TIỂU LUẬN: Tìm hiểu mối quan hệ giữa phân công lao động xã hội và xã hội hoá sản xuất qua một số tác phẩm thời kỳ đầu của Mac - Pdf 11

TIỂU LUẬN:

Tìm hiểu mối quan hệ giữa phân công lao
động xã hội và xã hội hoá sản xuất qua
một số tác phẩm thời kỳ đầu của Mac

Lời mở đầu

Phân công lao động xã hội chính là sự chuyên môn hoá sản xuất trong
phạm vi xã hội. Trong các xã hội cũ, phân công lao động xã hội diễn ra có tính tự
phát, còn trong xã hội chủ nghĩa, phân công lao động xã hội được tiến hành một
cách tự giác.
Phân công lao động xã hội phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản


Chương I
Phân công lao động xã hội cơ sở tiền đề xuất phát của sức sản xuất

Phân công lao động xã hội là biểu hiện của sự phát triển của lực lượng sản
xuất xã hội C.Mac nói "trình độ phát triển lực lượng sản xuất của một dân tộc bộc
lộ rõ ràng nhất ở trình độ phát triển của sự phân công lao động", và cho rằng "phân
công là hình thức cơ bản của nền sản xuất xã hội", đồng thời cũng là một hình thức
cơ bản của nền sản xuất xã hội. Phân công lao động có tác dụng mạnh mẽ đối với
sản xuất, thúc đẩy kỹ thuật sản xuất phát triển, trước hết là thúc đẩy sự cải tiến của
công cụ sản xuất, nâng cao năng suất lao động Mác nói: "…sức sản xuất của lao
động nhất thiết phụ thuộc chủ yếu vào…sự phân công lao động", "sự phân công
lao động đó làm cho người ta có thể sản xuất nhanh hơn do đó cũng rẻ hơn". Phân
công lao động xã hội gắn liền chặt chẽ với công cụ sản xuất. Khi nền sản xuất mới
xuất hiện thì phân công lao động xã hội cũng phải đạt được trình độ tương ứng với
nền sản xuất ấy. Đó là một tất yếu khách quan, một yêu cầu cấp bách của bản thân
nền sản xuất xã hội. "Do nền công nghiệp lớn, nên việc xoá bỏ sự phân công cũ đã
trở thành một điều kiện của bản thân nền sản xuất".
Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" chỉ rõ: …"Mối quan hệ giữa các dân
tộc khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát triển của các dân tộc về các mặt lực
lượng sản xuất, phân công lao động và mối quan hệ bên trong. Nguyên lý đó được
mọi người thừa nhận. Tuy nhiên không chỉ riêng mối quan hệ của một dân tộc với
các dân tộc khác, mà cả toàn bộ kết cấu bên trong của chính dân tộc đó cũng phụ
thuộc vào trình độ phát triển của sản xuất của nó và của mối quan hệ bên trong và
bên ngoài của nó. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một dân tộc bộc
lộ rõ rệt nhất ở trình độ phát triển của sự phân công lao động. Bất cứ sức sản xuất
mới nào trong chừng mực không phải chỉ là một sự mở rộng đơn thuần về số
lượng của những lực lượng sản xuất mà cho đến lúc đó người ta đã biết (sự khai
phá đất đai mới chẳng hạn), thì cũng đều mang lại kết quả là sự phát triển thêm sự
phân công lao động xã hội"…

xuất với tư cách là một hệ thống hữu cơ, thì xã hội hoá sản xuất trực tiếp gắn liền
với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất lớn trong lịch sử.Từ đó có thể hiểu: xã
hội hoá sản xuất là sự liên kết nhiều quá trình kinh tế riêng biệtt hành quá trình
kinh tế xã hội, tồn tại hoạt động và phát triển liên tục như một hệ thống hữu cơ. Đó
là quá trình kinh tế khách quan phù hợp với trình độ phát triển cao của lực lượng
sản xuất, phản ánh xu thế phát triển tất yếu mang tính chất xã hội của sản xuất.
Việc tạo nên những tổ chức, những quan hệ kinh tế mới đáp ứng yêu cầu và phản
ánh quá trình kinh tế khách quan kể trên là sự xã hội trên thực tế.
Xã hội hoá sản xuất là quá trình kinh tế khách quan của sự phát triển tính xã
hội hoá của sản xuất. Sự vận động và phát triển của xã hội hoá sản xuất được quy
định bởi sự phát triển biện chứng giữa lực lượng sản xuất xã hội và quan hệ sản
xuất xã hội. Xã hội hoá sản xuất được biểu hiện ở trình độ phát triển của phân
công và hiệp tác lao động. Phân công lao động phát triển cùng với sự phát triển
của lực lượng sản xuất xã hội, phân công lao động tạo ra sự trao đổi và hợp tác lao
động. Hình thức đầu tiên, đơn giản nhất là hiệp tác giản đơn. Với hình thức này
lần đầu tiên lao động được xã hội hoá, "người lao động, tổng hợp" xuất hiện. Tiếp
đến là sự phân công trong công trường thủ công gắn liền với sự chuyên môn hoá
công cụ thủ công dựa trên tay nghề của người lao động. Máy móc ra đời là một
nấc thang mới của sự phát triển lực lượng sản xuất, là nền sản xuất dựa trên lao
động cơ khí, khi mà hiệp tác lao động thực sự trở thành "tất yếu kỹ thuật" lấy máy
móc làm chủ thể. Đến lượt mình, đại công nghiệp cơ khí thúc đẩy sự phân công
lao động và hiệp tác lao động lên trình độ mới cao hơn.
Xã hội hoá sản xuất biểu hiện ở mối quan hệ giữa các ngành, các vùng, các
khu vực ngày càng cao và chặt chẽ. Mối liên hệ này không chỉ diễn ra trên lĩnh
vực lưu thông mà còn diễn ra trong lĩnh vực đầu tư, hợp tác khoa học - công nghệ,
phân công và hợp tác sản xuất dưới các hình thức liên doanh, liên kết phong phú
đa dạng. Sự liên kết này có tính liên kết xí nghiệp, liên ngành và liên quốc gia.

lớn, tính chất xã hội hoá của sản xuất càng cao.
chương III
Mối quan hệ giữa phân công lao động
và xã hội hoá sản xuất

Sự phân công lao động bên trong một dân tộc trước hết đưa tới sự tách rời
giữa một bên là lao động công nghiệp và thương nghiệp và một bên là lao động
nông nghiệp, và do đó đưa tới sự tách rời giữa thành thị và nông thôn và sự đối lập
quyền lợi của hai bên. Sự phát triển sau này của nó dẫn tới sự tách rời giữa lao
động thương nghiệp với lao động công nghiệp. Đồng thời do sự phân công lao
động bên trong các ngành khác nhau, nên sự phân công giữa những cá nhân cùng
lao động với nhau trong một ngành lao động cũng ngày càng tỉ mỉ thêm. Mối quan
hệ lẫn nhau giữa những sự phân công tỉ mỉ đó là do phương thức kinh doanh lao
động nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp quyết định. Những mối quan hệ
như thế cũng xuất hiện khi sự giao tiếp đã phát triển hơn trong sự liên hệ giữa các
dân tộc khác nhau.
Trong mối quan hệ giữa phân công lao động và xã hội hoá sản xuất được
thể hiện ở chỗ: Phân công lao động là cơ sở, tiền đề xuất phát của sức sản xuất.
Còn xã hội hoá sản xuất có vai trò phát triển sức sản xuất.
Quá trình phân công lao động và xã hội há sản xuất là hai mặt không tách
rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cáhc biện chứng. Phân công lao động là cơ
sở tiền đề xuất phát của sức sản xuất, được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng
sản xuất. Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ
chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ của lực
lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ của công cụ lao
động, trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người, trình độ tổ chức
và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất. Sự phát

Chương IV
Quán triệt và vận dụng những quan điểm của mác
về liên hệ giữa phân công lao động và xã hội hoá
sản xuất trong thời kỳ đổi mới của đảng ta

Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh theo con đường xã hội chủ
nghĩa, điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế xã hội, phải
xây dựng một nền kinh tế xã hội thật tiên tiến. Muốn vậy một trong vấn đề đảng và
nhà nước ta phải quán triệt đó là vận dụng quan điểm của Mac về mối liên hệ giữa
phân công lao động và xã hội hoá sản xuất trong thời kỳ đổi mới.
Xã hội hoá sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất được coi là nhiệm vụ
trọng tâm của thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, phát triển lực lượng sản xuất. Công nghiệp hoá hiện đại hoá là quá
trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội từ sử dụng sức
lao động thủ công là chính sang việc sử dụng một cách phổ biến sức lao động với
khoa học và công nghệ hiện đại tiên tiến, tạo ra năng suất lao động cao. Đây là
nhiệm vụ có tính quy luật của sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở những nước kinh tế
lạc hậu. Tuy nhiên, chiến lược, nội dung, hình thức, bước đi, tốc độ, biện pháp còn
phụ thuộc vào quá trình phân công lao động và xã hội hoá của đất nước.
Xây dựng một xã hội có quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Và trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta, chế độ sở hữu tất yếu phải đa dạng, cơ cấu kinh tế tất yếu phải có nhiều
thành phàn: kinh tế Nhà nước; kinh tế cá thể và tiểu chủ; kinh tế hợp tác mà nòng
cốt là hợp tác xã; kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài. Đường lối phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần có ý
nghĩa chiến lược lâu dài, có tác dụng to lớn trong việc động viên mọi nguồn lực cả
bên trong lẫn bên ngoài, lấy nội lực làm chính để xây dựng kinh tế phát triển lực

hoá.
Kết luận

Sự phát triển kinh tế thị trường là sự thể hiện xã hội hoá sản xuất và trình
độ xã hội hoá sản xuất cao do kinh tế thị trường tạo ra đòi hỏi phải có sự quản lý
của Nhà nước để giải quyết mối quan hệ giữa phân công lao động xã hội và xã hội
hoá sản xuất. Phân công lao động xã hội phản ánh trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất. Còn tính xã hội hoá của sản xuất từ thấp đến cao gắn liền với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Do đó quá trình xã hội hoá sản xuất phải phù
hợp với sự phân công lao động xã hội để từ đó mở đường cho lực lượng sản xuất
phát triển. Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế thì Đảng và Nhà nước ta phải
quán triệt và vận dụng những quan điểm của Mác về mối quan hệ giữa phân công
lao động xã hội và xã hội hoá sản xuất. Điều này đã được thể hiện trong chủ
trương, đường lối của Đảng qua các kỳ đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX và Hội nghị
lần thứ IX của ban chấp hành trung ương Đảng.
Tài liệu tham khảo

- C.Mac và Ph.Ăng ghen, Hệ tư tưởng Đức, NXB sự thật, Hà Nội 1962,
tr11, 25, 28, 78.
- C.Mác, Tư bản, NXB Sự thật, Hà Nội 1960, Q.I tập II, tr147, 150, 174,
180.
- C.Mác, tiền công, giá cả và lợi nhuận, NXB Sự thật, Hà Nội 1970, tập I,
trang 509.
- C.Mác và Ph.Ăng ghen, tuyển tập, NXB sự thật, Hà Nội 1971, tập II.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status