Giải pháp thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 44

Lời Mở Đầu
1.sự cần thiết của đề tài.
TTCK là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại.Kinh
nghiệm của các quốc gia có nền kinh tế phát triển cho thấy thị trường chứng
khoán là bộ phận không thể thiếu được đối với sự phát triển kinh tế của một
nước,bởi vì nếu không xây dựng được một TTCK hoạt động có hiệu quả thì
không thể thực hiện được việc huy động vốn một cách linh hoạt các nguồn
vốn và không thể tiến hành đầu tư có hiệu quả để phát triển kinh tế đất
nước.Với vai tròlà 1 kênh huy động vốn cho tiến trình công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước,đáp ứng nhu cầu mạnh mẽ của đât nước trong thời kì hội
nhập và phát triển hiện nay..TTCK tạo ra nhiều cơ hội đầu tư va kinh doanh
co lời cho các chủ thể của nền kinh tế.Do đó mỗi quốc gia phải tự tạo cho
mình những hấp dẫn để thu hút đầu tư trong nước mà còn phải thu hút vốn
đầu tư ngoài nước .Đối với TTCK mà nói,các nhà ĐTNN là bộ phận hết sức
quan trọng không chỉ vì nguồn vốn khủng lồ mà họ đầu tư hàng năm,mà qua
việc đầu tư của họ ta có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu từ
nhưng nhà đầu tư chuyên nghiệp nay.
Chính vì thế để tạo ra những điểm hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước
ngoài chug ta không chỉ khuyến khích đầu tư là đủ mà còn phải nghiên cứu
xem đâu là những hạn chế đối với bộ phận các nhà đầu tư này để tư đó có
những biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện để họ dễ dàng hơn trong việc đầu
tư vào Việt Nam.
Để đưa những giải pháp tối ưu nhất chung ta phải có sự kết hợp đồng
bộ của nhiêu bộ phận trong đó có UBCKNN,sở giao dịch chứng khoán,bộ
tài chính,các công ty niêm yết,các nhà đầu tư trong nứơc…Đây la vấn đề hết
sức nhạy cảm và đòi hỏi trên cơ sở những cai cũ để tìm ra cai mới tốt hơn va
hấp dẫn hơn cái cũ.Đó chính là lý do em chọn đề tài “Giải pháp thu hút
nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam”.
2.mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở thực trạng hoạt động của TTCK Việt Nam
hiện cũng như các cơ chế,chính sách của nhà nước tác động vào

chứng khoán trung và dài hạn.Thực chất TTCK là nơi tập chung và phân
phối các nguồn vốn tiết kiệm,là định chế tài chính trực tiếp và là quá trinh
vận động của tư bản tiền tệ,chuyển tư bản tiền tệ từ tư bản sở hữu sang tư
bản chức năng.
1.1.2.chức năng củaTTCk.
Có nhiều quan điểm về chức năng cua TTCK theo nhiều tiêu thức và
đánh giá khác nhau.Tuy nhiên,nhìn chung TTCK có những chức năng chủ
yếu sau:
-TTCK là công cụ huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Với chức năng này TTCK cho phép các công ty hay chính phủ có thể
huy động vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu đầu tư phát triển,mở rộng sản xuất
kinh doanh,tạo thêm việc làm,tăng them sản lượng thông qua việc phát hành
các loại chứng khoán trên TTCK.
-TTCK là công cụ tăng tiết kiệm quốc gia.
Khi nền kinh tế phát triển,thu nhập quốc dân ngày càng tăng,người
dân thì quan tâm dần đến các hình thức đầutư tài chính gửi ngân hang,tiết
kiệm,đầu tư chứng khoán.TTCK đưa đến cho công chúng mới đa
dạng,phong phú phù hợp với từng loại đầu tư.
-TTCK cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán.
-TTCK co chức năng đánh giá giá trị tài sản cua doanh nghiệp và tình
hình nền kinh tế.
1.1.3.hàng hóa trên TTCK.
Hàng hóa trên TTCK bao gồm ba loại chủ yếu sau:
-Cổ phiếu:là 1 chứng thư xác nhận quyền sở hữu đối với tài sản và
vốn của công ty cổ phần,do đó no được coi như tài sản thực sự.
3
Người ta phân lọai cổ phiếu thành nhiều loại khác nhau tuy theo đặc
điểm của mỗi loại cổ phiếu thường,cổ phiếu ưu đãi,cổ phiếu vô danh,cổ
phiếu đích danh…
-Trái phiếu:là 1 chứng thư xác nhận 1 khoản nợ của 1 tổ chức phát

quyền sở hữu chứng khoán(CK);trung tâm đào tạo và hành nghề CK;hiệp
hội đầu tư CK;Hiệp hội kinh doanh CK;các tổ chức dịch vụ vi tính về CK.
4
1.1.5.cơ cấu củaTTCK.
-TTCK được tổ chức với các hình thức khác nhau,chủ yếu có hai
lọai,bao gồm thị trường sơ cấp va thị trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các CK mới phát hành,làm
tăng vốn cho nhà phát hành,thực hiện VK hóa cho nguồn vốn cần huy động.
Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán lại cho các CK đã phát hành
ở thị trường sơ cấp,ra đời nhằm mục đích tăng tính thanh khoản cho chứng
khoán và là nơi xác nhận định giá CK.
1.2.Nhà đầu tư và vai trò của nhà đầu tư trên TTCK.
Như đã nói ở trên,nhà đầu tư có thể là một pháp nhân hoặc một thể
nhân,đây là chủ thể đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của TTCK.Nhà đầu tư pháp nhân là một tổ chức được thành lập và hoạt
động theo luật pháp,họ có cơ cấu tổ chức chặt chẽ,có tài sản độc lập và tự
chịu trách nhiệm trước pháp luật và hành vi của minh.Họ bao gồm các quỹ
đầu tư,các công ty bảo hiểm tổ chức tin dụng…,Họ là những người có vốn
nhàn rỗi rất lớn và là những chuyên gia giỏi trong lĩnh vực đầu tư.Vì thế mà
các nhà đầu tư pháp nhân là những chủ thể quan trọng,quyết định quy mô và
sự ổn định của thị trường.Tuy mức độ tham gia là khác nhau và phương thức
cũng khác nhau nhưng mực đích cuối cùng vẫn là bảo toàn và kiếm lời.
Nhà đầu tư thể nhân bao gồm các cá nhân,các tổ chức kinh tế không
phải là pháp nhân,các tổ chức chính trị xã hội,các doanh nghiệp tư nhân…
Họ là những nhà đầu tư đông đảo nhất và có nguồn tiết kiệm khác lớn,là chủ
thể khá quan trọng và cũng là người đem lại sự sôi động cho thị trường.
1.3.những nhân tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư trên TTCK.
TTCK là sự phát triển bậc cao của thị truờng tài chính,mà thị truờng
tài chính là 1 nhân tố không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường,nó có mối
quan hệ mật thiêt với các lĩnh vực khác như chính trị,xã hội,văn hóa…đều

các nước bị đô hộ để thực hiện công cuộc phát triển của chính mình. Trong
thời kỳ này, đối tượng di chuyển chủ yếu là tài nguyên, nhiên liệu phục vụ
cho sản xuất và đời sống, hình thức di chuyển hầu hết mang tính “ bóc lột”.
Khi chủ nghĩa đế quốc sụp đổ, sự đô hộ của các nước đế quốc đối với các
nước thuộc địa không còn nữa, hình thức và đối tượng di chuyển của các
nguồn lực cũng có sự thay đổi. Nguồn lực di chuyển ở đây cũng phong phú
hơn, nó không chỉ dừng lại ở sức lao động và nguyên nhiên vật liệu mà còn
có công cụ sản xuất và kĩ thuật sản xuất. Hình thức di chuyển các nguồn lực
chủ yếu dưới dạng đầu tư nước ngoài - đầu tư giữa các quốc gia, khu vực với
nhau. Xu hướng di chuyển các nguồn lực cũng không còn theo một chiều từ
các nước bị đô hộ sang các nước đô hộ nữa mà đã xuất hiện chiều ngược lại
từ các nước tư bản phát triển sang các nước trước đây là thuộc địa, giữa các
nước tư bản phát triển với nhau.
Sự di chuyển nguồn lực phục vụ cho sản xuất kinh doanh nói riêng và phát
triển nền kinh tế nói chung diễn ra ngày càng sâu sắc; đa dạng về hình thức
di chuyển, phong phú về đối tượng di chuyển và đa phương về xu hướng di
chuyển. Các hình thức di chuyển được
thực hiện thông qua đầu tư quốc tế, viện trợ và hỗ trợ quốc tế, liên kết kinh
doanh. Đối tượng di chuyển là sức lao động, nguồn lực tài chính và đặc biệt
là kĩ thuật, công nghệ sản
6
xuất, quản lý kinh doanh. Xu hướng di chuyển được thực hiện giữa các nước
phát triển vớigiữa các nước phát triển và phát triển, giữa các nước đang phát
triển với nhau. Như vậy, trong suốt quá trình lịch sử phát triển kinh tế của
loài người luôn diễn ra hiện tượng di chuyển nguồn lực giữa các quốc gia,
các khu vực trên thế giới. Xét trên phương diện một quốc gia, thì sự di
chuyển các nguồn lực từ bên ngoài vào quốc gia đó gọi là nguồn lực bên
ngoài hay nguồn vốn nước ngoài. Như vậy, chúng ta có thể hiểu
nguồn lực bên ngoài hay nguồn vốn nước ngoài là tất cả những nguồn lực
nằm bên ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia được huy động vào quốc gia

2.Phân loại vốn nước ngoài
2.1 Phân loại dựa trên hình thức tồn tại của từng loại vốn .
Theo hình thức tồn tại nguồn vốn nước ngoài bao gồm hai loại chính:
hữu hình và vô hình.
a) Vốn nước ngoài tồn tại hữu hình
Vốn nước ngoài tồn tại hữu hình là tất cả các nguồn lực hữu hình bên ngoài
được huy động vào một quốc gia. Bao gồm:
- Vốn nước ngoài là các nguồn lực tài chính tồn tại dưới dạng các loại
tín dụng ( bao gồm tín dụng bằng tiền, hoặc tín dụng thương mại, lại vốn này
có thể là tiền mặt hoặc có thể là hàng hoá).
- Vốn nước ngoài là máy móc thiết bị và các công cụ phục vụ cho sản
xuất kinh doanh.
- Vốn nước ngoài là nguyên, nhiên liệu phụ cho sản xuất:
b) Nguồn vốn nước ngoài tồn tại vô hình
Nguồn vốn nước ngoài tồn tại vô hình là tất cả các nguồn lực vô hình bên
ngoài huy động vào một quốc gia. Bao gồm:
- Vốn nước ngoài là công nghệ sản xuất, quản lý, khoa học kĩ thuật, bí
quyết sản xuất kinh doanh.
- Danh tiếng, nhãn mác thương mại, uy tín kinh doanh ... : là các yếu
tố đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hoá của mình thông qua đó thúc đẩy sản xuất
phát triển.
- Vốn nước ngoài dưới dạng sức lao động, chất xám được huy động từ
bên ngoài vào công cuộc phát triển của một quốc gia: Kèm theo các dự án
sản xuất kinh doanh, kèm theo các chương trình phát triển của nước cung
cấp vốn nước ngoài là một đội ngũ chuyên gia,công nhân kĩ thuật cao ...
sang làm việc trực tiếp tại nước nhận, nước tiếp nhận nó có thểsử dụng
nguồn lực này cho công cuộc phát triển của mình.

2.2 Phân loại vốn theo hình thức di chuyển
Nguồn vốn nước ngoài có thể chảy vào một quốc gia dưới nhiều hình

nhân (bên nước ngoài khi xuất khẩu cho chịu tiền hàng một thời gian). Đối
với loại vốn này, bên nước ngoài không tham gia vào hoạt động của bên đi
vay và bên vay vốn có toàn quyền sử dụng khoản vốn này, bên chủ đầu tư
nước ngoài chỉ thu lợi nhuận qua lãi suất ngân hàng cố định theo khế ước
vay độc lập với kết quả kinh doanh.
- Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và khoản tài trợ có hoàn lại (cho
vay dài hạn với một số số thời gian ân hạn và lãi suất thấp) của chính phủ,
các hệ thống của tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ
chức tài chính quốc tế (như Ngân hàng thế giới WB, Ngân hàng phát triển
châu Á – ADB, Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF…) dành cho chính phủ và nhân
dân nước nhận viện trợ. Các cơ quan và tổ chức hỗ trợ pháttriển nêu trên
được gọi chung là đối tác viện trợ nước ngoài. Hình thức này luôn được các
chính phủ quan tâm vì tính chất của nó: cho không, cho vay ưu đãi, thời gian
ân hạn và đáo hạn dài, có cả chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý. Hạn
chế của hình thức này là các điều kiện áp đặt của các nhà tài trợ, tính hiệu
9
quả và bền vững của khoản vốn, có thể gây gánh nặng nợ nần cho tương lai
nếu không sử dụng có hiệu quả, có thể kèm các yếu tố chính trị, hối lộ…
Các hình thức chủ yếu của nguồn vốn ODA gồm hỗ trợ dự án, hỗ trợ phi
dự án, hỗ trợ cán cân thanh toán và tín dụng thương mại (là những khoản tín
dụng dành cho chínhphủ các nước sở tại với các điều khoản “mềm” về lãi
suất, thời gian ấn hạn, thời hạn trả dài
nhưng có những rằng buộc nhất định).
- Vốn nước ngoài dưới dạng đầu tư danh mục chứng khoán (FPI)
Đây là dạng đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán, các nhà đầu
tư nước ngoài bỏ tiền ra mua chứng khoán (gồm cổ phiếu, trái phiếu, và các
chứng từ phái sinh) để thu lợi nhuận thông qua cổ tức, trái tức hoặc chênh
lệch giá nhờ đầu cơ chứng khoán.
Nguồn vốn này đã và đang ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong hầu

nước ta là một nhu cầu cấp thiết.
Đến tháng 4 năm 1997 Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đi vào hoạt
động trên cơ sở Nghị định số 7/CP ngày 28/11/1996 của Chính phủ về việc
thành lập Uỷ ban chứng khoán nhà nước, chủ động thúc đẩy việc chuẩn bị
các điều kiện cần thiết để hình thành thị trường hứng khoán Việt Nam và
đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của nó ngay từ khi mới thành lập.
Sau một thời gian chuẩn bị, nghị định số 58/1998/NĐCP ngày
11/7/1998 của chính phủ về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán được
ban hành, làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán Việt
Nam. Đến tháng 7/2002, Trung tâm giao dịchchứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh khai trương và hoạt động theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ số
127/1998/QĐ-Ttg ngày 11/7/1998. Thị trường Chứng khoán Việt Nam chính
thức mở cửa..
Việc thị trường chứng khoán Việt Nam ra đã tạo thêm một kênh dẫn
vốn mới thu hút vốn đầu tư phục vụ công cuộc phát triển đất nước, góp phần
hoàn thiện hệ thống các thị trường tài chính và tạo lập đồng bộ các yếu tố
của một nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Thị trường
chứng khoán Việt Nam ra đời, ngoài việc phát huy nội lực tạo thêm một
kênh huy động vốn trung và dài hạn để bổ sung vào thị trường vốn, đáp ứng
11
yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước; nó còn giúp các doanh
nghiệp xây dựng chiến lược tài chính , có điều kiện tạo vốn và sử dụng vốn
thông qua kênh phát hành các loại chứng khoán trên thị trường, tạo thói quen
công khai hoá thông tin và báo cáo tài chính, cải tiến đổi mới phương thức
quản lý, tự lành mạnh hoá tình hình tài chính của mình. Thị trường chứng
khoán ra đời tạo cơ hội cho người đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư qua
chứng khoán thay vì gửi tiền tiết kiệm qua ngân hàng, mua ngoại tệ, vàng,
bất động sản. Thị trường chứng khoán cũng sẽ tạo điều kiện thúc đẩy và hỗ
trợ tích cực cho tiến trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở nước ta.
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và hoạt động cũng là một

trò của mình trong việc triển khai các nghiệp vụ môi giới, bảo lãnh phát
hành và tư vấn cho các công ty trong việc niêm yết và cung cấp thông tin
cho nhà đầu tư, thực hiện tốt các giao dịch chứng khoán trên thị trường.
- Xây dựng được một hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn về
hoạt động và quản lý thị trường, bước đầu đảm bao cho sự vậnhành của thị
trường diễn ra suôn sẻ, không gây những biến động lớn.
- Hoạt động quản lý, vận hành thị trường của Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước và Trung tâm Giao dịch chứng khoán đã có nhiều cải tiến và từng
bước hoàn thiện trên cơ sở rút kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn. Đã có
các giải pháp kịp thời, đảm bảo cho thị trường hoạt động ổn định, công
khai, công bằng và hiệu quả, không để xảy ra những hậu quả bất ổn đáng
tiếc.
- Các chủ thể tham gia TTCK và công chúng đầu tư đã dần làm với
một phương thức đầu tư mới với khoảng 14.500 nhà đầu tư, trong đó co hơn
90 nhà đầu tư có tổ chức và 35 nhà đầu tư nước ngoài, ngày càng tham gia
thị trường tích cực và hiệu quả hơn. Thông qua hoạt động của thị trường, các
công ty niêm yết, công ty chứng khoán tận dụng được những lợi thế mà thị
trường đem lại. Các công ty đã cải tiên phương thức hoạt động, công khai
hoá thông tin, nâng cao vai trò quản trị công ty, nhờ vậy mà vị thế và uy tín
của công ty được nâng lên.
- Đã đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ chứng khoán và thị trường cho đội
ngũ cán bộ quản lý, vận hành thị trường. Thực hiện đào tạo và cấp giấy phép
hành nghề cho các nhân viên kinh doanh của các Công ty chứng khoán và tổ
chức lưu ký. Ngoài ra, công tác đào
tạo và tuyên truyền, phổ biến kiến thức về TTCK đã luôn được chú trọng
và đóng góp đáng kể trong việc cung cấp kiến thức cơ bản cũng như hiểu
biết pháp luật về chứng khoán và TTCK cho công chúng.
- Hoạt động của TTCk cũng đã góp phần thúc đẩy tiến trình cổ phần
hoá doanhnghiệp nhà nước, gắn quá trình cổ phần hoá với niêm yết chứng
khoán trên TTCK. Từngbước hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng điều lệ mẫu

phục hồi trở lại mức chưa từng có kể từ khi nên kinh tế bị ảnh hưởng bởi
cuộc khủng hoảng Đông Á năm 1997. Sản xuất hàng tiêu dùng lâu bền như
vật liệu xây dựng nhà, ô tô, xe máy, và ti-vi khẳng định rằng mức tiêu dùng
đã tăng nhanh trong giai đoạn này.

Biểu đồ 2:Tỷ lệ tổng mức bán lể
Nguồn:Tổng cục thông kê(2002) và ước tính của ngân hang thế giới.
1.2.4. Đầu tư phát triển tăng
Việc nhiều doanh nghiệp mới được thành lập và niềm tin vững chắc
của các nhà đầu tư đã thúc đẩy việc đầu tư vốn và đưa con số những doanh
nghiệp đăng ký mới lên trên 50.000 ,trong vòng 2 năm qua.
Đến tháng 7-2002, vốn đầu tư từ những doanh nghiệp mới đã tăng
45%so với cùng kỳ năm trước. Riêng đầu tư của những doanh nghiệp mới
vừa và nhỏ trong khuvực kinh tế chính thức đạt 40 nghìn tỷ đồng ( tương
đương với khoảng 2,7 tỷ USD) trong năm2003, tức là gần 9% GDP. Tổng
đầu tư của khu vực nhà nước, kể cả từ nguồn ngân sách vàvốn của doanh
15
nghiệp vào khoảng mức 18% GDP năm 2002. tăng sản lượng lần lượt là
19% và 15%. Nguyên nhân của xu hướng này là tỷ lệ doanh
nghiệp mới được thành lập đạt mức cao trong năm 2002.
1.2.5. Cơ cấu nền kinh tế dịch chuyển theo hướng kinh tế thị trường
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong nước tiếp tục dẫn đầu về tăng
trưởng. Ngành
chế biến tiếp tục tăng mạnh với khu vực tư nhân trong nước và đầu tư nước
ngoài đạt tỷ lệ với mức tăng sản lượng 12% năm sau so với năm trước, sản
xuất công nghiệp của khu vực nhà nước có khiêm tốn hơn. Điều này phản
ánh sự chuyển dịch dần dần của Việt Nam sang kinh tế thị trường, nhiều
doanh nghiệp nhà nước ngày càng phải đứng trước áp lực cạnh tranh và việc
hạn chế ngân sách cứng rắn hơn. Giá trị gia tăng trong khu vực tư nhân đã
vượt khu vực nhà nước, ít nhất kể từ năm 1997.

cung cấp thông tin cho công chúng đầu tư, chính điều này phần nào ảnh
hưởng đến lòng tin và quyết định tham gia thị trường của người đầu tư.
- Hoạt động của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, còn hạn chế về mô hình
tổ chức và trình độ kỹ thuật. Do TTGDCK là một đơn vị sự nghiệp có thu
trực thuộc UBCKNN kiêm thêm chức năng lưu ký, đăng ký, thanh toán bù
trừ chỉ phù hợp trong giai đoạn đầu của thị trường. Về lâu dài, Trung tâm
giao dịch cần phải được tổ chức lại theo hướng nâng cao tính tự chủ trong
việc tổ chức vận hành hoạt động của thị trường. Bộ phận
lưu ký, đăng ký, thanh toán cần hải được tách biệt thành một trung tâm độc
lập, có chức năng chuyên trách để có thể phát triển theo hướng chuyên sâu
và mở rộng qui mô hoạt
động. Về năng lực kỹ thuật, hệ thống giao dịch hiện nay của TTGDCK chỉ là
hệ thống bán tự động với mạng cục bộ, năng lực hoạt động còn hạn chế,
mức độ tự động hoá của các hệ
thống còn thấp dẫn đến công suất và hiệu quả chưa cao và khó khăn trong
việc thực hiện chức năng giám sát thị trường. Hệ thống công bố thông tin thị
trường hiện nay tuy đã cung
cấp được một số thông tin về giá, khối lượng chứng khoán giao dịch hàng
ngày, tuy nhiên lượng thông tin cung cấp một mặt chưa đáp ứng nhu cầu của
các đối tượng tham gia thị trường, đặc biệt là các thông tin về Công ty niêm
yết, thông tin về quản lý thị trường.
1.3.2. Tỷ lệ chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư còn khá lớn
Điều này cho thấy nền kinh tế phát triển phụ thuộc khá nhiều vào vốn
vay nước ngoài. Tỷ lệ tiết kiệm dù có gia tăng nhanh chóng nhưng còn thấp
hơn rất nhiều so với tỷ lệ tiết kiệm tại một số quốc gia láng giềng trong khu
vực Mức tăng trưởng tiết kiệm quốc gia tăng kỷ lục trong năm 1999 có thể
sẽ không duy trì được. Lý do là sự lo lắng về mức tăng trưởng kinh tế sau
cuộc khủng hoảng Châu Á khiến cho người dân tiết kiệm nhiều hơn trong
năm 1999; nhưng những dự đoán về khả năng hồi phục mạnh từ năm 2000
sẽ khiến mức tiết kiệm của dân chúng giảm đi. Hơn nữa, các số liệu về tiết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status