nào để hạn chế được mặt
tiêu cực và phát huy mặt tích cực một cách có hiệu quả nhất. Việc cho phép các
NĐTNN tham gia trên TTCK Việt Nam là cần thiết, các nước trên thế giới đều mở
cửa TTCK cho các NĐTNN tham gia và họ đã thành công. Việt Nam xây dựng
TTCK muộn hơn so với phần lớn các nước trên thế giới, do vậy chúng ta có thuận
lợi là có điều kiện học hỏi kinh nghiệm của các nước để từ đó đưa ra các biện pháp
hạn chế các tác động không tốt của NĐTNN đến TTCK Việt Nam.
1.3. KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC VỀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC
NĐTNN VÀO TTCK TRONG NƯỚC:
Trong giai đoạn xây dựng và vận hành TTCK, phần lớn các nước trên thế
giới đều đưa ra những chính sách cho phép NĐTNN tham gia vào TTCK với hình
thức và quy mô phù hợp với đặc điểm riêng của từng quốc gia. Vấn đề đặt ra không
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

16
phải có cho phép người nước ngoài đầu tư hay không mà là chính sách đối với
NĐTNN ra sao, quản lý các NĐTNN như thế nào để phát huy được những mặt tích

17
gián tiếp vào chứng khoán Quỹ tín thác.
- Tháng 12/1988: Hoàn chỉnh kế hoạch mở cửa thị trường vốn. Theo kế hoạch
này, bắt đầu từ tháng 12/1992, người nước ngoài được phép sở hữu 10% số cổ
phiếu của một công ty chứng khoán trong nước.
- Năm 1992: Cho phép người nước ngoài đầu tư với mức giới hạn tối đa là
10% và sau đó được nâng lên là 55% số cổ phiếu của một công ty.
- Năm 1998: Bỏ mức giới hạn tối đa, lý do là chính phủ muốn tăng cường thu
hút nước ngoài sau khủng hoảng tài chính châu Á.
- Sau thời kỳ phải gánh chịu những hậu quả trầm trọng của cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ châu Á, nền kinh tế Hàn Quốc đã được tái cơ cấu và nhanh
chóng phục hồi. Cũng chính vào thời gian này, TTCK Hàn Quốc đã quy định tỷ
lệ sở hữu khá rộng đối với các NĐTNN. Theo đó, các cá nhân và tổ chức nước
ngoài được phép mua tới 100% cổ phiếu đang lưu hành của bất cứ công ty niêm
yết nào. Tuy nhiên, cũng có một số ngoại lệ được áp dụng trên thị trường.
Thái Lan:
Tại Thái Lan, chính phủ cũng quy định một tỷ lệ khống chế sở hữu công ty
niêm yết. Các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức được sở hữu không quá 49% vốn cổ
phần của một công ty và 25% vốn cổ phần của một định chế tài chính Thái Lan. Một
số công ty có thể tự ý được phép áp đặt các tỷ lệ sở hữu dành cho người nước ngoài
thấp hơn hoặc bằng tỷ lệ quy định của nhà nước. Nói chung, người đầu tư nước
ngoài tại Thái Lan khá thất vọng vì các công ty thường hay hạn chế những cổ đông
nước ngoài. Tuy nhiên, NĐTNN không phải thực hiện bất cứ thủ tục xin phép nào
trước khi thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, Thái Lan đã mở rộng tỷ lệ sở hữu
cổ phiếu tại các công ty niêm yết của người nước ngoài lên 100%.
Ấn Độ:
Tại Ấn Độ, NĐTNN là tổ chức được sở hữu không quá 10% số cổ phiếu của
một công ty niêm yết, và tổng số các nhà đầu tư được sở hữu không quá 24% số cổ
phiếu (riêng một số ít công ty được phép sở hữu tới 30%). Mức sở hữu trái phiếu tối

cơ hội dành cho các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài ở Trung Quốc là khá hạn chế.
Ngoài việc mở cửa TTCK cho các NĐTNN, Trung Quốc còn cho phép các
công ty chứng khoán nước ngoài hoạt động tại thị trường nước này cũng như khuyến
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

19
khích các công ty chứng khoán và công ty niêm yết trong nước mở rộng phạm vi
hoạt động chứng khoán ra nước ngoài. Chính vì vậy, loại cổ phiếu H, N, L đã ra đời.
Cổ phiếu H được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hồng Kông, cổ phiếu N
được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán New York, còn cổ phiếu L thì được
niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán London. So với các quốc gia trong khu vực,
có thể nói đây là một bước hội nhập khá sớm của TTCK Trung Quốc.
Rõ ràng, việc phát hành riêng một loại cổ phiếu cho người đầu tư nước ngoài
đã giúp chính phủ Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ hơn việc đầu tư nước ngoài trên
TTCK, cũng như một phần trao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp trong việc tự cơ
cấu nguồn vốn cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh của mình bằng cách phát
hành một tỷ lệ cổ phiếu B thích hợp trong tổng lượng cổ phiếu phát hành trên thị
trường, nhằm thu hút được số vốn cần thiết mà không bị sự kiểm soát của nước
ngoài.
Việc niêm yết các cổ phiếu H, N và L trên TTCK nước ngoài không chỉ thu
hút nguồn vốn nước ngoài mà còn tạo ra sự quan tâm của các NĐTNN đối với Trung
Quốc, tạo nên danh tiếng và khả năng quốc tế hóa các công ty Trung Quốc và thúc
đẩy mạnh mẽ khả năng cạnh tranh của các công ty Trung Quốc trên thị trường thế
giới.
1.3.3. Cho phép đầu tư 100% vốn vào tất cả các công ty trong mọi lĩnh vực,
nhưng hạn chế đối với một số ngành nghề đặc biệt quan trọng
Trong xu thế toàn cầu hóa và mở cửa, hầu hết các nước đều cho phép các
NĐTNN sở hữu 100% số cổ phiếu của các công ty niêm yết trên TTCK. Tuy nhiên,
đối với một số ngành nghề, lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị,
quốc phòng, kinh tế của đất nước thì một mặt vẫn thu hút vốn đầu tư nước ngoài,

phát hành IPO.
Tại Bangladesh, các cá nhân và tổ chức đầu tư nước ngoài được phép mua
100% tổng số cổ phiếu của bất kỳ công ty niêm yết nào. Tuy nhiên, các NĐTNN chỉ
có thể đăng ký mua tối đa là một phần ba khối lượng phát hành của một đợt IPO.
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Có thể thấy quá trình vận động thu hút vốn đầu tư vào TTCK của các
nước khác nhau đều theo một xu hướng là mức độ mở cửa cho các nhà đầu tư nước
ngoài tham gia vào TTCK phụ thuộc vào nhu cầu vốn của nền kinh tế nói chung
cũng như tình hình phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng.
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

21
Trong quá trình xây dựng TTCK, các nước đang phát triển không nên ngăn
cản đầu tư nước ngoài mà phải tạo ra một khuôn khổ để TTCK hoạt động trong tầm
kiểm soát, phải chuẩn bị các công cụ của kinh tế thị trường để hoạt động của TTCK
đi vào quỹ đạo. Khi xây dựng TTCK, vấn đề an ninh kinh tế phải được đặt lên hàng
đầu. Nếu nền kinh tế còn non trẻ thì Nhà nước cần phải bảo hộ để tránh những cơn
bão “vốn” xuất xứ từ bên ngoài nước ập đến nhanh và thao túng cả thị trường vốn
trong nước. Khi TTCK đã phát triển ổn định, hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ,
thị trường đồng bộ thì quy chế dành cho người nước ngoài sẽ được nới lỏng, khi đó,
thị trường trở nên hấp dẫn và sôi động hơn hẳn, số lượng nhà đầu tư nước ngoài sẽ
ngày càng gia tăng. Cuối cùng, xu hướng mở cửa hoàn toàn thị trường, tức các
NĐTNN có thể sở hữu 100% vốn của các công ty niêm yết, là điều không thể tránh
khỏi. Tuy nhiên, cần quy định rõ ràng danh mục các ngành nghề mà NĐTNN không
được phép đầu tư.
Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, chúng ta có thể rút ra được một số bài học sau:
- Trong tiến trình chung của quá trình phát triển, TTCK đóng vai trò quan
trọng trong việc huy động vốn cho nền kinh tế. Bên cạnh việc phát huy nội
lực, Việt Nam cần khuyến khích sự tham gia của các NĐTNN nhằm thu hút

chứng khoán và TTCK thay thế cho nghị định 48/1998/NĐ-CP trước đây. Nghị định
này được xây dựng trên quan điểm khuyến khích đầu tư và xây dựng vốn nên đã có
những cải cách đáng kể bằng cách áp dụng một hệ thống các tiêu chuẩn và điều kiện
niêm yết linh hoạt hơn. Nghị định mở rộng việc bán chứng khoán ra công chúng và
cho phép đa dạng hoá các loại hình đầu tư để khuyến khích các nhà đầu tư từ các
nhà đầu tư nhỏ lẻ đến các nhà đầu tư có tổ chức trên TTCK.
2.1.1. Hàng hóa trên thị trường chứng khoán
Cùng với sự gia tăng về số lượng, chất lượng các loại hình dịch vụ và tiện
ích phục vụ người đầu tư cũng ngày càng được nâng cấp và đa dạng hóa. Các mô
hình đầu tư mới như quỹ đầu tư chứng khoán, hợp đồng mua lại trái phiếu, cổ phiếu
có kỳ hạn… cũng đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường, làm phong phú thêm hàng
hóa để người đầu tư lựa chọn.
2.1.1.1. Thị trường cổ phiếu
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

23
Tính đến hết tháng 8/2006, các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa là nguồn
cung ứng cổ phiếu chủ yếu cho nền kinh tế Việt Nam. Trong số 47 công ty cổ phần
hiện tại niêm yết trên TTCK thì có tới 36 công ty là các doanh nghiệp Nhà nước
được cổ phần hóa với tỷ lệ cổ phần do Nhà nước nắm giữ trung bình là gần 30%.
Phần lớn các công ty niêm yết đều có vốn điều lệ dưới 100 tỷ đồng, chỉ có 12 công
ty có vốn từ 100 tỷ đồng trở lên. Trong 8 tháng đầu năm 2006, UBCKNN đã cấp
giấy phép niêm yết cho 11 công ty với tổng số vốn điều lệ là 2.719 tỷ đồng. Giá cổ
phiếu trên thị trường đã có nhiều biến động từ tháng 3 đến tháng 8/2006. Nếu như
trong giai đoạn từ đầu tháng 2/2006 đến cuối tháng 4/2006, chỉ số VN INDEX tăng
mạnh, đạt mức cao nhất từ trước đến nay là 632,69 điểm vào phiên giao dịch ngày
25/4/2006 thì giai đoạn từ tháng 5 đến giữa tháng 7/2006, thị trường lại đảo chiều,
giá cổ phiếu giảm liên tục, VN INDEX chạm mức thấp nhất trong suốt 5 tháng là
399,8 điểm vào ngày 02/08/2006. Từ tháng 8 đến tháng 10/2006, thị trường đã hồi
phục trở lại và chỉ số VN INDEX khá ổn định xoay quanh 500 điểm.

KLCP
niêm
yết (CP)
32.117.840 82.129.560 182.092.900 294.093.980 427.680.371 619.430.571
782.963.092
Tốc độ
tăng
- 156% 122% 62% 45% 45%
26%
GTCP
niêm
yết (tỷ
đồng)
321,18 821,30 1.820,93 2.940,94 4.276,80 6.194,31
7.829,63
Tốc độ
tăng
156% 122% 62% 45% 45% 26%
Nguồn: TTGDCK TP. HCM

2.1.1.2. Thị trường trái phiếu:
Tính đến ngày 10/08/2005, toàn thị trường có 695 loại trái phiếu với tổng giá
trị niêm yết là 107.400 tỷ đồng.
Tuy nhiên, do phương thức phát hành sơ cấp nên việc giao dịch của các loại
trái phiếu này vẫn còn nhiều bất cập. Số lượng người nắm giữ trái phiếu ít, chủ yếu
tập trung vào các tổ chức tài chính, cộng thêm lãi suất thiếu linh hoạt, thiếu các tổ
chức tạo lập thị trường và các nhà đầu tư có tổ chức nên giao dịch của trái phiếu
Chính phủ và trái phiếu địa phương ở thị trường thứ cấp không sôi động, tính thanh
khoản thấp và không phát huy được vai trò chủ đạo định hướng cho thị trường công
cụ nợ.

niêm yết
13 49 143 207 323
695
Tốc độ
tăng
277% 192% 45% 56%
115%
Khối
lượng trái
phiếu niêm
yết (TP)
11.830.7
00
28.893.3
80
42.713.
380
116.543.3
80
217.529.
680
394.894.0
80
1.074.007.
690
Tốc độ
tăng
144% 48% 173% 87% 82%
172%
Giá trị trái

qua điện thoại, Internet… được các công ty chứng khoán đưa vào áp dụng ngày càng
nhiều, đem lại lợi ích thiết thực cho nhà đầu tư.
Học viên: Trần Hương Mỹ - Lớp TCDN&KDTT Cao học 12

Trích đoạn Cơ sở pháp lý cho hoạt động của NĐTNN trên TTCK Việt Nam Các giai đoạn thu hút vốn ĐTNN trên TTCK Việt Nam Sự tham gia của các tổ chức đầu tư nước ngoài vào TTCK Hệ thống các văn bản pháp luật còn bất cập và chưa chặt chẽ, năng lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status